Month: December 2021

Gia đình thánh

Thật là ý nghĩa khi chúng ta mừng lễ Thánh Gia ngay sau lễ Giáng Sinh, vì đây là dịp thuận tiện để chúng ta cùng nhau chia sẻ về tình yêu hôn nhân về giá trị của đời sống gia đình theo gương mẫu của gia đình thánh gia.

Nhìn vào gia đình Na-gia-rét khi xưa, ta thấy gia đình này cũng giống như phần lớn các gia đình trần thế khác:

Thứ nhất, gia đình Nadarét là một gia đình nghèo: Trong Tin Mừng ta tìm thấy hai dấu chỉ tình trạng nghèo của các ngài : Khi đến Bêlem, Thánh Gia không đủ tiền để thuê một chỗ trọ trong hàng quán nên phải ở tạm trong hang bò lừa. Khi đem con đầu lòng dâng trong đền thờ cùng với lễ vật theo luật định, họ chỉ dâng một đôi chim câu, là thứ lễ vật của người nghèo.

Thứ hai, gia đình Nadarét cũng phải sinh nhai bằng chính sức lao động của mình. Thánh Giu-se làm nghề thợ mộc, còn Đức Mẹ chắc cũng giống như các bà mẹ thời đó làm nghề đan lát, làm bánh, lo việc nội trợ gia đình, còn Chúa Giê-su thì giúp cha mình là Giu-se làm người thợ suốt ba mươi năm.

Thứ ba, gia đình Na-gia-rét cũng có cuộc sống bình thường như bao gia đình khác trong làng Na-gia-rét khi xưa, như trong bài Tin mừng thuật lại, thánh Giu-se, Đức Mẹ Maria và Chúa Giê-su cùng hòa mình vào đoàn hành hương, đi bộ đồng hành với họ để viếng Đền thờ Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ Vượt qua theo luật định. 

Tuy nhiên, Gia đình Na-gia-rét lại là một gia đình  thánh vì xét về bản chất thì mọi thành viên trong gia đình đều là thánh, còn xét về phương diện nhân loại thì mỗi thành viên đã sống một đời sống thánh thiện để trở nên những con người thánh, mặc dù Gia đình Thánh Gia cũng đã trải qua những thử thách bởi cuộc sống khó khăn, bởi những va chạm thường ngày trong đời sống gia đình, trong mối tương quan với xã hội. Ví dụ như trong bài Tin mừng tường thuật về việc Chúa Giê-su ở lại Đền thờ, và hai ông bà Giu-se và Maria phải mất ba ngày tất tả đi tìm con…điều này có thể làm cho hai ngài lo lằng buồn phiền hay bực bội…  tuy nhiên hai ông bà vẫn bình tĩnh và xử lý hoàn cảnh cách tế nhị và nhẹ nhàng…Và Chúa Giê-su sau khi đưa ra lý do giải thích sứ mạng mà Chúa Cha trao phó thì cũng đã vâng phục hai ông bà Giu-se và Maria trở về Nagiaret để  “ngày càng khôn lớn và thêm ơn nghĩa trước mặt Thiên Chúa và người ta”. 

Gia đình Thánh Gia trở nên gương mẫu cho mọi gia đình là nhờ một bí kíp đơn giản nhưng rất quan trọng , đó là mọi thành viên luôn tìm biết và làm theo ý Chúa. Thánh Giuse, Đức Maria và Đức Giê-su trọng cuộc đời ở trần thế đều luôn biết lắng nghe và đem Lời Chúa ra thực hành: cụ thể là đối với thánh Giuse thì việc vâng theo lời thiên sứ báo mộng là một khởi đầu cho ơn gọi thi hành trọn vẹn vai trò của người cha gương mẫu dù có lúc ngài đã có ý định ‘đào tẩu” âm thầm, hay với hai tiếng xin vâng của Đức Mẹ, thay vì quyết giữ ý định sống đời đồng trinh theo nguyện ước, mẹ đã sống trong vai trò và bổn phận của mẹ đấng cứu thế, còn Đức Giê-su nhờ vào việc luôn vâng theo ý Chúa Cha mà đã chấp nhận giới hạn mình trong vai trò của con ngoan trong một gia đình để thi hành trọn vẹn sứ mạng cứu độ.

