Month: September 2021

Ai không chống đối các con là ủng hộ các con

Với chủ đề các bài đọc Kinh Thánh hôm nay, chúng ta cùng chia sẻ lời dạy của Chúa để loại bỏ óc bè phái, kỳ thị và loại trừ những người không thuộc phe nhóm của mình.

Bài đọc I cho thấy ông Giô-su-ê khó chịu khi thấy hai người kỳ mục không đến Lều Thánh mà lại nói tiên tri. Ông bảo Mô-sê ngăn cấm hai người ấy. Nhưng Mô-sê chẳng những không ngăn cấm mà còn nói: “Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ”. Còn trong bài Tin mừng, bối cảnh xẩy ra là có một số người không thuộc nhóm 12 tông đồ mà cũng nhân danh Đức Giêsu để trừ quỷ. Ông Gioan khó chịu, xin Chúa: “Lạy Thầy, chúng con thấy có kẻ nhân danh Thầy mà trừ quỷ, kẻ đó không theo chúng ta, và chúng con đã ngăn cấm y”.  Đức Giêsu chẳng những không cấm họ mà còn sửa dạy các môn đệ mình với câu nói đáng để suy gẫm: “Ai không chống lại ta thì thuộc về ta”.

Như vậy Ông Mô-sê và Chúa Giê-su đã đưa ra một bài học về sự bao dung và rộng lượng với tất cả những ai khác biệt với mình, nên có thể nói Chúa nhật hôm nay là dành cho việc cầu nguyện và cổ võ tinh thần đại kết các tôn giáo và tôn trọng sự khác biệt giữa con người.

Áp dụng vào đời sống hôm nay, chúng ta thấy  phản ứng của tông đồ Gioan trong bài Tin mừng biểu lộ phản ứng của những người bảo thủ, những người đóng cửa lòng với người khác, những người mà như Gioan nói là “không thuộc về nhóm chúng ta”. Tư tưởng này cám dỗ người ta mang trong mình óc bè phái cục bộ, chỉ biết phe nhóm mình và loại trừ những người không cùng phe nhóm  với mình. Tuy nhiên, lời Chúa Giê-su giúp cho những ai muốn theo Ngài đi đúng nẻo chính đường ngay: “Đừng ngăn cấm, vì chẳng ai có thể nhân danh Thầy mà làm phép lạ, rồi liền đó lại nói xấu Thầy. Ai chẳng chống đối các con, là ủng hộ các con.” Vâng, Chúa Ki-tô muốn chữa cái căn bệnh xẻn xo và cái nhìn quá hạn hẹp thường hay xuất hiện trong tâm lòng con người mọi thời đại.

Quả vậy, óc ganh tỵ và bè phái thường có ở những ai muốn đóng cửa hơn là mở rộng cửa với người khác chỉ vì:

  • Người ta khó chịu bực bội khi thấy người khác cũng làm được một việc hay việc tốt như mình hoặc còn hay hơn, tốt hơn mình,
  • Hay người ta ganh tỵ với người không thuộc nhóm hay hội đoàn với mình,
  • Hoặc là người có đạo ganh tỵ với người không có đạo khi những người không có đạo làm được những điều hay điều tốt.

“Mở ra” hay “đi ra” là động từ mà Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã dùng trong tông huấn Niềm vui của Tin mừng để cho thấy sứ mạng rao giảng Tin mừng của người tín hữu hôm nay. Sự đi ra này làm biểu lộ một trong bốn đặc tính của Giáo Hội, đó là đặc tính “Công Giáo”. Đức Giê-su chính là hình mẫu của người công giáo điển hình, là người của mọi người và đến với tất cả mọi người. Nơi Ngài biểu lộ hình ảnh một Thiên Chúa đã “khiến mặt trời mọc lên cho người lành kẻ dữ, và cho mưa xuống trên người liêm khiết và kẻ bất lương”. Vâng, chính Chúa đã bảo vệ người phụ nữ ngoại tình khỏi bị ném đá; chính Chúa đã dỡ bỏ hành rào của lề luật để đến với những người cùi hủi, ngồi ăn đồng bàn với những người tội lỗi, gần gũi những người thu thuế, gái điếm và ngoại giáo…