Nếu hôm nay nhìn lên Gia đình Na-gia-rét để chiêm ngưỡng một gia đình thánh, thì giờ phút này cũng cần  nhìn qua các gia đình nhân loại và gia đình riêng của mình để mỗi chúng ta noi gương và bắt chước. 

Hơn bao giờ hết, các gia đình chúng ta phải nhìn lên Thánh gia thất để làm cho gia đình mình trở thành một gia đình đạo đức, yêu thương và chăm lo cho nhau.

Như vậy, mỗi gia đình hãy xây dựng gia đình mình trở thành một gia đình biết chuyên chăm cầu nguyện, chuyên cần đọc và suy niệm Lời Chúa mỗi ngày,  siêng năng lãnh nhận các bí tích  và lắng nghe thực hành ý chúa qua chính các biến cố xẩy ra mỗi ngày ngay tại gia đình, tại môi trường mà chúng ta sinh sống.

Thánh Luca đã ghi lại hình ảnh rất đẹp của Thánh Gia như sau : “Đức Giêsu đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nadaret và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Đức Giêsu ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến” (Lc.2,51-52).

Hình ảnh đẹp này giúp cho mỗi gia đình hãy tạ ơn Chúa vì hồng ân Chúa ban cho mỗi người, và tạ ơn Chúa vì những món quà là các thành viên trong gia đình mà Chúa đã ban tặng.

Vậy, mỗi thành viên trong gia đình hãy đón nhận nhau như là quà tặng của Thiên Chúa để biết trân trọng đối với nhau và nhất là trân trọng với Đấng đã trao tặng chính mình. Hãy nhìn vào gia đình Thánh gia để học ở nơi đó tấm gương của người cha người mẹ, người con thánh, mà biết vun đắp cho gia đình mình trở nên một gia đình thánh thiện. Amen.

Lạy thầy, chúng tôi phải làm gì?

Mùa vọng trước hết là thời gian để hoán cải, chính vì thế mà vị chủ tế thánh lễ mang áo lễ màu tím. Mùa vọng cũng là thời gian chuẩn bị lễ Giáng sinh, ngày lễ đón Chúa đến để ban tình thương và tha thứ.

Tình thương và tha thứ của Thiên Chúa diễn tả niềm vui mừng hân hoan. Và ý nghĩa này được biểu tượng bằng màu hồng, màu của Chúa Nhật III Mùa Vọng hôm nay. Như trong bài đọc thứ nhất trích sách Sophonie, vị ngôn sứ loan báo: Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca! Hỡi Israel, hãy hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoan và nhảy mừng hết tâm hồn.

Tâm tình tràn ngập niềm vui này biểu lộ trọng dụ ngôn người con hoang đàng, khi mà người cha đã cho giết con dê béo và mời tất cả mọi người tổ chức bữa tiệc vui bởi vì con ông đã mất nay tìm thấy, đã chết nay sống lại.

Như vậy, sự tha thứ và lòng thương xót mang đến cho chúng ta bình an nội tâm và tràn ngập niềm vui.

Trong bài Tin mừng hôm nay, nhiều người với lòng thống hối ăn năn đã đi tìm Gioan Tiền Hô và hỏi ông: chúng tôi phải làm gì? Và Gioan Tẩy giả trả lời rằng:

  • Người có thì hãy chia sớt cho kẻ không có.
  • Người đang sống bằng những thu nhập bất công thì hãy cố gắng sống công bình.
  • Kẻ đang áp bức người khác thì chấm dứt những việc làm hà hiếp của mình.

Không có gì đặc biệt trong những điều trên nhưng Gioan đề nghị một cách thế để sống chính trực và công chính. Tất cả mọi người được mời gọi hoán cải để trổ sinh hoa trái công phúc trong đời sống.

Đối với những người thu thuế và quân nhân, Gioan không đề nghị họ thay đổi đổi nghề nghiệp nhưng là sống theo đỏi hỏi mới như: tôn trọng công bình, không dùng quyền lực để hà hiếp người khác, không cáo gian ai, tôn trọng luật pháp và bổn phận công dân.