Vì một Giáo Hội phải “đi ra” mà trong thông điệp Ecclesiam suam – Con đường của Hội Thánh, Chân phước Giáo hoàng Phao-lô VI cũng đã viết: “Giáo hội phải sẵn sàng duy trì một cuộc đối thoại mở ra với tất cả mọi người có lòng thành tâm thiện chí dù họ thuộc về hay không thuộc về Giáo Hội. Không ai bị  loại trừ khỏi con tim của Giáo Hội. Không ai bị đối xử như là kẻ thù đối với Giáo Hội”.  Khi nói lên tinh thần đó, chính Đức Thánh Cha đã thực hiện một cuộc “đi ra” khi Ngài đã ra khỏi Roma, đến gặp Đức Thượng Phụ Athanagoras, để giúp cho hai Giáo Hội Cộng Giáo và Chính Thống Giáo tháo cởi vạ tuyệt thông để chia sẻ tình anh em cùng một Cha trên trời.

Đức cố chân phước Giáo hoàng Gioan XXIII cũng sánh ví sự cởi mở của  Giáo hội giống như một cái giếng nước đầu làng, để mọi người từ thế hệ này qua thế hệ khác tới đó lấy nước. Mọi người đều đi qua cái giếng này và lưu lại đó. Giếng nước không phân biệt người tốt hay người xấu, người thân thiện hay người khó tính, người giàu sang hay người hèn kém, nhưng nó đón tiếp tất cả mọi người với tất cả sự quảng đại của nó. 

Sự “đi ra” không đòi buộc chúng ta chối bỏ căn tính Ki-tô giáo của mình nhưng ngược lại nó củng cố danh hiệu ki-tô hữu của chúng ta, không phải bằng sự đối đầu nhưng là bằng sự đối thoại. Đối thoại để hiểu biết, để được hoàn thiện và được phong phú hơn. Khi mà ta đến với người khác, dù họ là những người không cùng niềm tin, không cùng giáo lý, hoặc họ là người vô thần, hay theo một tôn giáo khác,  ta vẫn khám phá được nơi họ những viên ngọc của một đời sống nhân bản và thiêng liêng cao quý.

Dù ở ngoài Giáo Hội, thì ơn cứu độ vẫn đầy tràn bởi vì có rất nhiều người đang góp phần xây dựng một thế giới tình yêu khi họ đang góp phần chống lại sự xấu, chống lại bệnh tật, chống lại những thành kiến và phân biệt. Vẫn luôn có đó những con người đang làm việc trong tình thần huynh đệ và hiệp nhất để xây dựng nền hòa bình và công lý.

Chúa Thánh Thần vẫn đang hoạt động trong lòng thế giới và không ai có đặc quyền giữ riêng cho mình nguồn ân sủng vì Chúa Thánh Thần tự do như gió, mà gió thì muốn thổi đâu thì thổi, không ai biết gió từ đâu và sẽ đi đâu.

Đừng ganh tỵ, đừng giữ đầu óc bè phải, đó là điều Chúa Giê-su Ki-tô hôm nay mời gọi mỗi chúng ta. Vậy mỗi chúng ta hãy cố gắng sống theo tinh thần Tin mừng để quảng đại mở lòng mình ra sống chan hòa với mọi người, cùng với mọi người thực hiện những việc tốt, những việc làm có ích cho tha nhân và cho xã hội hôm nay. Amen.

Yêu thương và phục vụ

Từ khi trở thành người kế vị Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Phanxicô liên tục gây bất ngờ cho công chúng bởi những hành động giản dị và khác thường. Ngài từng rửa chân cho 12 tù nhân trẻ, tặng tiền cho một người phụ nữ tại Rome sau khi kẻ gian lấy ví của bà trên xe bus, gọi điện thoại cho những tín hữu đang tuyệt vọng để động viên, mời những người vô gia cư ăn bữa tối tại quảng trường Thánh Phêrô, ôm hôn người đàn ông có gương mặt quỷ. Có lần trong lúc thuyết giảng trước khoảng 150.000 người,  có một cậu bé đã chạy lên sân khấu và ngồi vào ghế dành cho ngài, ngài đã xoa đầu đứa bé và để cậu bám vào chân ngài trong lúc ngài diễn thuyết…

Tất cả những hành động đó biểu lộ sự khiêm nhường, đức tính giản dị, hành động vị tha và tấm lòng trắc ẩn của Đức Thánh Cha và đã làm cho không chỉ các tín hữu mà mọi người trên thế giới ngưỡng mộ Ngài.

Chứng tá của tình yêu thương và phục vụ này giúp chúng ta cảm nghiệm rõ ràng hơn lời dạy của Chúa Giê-su trong bài Tin mừng hôm nay.

Quả vậy bài Tin mừng cho chúng ta thấy sau khi Chúa Giê-su loan báo cho các Tông đồ về cuộc khổ nạn và cái chết mà Người sẽ lãnh nhận, Chúa Giê-su đã bước đi một mình trước các tông đồ, còn các ông thì theo sau Người. Các tông đồ không hỏi Đức Giê-su câu nào,  các ông không chấp nhận số phận của Thầy Giê-su vì lẽ các ông có những toan tính khác.

Thánh Mác-co miêu tả các tông đồ đi theo sau Chúa,  và bàn tán với nhau về những điều chẳng liên quan đến điều thầy họ vừa nói. Điều các ông quan tâm là “ai sẽ là người lớn nhất trong vương quốc mà thầy họ sẽ tái lập”.

Nhận thấy cái cảnh “đồng sàng dị mộng” như thế, Chúa Giê-su mới hỏi các ông: các con tranh luận với nhau gì vậy? Câu hỏi có vẻ như Chúa Giê-su hỏi các ông cho có, và câu hỏi này như muốn đánh động lòng trí các ông hơn là muốn biết điều mà các ông tranh luận, bởi vì Chúa biết rõ các ông đang tranh cãi điều gì rồi. Và quả thế, các ông đã im lặng, im lặng vì họ biết Thầy Giê-su đang đi guốc trong bụng họ, và thấy được cái tham vọng mà họ đang ấp ủ: đó chính là cái khát vọng được làm lớn, cái khát vọng của quyền lực thống trị.

Mặc dầu đã từ bỏ tất cả để đi theo Chúa Giê-su, nhưng lúc này, các ông lại mơ tới cái vị trí được thống soái vương quốc để cùng nhau chia chác bổng lộc vật chất, các ông muốn bù đắp lại nhiều hơn khi được thống trị thiên hạ. Uớc mơ như thế của các ông rất tự nhiên, bởi vì trong mọi xã hội nhân loại, cũng như trong thế giới động vật, vẫn luôn còn đó cái luật được gọi là “ luật rừng” tức là cái luật: cá lớn nuốt cá bé, cái luật của kẻ mạnh luôn thống trị kẻ yếu.

Chúa Giê-su không đi theo cái luật này, ngài đến để lật đổ cái “lo-gíc của cái “luật rừng” này. Vâng, kính thưa cộng đoàn, Ngài đặt một đứa trẻ giữa các tông đồ, ôm nó vào lòng để dạy các ông bài học phục vụ: “Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy”.

Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy là đón tiếp chính mình Thầy… “Trẻ nhỏ”  là hình ảnh của những người không quan trọng, không đáng kể, không cần lưu ý ; họ là những người nghèo hèn, tàn tật, bị bỏ rơi. Đức Giêsu muốn đồng hóa với những con người bất hạnh ấy, để khi đón tiếp họ, người môn đệ của Chúa hoàn toàn vô vị lợi, vì không mong chờ sự đáp trả của những kẻ khốn khổ ấy, và như thế cái vị trí của họ không phải là làm lớn để ăn hiếp người bé, nhưng là làm người phục vụ tất cả mọi người.

Hôm nay, Chúa Giê-su đã vén mở cho chúng ta cái màu nhiệm cao vời của Thiên Chúa. Sức mạnh của Ngài, sự vĩ đại của Ngài không phải là thống trị kẻ khác, nhưng là để phục vụ con người. Như thế, Chúa Giê-su đã hoàn toàn tự do tiến bước trên hành trình đau khổ, hành trình thập giá và Chúa thực sự đã tự hiến mình để làm người tôi tớ cho mọi người, làm người phục vụ mọi người. Thập giá là bằng chứng cụ thể cho thấy sự tự hiến và phục vụ này của Chúa. Vâng, tự thân, Chúa luôn là Người đầu, là Người lớn nhất…nhưng chính trong sự phục vụ, chính trong tình yêu thương mà Chúa trở nên Vô địch vì Ngài chính là Tình yêu tối hậu, chính là sự Phục vụ tối hậu.