Tôi phải làm gì? Đó là câu hỏi mà chúng ta thân thưa với Chúa hôm nay. Câu hỏi tối hậu này đặt ra cho mỗi người, lúc này và trong ngày phán xét, sẽ là “ tôi đã sống thế nào” “ tôi đã đối xử với tha nhân thế nào”?

Chắc chắn có những lỗi phạm thường xuyên mà căn nguyên đến từ nghề nghiệp, từ hoàn cảnh, từ cuộc sống thường ngày? Mỗi chúng ta đều có bậc sống và hoàn cảnh riêng, cụ thể như trong ngôi nhà thờ này: chúng ta có thể là linh mục, giáo viên, giám đốc, kỹ sư, bác sỹ, công nhân, viên chức, thương gia… Hay với tuổi tác, ở đây có những người cao tuổi, nhưng cũng có những người trẻ tuổi, là người lớn hay trẻ con, là bậc làm cha làm mẹ hay là những đứa con trong gia đình… vậy thì mỗi nghề nghiệp mỗi lứa tuổi đều có những lỗi lầm liên quan đến đời sống mỗi người.

Để tách biệt và loại trừ cái xấu khỏi cái tốt, ngôn sứ Gioan Tiên Hô đã sử dụng hình ảnh rất sống động: “Người cầm nia trong tay mà sảy sân lúa của Người, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa”. Ngày xưa đối với nhà nông ở quê, sau vụ gặt người nông dân thường đem lúa mới thu hoạch ra bờ đê có gió lớn để rê lúa, gió thổi làm cho các cọng rơm và vỏ trấu cũng như lúa lép bay đi, chỉ còn lại những hạt lúa mẩy vì nặng hơn nên rơi xuống chiếc nia để ở dưới, và sẽ được thu lại vào bao tải đem cất vào kho. Còn rơm và vỏ trấu hay lúa lép sẽ bị đốt.

Hình ảnh này làm cho chúng ta nhớ tới việc sám hối và hòa giải mà chúng ta cử hành trong các ngày tĩnh tâm. Sám hối và hòa giải giúp chúng ta phân định những gì là tốt, là giá trị và những gì là xấu và không tốt với đời sống đức tin, để giữ lại những điều tốt và loại bỏ những điều xấu.

Khi mà những điều xấu không được loại trừ, thì vẫn còn đó điều ngăn cản chúng ta triển nở trọn vẹn trong đời sống đức tin, vì thế chúng ta mất đi niềm vui và bình an trong tâm hồn

Trong niềm hy vọng vào lòng thương xót của Chúa, kính thưa… chúng ta cần phải tin vào Nước Chúa đang hiển trị, tin vào một thế giới mỗi ngày sẽ giảm bớt những bạo lực, sẽ không còn những thai nhi bị giết hại, không còn trẻ em bị bỏ rơi, không còn những người lang thang vất vưởng đây đó, không còn cãi cọ tranh giành, không còn chiến tranh, đói rách và bất công…Nước Chúa đang đến trong mỗi người chúng ta, và chính Chúa đang mời gọi chúng ta hãy làm tất cả những gì có thể để thế giới này mỗi ngày một tốt đẹp hơn.

Mừng lễ Giáng sinh, là mừng Chúa đến với mỗi người chúng ta, một Thiên Chúa đang mời gọi chúng ta xây dựng với Ngài một thế giới mới. Vậy xin Chúa cho chúng ta chuẩn bị đón mừng đại lễ Giáng sinh bằng một trái tim rộng mở để hoán cải và canh tân đời sống tận căn, nhờ đó chúng ta trở nên những con người mới đem ánh sáng tình thương Chúa đến cho muôn người . Amen.