Trở lại với chứng tá của Đức Thánh Cha Phanxicô, chúng ta nhận thấy Đấng kế vị thánh Phêrô của chúng ta đã không làm gì khác thường trước mắt mọi người, và nếu có khác thường trước mắt mọi người thì chỉ vì Ngài đã làm những gì mà Chúa Giê-su dạy các tông đồ khi xưa và những ai chọn đi theo Người: Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người. Đức Thánh Cha đã khiêm nhường sống lời dạy của Chúa Giê-su để trở nên người “ tôi tớ của các tôi tớ”, và làm nên chứng tá của tình yêu thương và phục vụ.

Như cảm nghiệm của một nhà truyền giáo: người hạnh phúc nhất trong anh em là người đã tìm thấy con đường hiến thân phục vụ”, xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết dùng quyền hạn của mình để phục vụ những người mà Chúa trao phó, bằng những thao thức và mong muốn làm mọi điều tốt lành cho họ để họ và chính chúng ta được an vui và hạnh phúc mỗi ngày một hơn. Amen.

Ai liều mạng sống vì Ta sẽ cứu được mạng sống

Đoạn Tin mừng của thánh Macco cho thấy hành trình rao giảng công khai của Chúa Giê-su cho tới thời điểm này đã thu hút rất đông dân chúng theo Ngài ở Galilea, tại các miền Tia và Si-đôn và trong Miền Thập Tỉnh, vùng đất của dân ngoại nằm ở phía đông biển hồ Giê-nê-gia-rét.

Trong bối cảnh đó, Đức Giêsu dò hỏi các môn đệ xem dư luận nghĩ sao về Ngài. Các môn đệ đã phản ảnh với ngài rằng có nhiều dư luận hơi khác nhau, nhưng tựu trung mọi người đều nghĩ Ngài là một ngôn sứ. Phần Phêrô thì lên tiếng nói thay cả Nhóm 12 tuyên xưng niềm tin : “Thầy là Đức Kitô”.

Tuy nhiên thì Chúa Giê-su đã hoàn toàn ý thức được sứ mạng của mình và tiên báo về cuộc chịu nạn mà ngài sẽ phải chịu. Chúa tiên báo vì Chúa biết rõ sứ mạng giải phóng con người mà Chúa thực hiện qua lời giảng dạy và hành động, đã làm cho nhiều người thấy chói tai, đặc biệt là các biệt phái và luật sỹ, các người lãnh đạo chính trị và tôn giáo. Sự giải phóng con người đã đụng đến truyền thống và luật lệ làm ảnh hưởng tới chỗ đứng của họ như:

  • Chữa bệnh trong ngày Sabbat
  • Ăn uống với những người tội lỗi
  • Bảo vệ người phụ nữ ngoại tình
  • Đụng đến những người cùi hủi
  • Đến thăm và ăn uống tại nhà Mát-thêu và nhà ông Gia-kêu, những người thu thuế cho đế quốc Roma v.v…

Chính vì sứ mạng giải phóng con người bằng tình yêu này mà Chúa Giê-su đã tự nguyện đi vào con đường đau khổ, con đường mà người đời khó chấp nhận, ngay cả Phêrô, người vừa đại diện nhóm 12 tuyên tín Thầy là Đấng Ki-tô cũng đã can ngăn Chúa.

Con đường đau khổ này chính là con đường thập giá: bị bắt,  bị lột áo, bị đánh đòn và mang trên mình những thương tích của sự tra tấn và để người ta chế nhạo, sỉ vả và cuối cùng là cái chết nhục nhã trên cây thập giá.

Nhờ vào cuộc khổ nạn của Chúa mà cây thập giá từ biểu tượng của lòng hận thù và sự tàn bạo, đã trở nên biểu tượng chiến thắng của tình yêu. Các lãnh đạo tôn giáo ở Giuđêa đã kết án tử Chúa Giê-su, nhưng họ đã không thể giết được tình yêu của Đấng bị treo trên thập giá. Đức Giê-su trở nên hiện thân của Người Tôi Tớ đau khổ mà Tiên tri Isaia đã tiên báo trong bài đọc I: Người Tôi Tớ này bản thân vô tội nhưng phải chịu rất nhiều đau khổ vì tội loài người.

Vâng phục cho đến chết trên cây thập giá, Chúa Giê-su muốn  liên đới với cảnh đời đau khổ của loài người.   Ngài trở nên một quy chiếu, một bản mẫu cho nhưng ai chọn đi theo Ngài. Vâng, cả cuộc đời Ngài đã nhắc đi nhắc lại với chúng ta rằng: ta không đến để được phục vụ nhưng là để phục vụ.

Đây là điều đi ngược với sự khôn ngoan thế gian, nơi mà người ta cố công chiếm cho mình một chỗ đứng, ai cũng muốn mình phải là người chiến thắng, người sở hữu, người thống trị. Tất cả những bon chen, tranh giành  đây đó đều bị chi phối bởi cái tham sân si của lòng người như thế.  

Thật vậy, trong bối cảnh của cuộc sống hôm nay, cụ thể tại môi trường sống của chúng ta, vẫn còn đó những khó khăn, những thử thách của cái nghèo, của sự bất công mỗi ngày một lan tràn, của bầu khí tôn sùng vật chất vô thần… có không ít anh chị em giáo dân đã giống như Phêrô can ngăn Chúa, giống như đám đông dân chúng khi xưa muốn “ rút lui và không theo Chúa nữa” vì Chúa không đáp ứng nhu cầu vật chất của họ.

Tuy nhiên, như lời Chúa nói trong bài Tin mừng: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta. Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai chịu mất mạng sống mình vì Ta và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống mình”, thì  những ai muốn trung thành đi theo Chúa Giê-su, đích nhắm của họ cần phải khác, không phải là trở thành kẻ thống trị, kẻ chỉ biết hưởng thụ và khẳng định bản thân mình trên người khác cho bằng nhắm tới cái khả năng yêu thương, phục vụ và tình liên đới với anh em.

Thực vậy, với một lý tưởng sống như thế, xã hội của chúng ta đã và đang trở nên đẹp hơn qua những vẻ đẹp của những con người hành động trong đức tin để biết sống yêu thương và phục vụ: ta có thể kể tới những gương mặt như mẹ Têrêsa Calcuta, người đã dành cả đời xả thân chăm sóc những người hấp hối bên lề xã hội; như linh mục Maximilien Kolbe đã quảng đại chết thay cho bạn tù tại trại tập trung Đức quốc xã; như Đức GTM Romeo tại El Salvador vì đứng về phía người nghèo nên đã bị giết chết bởi những phát đạn khi ngài đang dâng lễ trong nhà thờ; hay như ông Nelson Madela đã chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartrai tại Nam Phi; cũng vậy, chúng ta thấy nhiều tu sỹ và các tình nguyện viên trên khắp vùng miền đã hết lòng chăm sóc các bệnh nhân mắc bệnh Sida trong các trung tâm điều trị, hay giúp đỡ những người nghiện hút ma túy…

Thế giới  cũng ngày càng đẹp hơn nhờ những người mẹ trong gia đình, không ngại thức thâu đêm để chăm sóc cho đứa con bị ốm bệnh, những người cha làm việc quần quật suốt ngày, mồ hôi nhễ nhại để chăm lo cho hạnh phúc gia đình, những người con biết vâng phục cha mẹ và rèn luyện bản thân để trở nên người có ích cho xã hội.

Và cuộc sống hôm nay cũng đẹp hơn khi có nhiều bạn trẻ đã dám hy sinh, quảng đại tình nguyện tham gia những chiến dịch bảo vệ môi trường và sự sống,  trợ giúp những nạn nhân gặp thiên tai tại vùng sâu vùng xa nghèo khó, tham gia những kỳ tiếp sức mùa thi giúp các thí sinh nghèo hoặc chính các bạn sẵn sàng tham gia các hội đoàn như hội ve chai, hội tông đồ để làm việc bác ái.

Chúa Giê-su Kitô đã trao ban chính sự sống mình cho loài người chúng ta và hôm nay ngài mời gọi mỗi chúng ta hãy noi gương bắt chước và trở nên “đồng hình đồng dạng” với Ngài.

Ý thức một cách sâu xa hơn lời mời gọi này của Chúa Giê-su để nhờ vào sức mạnh của bí tích Thánh Thể được chiêm ngắm và lãnh nhận mỗi ngày, anh chị em và tôi hãy sẵn sàng vác thập giá đời mình và liều mất mạng sống vì Thầy Giê-su để mang lại cho tha nhân và cho chính bản thân mỗi chúng ta niềm hạnh phúc đích thật mà Chúa hứa ban. Amen.