Xin vâng

Trong những ngày đầu của Mùa Vọng, thời gian chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh, Giáo Hội cho chúng ta mừng kính Đức Mẹ với danh hiệu “ Vô Nhiễm Nguyên Tội”. Nhờ vào một hồng ân đặc biệt, Đức Maria, Mẹ của Đấng Cứu Thế không bao giờ phạm tội. Mẹ không bao giờ phụ lòng Chúa dù chỉ là điều nhỏ nhất có liên hệ tới tình yêu. Thánh Công Đồng Vaticanô II dạy rằng: “ từ ngay giây phút thụ thai, Mẹ đã được đầy tràn vẻ đẹp của một sự thánh thiện đặc biệt”. Mẹ đã được gọi là “Đấng Thánh”. Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội đã được Đức Giáo Hoàng Pio IX công bố vào ngày 08/12/1854. Bốn năm sau, chị Bernadette ở Lộ Đức, một thiếu nữ chăn dê, không biết tý gì về thần học, đã nhận được mặc khải về tín điều này. Và chị đã đến nhà cha xứ để nói cho Cha biết về lời mạc khải của Mẹ: “ Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội”.

Trong ngày lễ hôm nay, phụng vụ cho chúng ta nghe bài Tin mừng về biến cố Truyền Tin. Ai trong chúng ta đều biết rõ đoạn Tin mừng tuyệt vời này mà Thánh Luca thuật lại. Đó chính là giây phút sứ thần Gabriel đến nhà trinh nữ Maria để loan báo trinh nữ đã được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Sứ thần chờ đợi trinh nữ trả lời. Và như ta thấy, khi Thiên Chúa gọi, Ngài tôn trọng sự tự do của mỗi con người. Trinh nữ Maria có sự tự do đón nhận hay từ chối. Nhưng cách đơn sơ trinh nữ muốn hiểu xem: “ việc đó sẽ xẩy đến thế nào?” và sứ thần đã trả lời: “Chúa Thánh Thần sẽ đến với trinh nữ và quyền năng Đấng tối cao sẽ phủ bóng trên trinh nữ”. Biết được như thế, Đức Maria đã đón nhận khi thốt lên lời thưa đơn sơ: Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền”. Như thế ngày lễ hôm nay cho chúng ta cơ hội để suy nghĩ về vai trò thật sự quan trọng mà Thiên Chúa đã trao phó cho Đức Maria.

Hôm nay, Thiên Chúa lại tiếp tục mời gọi con người, người già cũng như người trẻ. Không còn cảnh sứ thần đến truyền tin cho mỗi chúng ta. Nhưng Thiên Chúa nối kết chúng ta trong mọi hoàn cảnh của đời sống, bởi những người mà Ngài gửi đến cho mỗi chúng ta. Ngài có thể đánh động tâm hồn con người bởi một câu Tin mừng hoặc bởi một biến cố đặc biệt. Ngài cũng có thể tìm kiếm chúng ta từ mọi bối cảnh thăng trầm. Ngài mời gọi chúng ta đào sâu nguồn mạch tình yêu Chúa để làm cho tình yêu đó tỏa lan cho mọi người xung quanh. Chính Thiên Chúa chọn mỗi chúng ta để mang trong mình tình thương, sự dịu hiền của Ngài để làm chứng tá cho Chúa trong đời sống.

Thiên Chúa cần đến đôi tay của mỗi chúng ta để tiếp nối đôi tay của Ngài. Ngài cần đến đôi môi của chúng ta để loan báo lời Ngài. Ngài cần đến đôi mắt của chúng ta để thấy được nỗi thống khổ của nhân loại và làm cho nó vơi đi. Dù Ngài có đặt ra câu hỏi thì mỗi chúng ta vẫn được mời gọi xin vâng. Và trong giây phút chúng ta xin vâng, đó là như dòng thủy triều mang đi tất cả trên đường đi của nó. Đó là một cuộc phưu lưu lớn lao và không có vinh dự nào lớn hơn là những người được trở nên tôi tớ của tình yêu. Mẹ Maria đã không đi con đường nào khác con đường này. Mẹ đã là tôi tớ của Thiên Chúa; và hôm nay Mẹ nói với mỗi chúng ta: “ Chúa nói gì các con hãy làm theo.”