Lịch phụng vụ trong tuần từ 12 đến 19 tháng 9 năm 2021

12  06   X  CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN.

Xứ Tầm Khê (Chằm Hạ), Cổ Nhuế, Vỉ Nhuế, Gò Mu, Trung Kỳ, họ Tiêu Viên và họ Vạn Tiên chầu Mình Thánh.   

13  07  Tr  Thứ Hai Tuần XXIV Thường Niên.

Thánh Gio-an Kim Khẩu, Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh, lễ nhớ.

14   08  Đ  Thứ Ba Tuần XXIV Thường Niên.

SUY TÔN THÁNH GIÁ, lễ kính.

15  09  Tr  Thứ Tư Tuần XXIV Thường Niên.

Đức Mẹ sầu bi, lễ nhớ.

16  10  Đ  Thứ Năm Tuần XXIV Thường Niên.

Thánh Co-nê-li-ô, Giáo hoàng, và thánh Sip-ri-a-nô, Giám mục, Tử đạo, lễ nhớ.

17  11  X  Thứ Sáu Tuần XXIV Thường Niên.

18  12  X  Thứ Bảy Tuần XXIV Thường Niên.

19  13  X  CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN.

Chúa Nhật III trong tháng. Ngày truyền giáo của giáo phận.

Xứ Lan Mát, Trình Xá, Vạn Điểm, họ Thành Lập, họ Mai Động, và họ Vạn Thắng chầu Mình Thánh.

Ephata

Tiếp tục suy niệm Tin mừng Chúa nhật theo Thánh Mác-cô, hôm nay thánh sử thuật lại việc người ta đưa đến cho Chúa Giê-su một người bị câm điếc. Dường như họ muốn đặt ra cho Chúa một câu hỏi: Tại sao lại như thế? Và họ nghĩ bệnh câm và điếc là một sự trừng phạt của Chúa. Tuy nhiên, Chúa Giê-su đã tỏ cho mọi người thấy đâu là nguyên do của sự đau khổ. Cái khổ đối với Chúa không phải là một sự trừng phạt nhưng là một sự thử thách. Và loài người được trao ban sứ mạng là phải làm giảm thiểu cái khổ trên toàn cõi đất này.

Với Chúa Giê-su, sự đau khổ lại là con đường dẫn tới vinh quang Thiên Chúa, dẫn tới vinh quang của tình yêu. Và chính Ngài đã đi con đường đó, con đường của thập giá để đến vinh quang phục sinh.

Chính Chúa đã ra tay chữa lành người câm điếc để chứng mình cho sứ vụ tình yêu của Chúa. Ngài đến mang lấy khổ đau của con người để biến thời đại của đau khổ thành thời đại của lòng thương xót.

Những gì đang xảy ra trong thời đại hôm nay dường như nhắc nhở mỗi chúng ta rằng: sai lầm duy nhất của Chúa chính là Ngài không hiện hữu. Câu nói chơi chữ này là để khẳng định Thiên Chúa đang hiện hữu và ngài cần phải hiện hữu. Vậy khi người ta chủ chương chủ nghĩa vô thần, không tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa, tức là người ta đã dựng lên cho họ cái thực tại tồi tệ nhất, vì đâu còn ý nghĩa của cuộc sống khi con người đối diện với cái khổ.

Thiên Chúa đang hiện hữu và Kinh thánh đang nói với chúng ta về một Thiên Chúa mà bận tâm của Ngài chính là chỉnh sửa, chữa lành và giải thoát. Đó chính là điều mà cộng đoàn vừa nghe trong bài đọc I: Các ngươi hãy nói với những tâm hồn xao xuyến: Can đảm lên, đừng sợ! Này đây Thiên Chúa các ngươi đến để phục thù. Chính Người sẽ đến và cứu thoát các ngươi. Vâng, Chúa Giê-su đến để thực hiện lời ngôn sứ. Chính thánh Gioan Tẩy Giả, vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu Ước đã làm chứng Chúa Giê-su chính là Đấng Messia toàn dân đang mong đợi qua những dấu lạ tỏ tường mà Chúa Giê-su thực hiện, đó là “người mù được thấy, kẻ què đi được, kẻ câm nói được, kẻ điếc được nghe…”