Ngày hôm nay, câu hỏi được đặt ra cho chúng ta thật đơn giản: đó là chúng ta có đón nhận Chúa đến trong chúng ta và trong đời sống chúng ta hay không. Mang Chúa trong tim và tặng trao Chúa cho thế giới, đó là cái gì đó thật đặc biệt. Chúng ta sẽ thấy ở đó niềm vui mà không ai có thể lấy mất. Với Chúa và với Mẹ Maria, các cuộc viếng thăm của chúng trở nên các cuộc truyền tin. Chính vì lẽ đó mà chúng ta được kêu gọi khi chúng ta tới thăm viếng những người đau yếu và đang cần đến. Có thể chúng ta sẽ được hướng dẫn trên những nẻo đường mà chúng ta chưa bao giờ tính đến. Nhưng chúng ta biết rằng tình thương của Chúa sẽ không làm chúng ta thất vọng.

Như Đức Maria, Thiên Chúa kêu gọi mỗi người để trao phó một sứ mạng hay một trọng trách. Ngài đặt niềm tin vào chúng ta trong các hoạt động tại giáo xứ, nơi gia đình, công sở để trở nên chứng tá và sử giả của tình yêu. Nếu trả lời không, có nghĩa là chúng ta vẫn ở trong bóng đêm. Nếu trả lời xin vâng, có nghĩa là chúng ta trở nên những người mang ánh sáng. Câu trả lời thuộc về mỗi người và không ai có thể trả lời thay được. Thiên Chúa cần đến sự cộng tác của con người. Vậy đừng sợ hãi: vì sứ mạng này mang đến hạnh húc, cho chúng ta và tất cả mọi người. Trong thời gian của niềm hy vọng, chúng ta cùng cầu xin Chúa cho chúng ta biết đón nhận lời mời gọi của Chúa và đón nhận Chúa đến trong đời sống của chúng ta và tất cả mọi người.

Thiên Chúa tiếp tục tìm kiếm và cứu vớt những ai đang lạc mất. Chính vì thế mà Ngài đã đến trong thế giới. Tự bản tính chúng ta mang trong mình tâm tình của tội,  vậy hãy nhìn lên Đức Maria là Đấng mang trong mình tâm tình của Chúa. Mẹ đã để cho tình yêu Chúa đi vào trong đời sống của Mẹ để làm cho Mẹ trở nên Vô Nhiễm Nguyên Tội. Xin Mẹ hướng lòng chúng ta về với Chúa trong tâm tình tôn thờ, biết ơn và dư vị của một đời sống hoàn toàn biết cho đi. Amen.

Hãy dọn đường cho Chúa

“Hãy dọn đường Chúa cho ngay thẳng”,trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta nói nhiều tới việc làm đường và sửa đường. Mọi người quan tâm vấn đề này bởi vì cuộc sống phát triển nên các con đường là một phương tiện giao thông liên lạc cần thiết để người ta có thể đến được với nhau trong mọi mối tương quan của cuộc sống hằng ngày. Có những con đường tốt, đường thẳng nhưng cũng có những đường xấu và đường cong gây tai nạn và khó khăn trong việc đi lại. Đường thẳng hay cong có thể do hoàn cảnh địa lý, do điều kiện vật chất, nhưng cũng có nhiều con đường đang thẳng lại biến thành cong vì bởi lòng người lúc cong lúc thẳng, nên con đường có đoạn thẳng đoạn cong. Vậy nguyên nhân của sâu xa của đường thẳng, đường cong là do con đường tâm linh, con đường của lòng người có chính trực công minh hay là cong queo và dối trá.

Vậy chủ đề của các bài đọc kinh thánh của Chúa nhật II Mùa Vọng gửi đến cho chúng ta là việc sửa chữa con đường, đây không phải con đường vật chất nhưng là con đường tâm hồn để Chúa có thể qua đó mà đến với ta và ta qua đó mà đến với Chúa và từ đó ta có thể đến được với tha nhân.