Nhìn vào lịch làm việc của Chúa Giê-su, ta sẽ thấy được sứ mạng của Ngài. Một nửa thời gian là dành cho những lời giảng dạy để giải thoát con người khỏi sự lầm lạc, để thấy được những đòi hỏi cấp bách của tình yêu. Một nửa thời gian còn lại, Chúa đã dùng để giải nghĩa tình yêu bằng chính sự đồng cảm của Ngài với những mảnh đời đau khổ đang bao quanh Ngài mỗi ngày sống. Họ là những người cùi hủi, quỷ ám, bất toại, mù lòa, câm điếc, què quặt, động kinh v.v…Chính Chúa đã nói với họ lời ngôn sứ Ezekiel rằng: “Cứ việc sống! ” Ta làm cho ngươi nẩy nở như hoa ngoài đồng. Và Người chữa lành họ. Vâng, nếu Thiên Chúa yêu thích cái khổ, thì chỉ vì từ cái khổ Ngài sẽ mang đến niềm vui và bình an.

Thiên Chúa không cộng tác và tiếp tay với cái khổ nhưng là nâng đỡ và khích lệ mỗi người đi con đường giúp bản thân và tha nhân vượt thắng cái khổ, đó là: “ Điều mà anh em muốn làm cho những kẻ bé nhỏ của ta đây là anh em làm cho chính ta vậy.”

Chúa Giê-su mỗi lần chữa bệnh hay trừ quỷ để giải thoát nhiều người khỏi cái khổ thân xác đã giúp cho họ nhận ra một điều lớn hơn, đó chính là cái khổ tâm hồn. Cái khổ tâm hồn còn nguy hiểm hơn nhiều cái khổ thể xác. Vâng thiếu vắng tình yêu là cái khổ trầm trọng nhất.

“ Ephata – Hãy mở ra”, Lời của Chúa Giê-su liên hệ tới tất cả chúng ta và tất cả mọi người, ở đây cũng như ở trên toàn thế giới, không phải hôm qua mà cả hôm nay. Như người thầy thuốc chỉ biết đi thăm những người ốm, Chúa Giê-su ưu tiên đến với những người cần đến Ngài, đặc biệt là những ai đang mang trong mình căn bệnh tâm hồn cần được chữa trị. Vì bị điếc, vì bị câm mà họ đã không biết nghe và không biết nói sứ điệp của tình yêu.

Bệnh điếc này thuộc về những ai không biết mở lòng mình ra để lắng nghe và thực hành lời con tim. Họ là những người không biết nghe tiếng kêu than của những anh chị em đang sống trong cảnh lầm than, bị loại trừ và cùng khổ. Cuộc sống bon chen hôm nay dễ làm cho người ta thờ ơ với tha nhân. Khi họ nói “ không liên quan, đó không phải việc của tôi” là họ đang nói: tôi bị điếc một tai, tôi không nghe những gì từ người khác, tôi đang dửng dưng với đồng loại để đi theo chủ nghĩa “Mackeno”, sống khép kín ích kỷ với mọi người.

Cùng với bệnh điếc, là bệnh câm thuộc về những ai không dám lên tiếng bảo vệ danh thơm tiếng tốt cho anh chị em xung quanh khi họ bị chế nhạo và bị vu khống. Người câm cũng là người keo kiệt trong lời nói mà đáng lẽ ra họ cần phải nói để sưởi ấm các tâm hồn, khuyến khích  và nâng đỡ những con người yếu đuối, hay bảo vệ những người bị kết án bất công trong xã hội.

Lời Chúa hôm nay cần được vang vọng và thực hiện. “Ephata – Hãy mở ra”. Vâng hãy mở cửa lòng mình ra với Chúa Giê-su, mở lòng ra với anh chị em xung quanh. Chúa có thực hiện phép lạ của Ngài hay không cũng tùy thuộc vào mỗi chúng ta. Hãy biến đổi con tim mình, cho dù con tim có chai cứng như đá thì nó cũng có thể trở nên một con tim bằng thịt, một con tim biết yêu thương.

Để kết luận, mỗi chúng ta hãy biết đón nhận lời mời gọi của Chúa trong sách Khải huyền: Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta.

Mục đích tối hậu của cuộc đời mỗi chúng ta chính là như thế: Vâng, ai nghe tiếng ta và mở cửa, ta sẽ vào nhà người ấy. Xin cho chúng ta luôn sẵn sàng nghe tiếng Chúa và mau mắn mở cửa để đón Chúa và tha nhân. Amen.

Scroll to Top