Để giúp cho việc sửa chữa và trùng tu con đường Chúa cho ngay thẳng, chúng ta phải làm gì? Hôm nay bài Tin mừng giới thiệu cho chúng ta một chuyên gia sửa đường, đó là thánh Gioan Tiền Hô. Ngài là “tiếng kêu trong hoang địa: Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi”. Và chính Ngài đã làm gương cho chúng ta noi theo khi ngài đã vào sa mạc, mặc áo da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng, sống đời nhiệm nhặt để kêu gọi mọi người đón Chúa đến. 

Như thế, chỉ dẫn quan trọng để sửa đường tâm linh trong Mùa Vọng này là đi vào sa mạc để sửa đường Chúa.

Theo ngôn ngữ kinh thánh thì việc đi vào sa mạc để sửa đường Chúa có nhiều lợi ích. Trước hết, sa mạc là nơi thuận tiện để gặp gỡ Chúa.Vâng, chính trong nơi hoang sơ này mà Thiên Chúa nói trong sâu thẳm của lòng người để họ thực hiện lời mời gọi hoán cải: hãy sửa đường Chúa đi. Để có thể nghe được tiếng Chúa thì cần đi vào sa mạc qua việc cố gắng loại trừ bớt những tiện nghi đầy đủ thường ngày, ăn uống đạm bạc, cầu nguyện nhiều hơn và hoán cải đời sống bằng việc trút khỏi mình tội lỗi, loại trừ những tính mê nết xấu, những lối sống cằn cỗi. Thánh Gioan dùng hình ảnh cụ thể là ‘hãy san bằng những gồ ghề” trên con đường, có nghĩa là bỏ đi những chướng ngại để Thiên Chúa đến với ta và để ta có thể đến với ngài.

Tiếp đến, sa mạc cũng là biểu tượng của sự cằn cỗi trong tâm hồn.  Đi vào sa mạc để thấy được tâm hồn con người trong tình trạng như mảnh đất khô cằn và không có nước. Hình ảnh này làm ta nối kết với những hoang mạc trong thế giới hôm nay khi vẫn còn tình trạng người đối xử với người tàn ác như sói rừng, khi phẩm giá làm người không được tôn trọng và bảo vệ: nhiều người nam và nữ bị biến thành những phương tiện để mua bán và bóc lột; khi vẫn còn đó những hoang mạc của những mảnh hồn sống đơn độc thiếu vắng tình yêu và không biết yêu thương. Tất cả những sa mạc này đã làm cho người ta không thể hiểu, thông cảm và đón nhận được nhau. Tuy nhiên cũng chính từ nơi đó, Chúa Ki-tô đã đến và tìm kiếm con người đã cho thấy Tin mừng khởi đi từ sa mạc của đời người. Giống như trong sa mạc mênh mông khô cằn không có sự sống, nhưng khi mưa đổ xuống, đất lại trổ sinh hoa trái tốt tươi; thì nhờ sự hiện diện của Chúa, cuộc sống con người không còn khô cằn nữa vì ngài không bỏ rơi con người, sự hiện diện này như hạt giống sự sống được gieo vào lòng người không bao giờ chết, nhưng nếu có cơ hội nó sẽ nảy mầm tăng trưởng và sẽ đổi mới đời sống chúng ta.

Cuối cùng, sa mạc không phải là nơi lý tưởng để tìm kiếm sự yên thân nhưng ngược lại, đó lại là nơi để chiến đấu, vì sa mạc là nơi mà người ta sẽ chết khát  và chết cháy vì nắng nóng. Khi chọn lựa sa mạc, thánh Gioan Tiền Hô muốn loan báo một cuộc chiến, một cuộc đấu tranh. Chúa Giê-su khởi đầu sứ mạng của mình khi đối diện với Satan ở trong sa mạc. Trải dài trong suốt hành trình rao giảng, ngài đã bị tấn công bởi thù địch. Các địch thù đã bắt ngài, kết án ngài và đóng đanh ngài trên thập giá. Hành trình đức tin cũng là một chuỗi dài của những cuộc chiến chống lại sự dữ. Hôm nay cũng như hôm qua, biết bao nhiêu tín hữu đã bị bách hại và bị kết án tử.  Nhưng với Chúa Ki-tô phục sinh, thì niềm hy vọng lớn lao của chúng ta là tình yêu mạnh hơn sự chết.

Scroll to Top