Month: April 2022

Lòng thương xót Chúa

Chúa nhật II Phục sinh hôm nay được gọi là Chúa nhật của lòng thương xót Chúa. Chúa nhật lòng Chúa thương xót đã được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao lô II thiết lập nhân dịp ngày lễ phong thánh cho nữ tu Faustina.

Với ý nghĩa của ngày lễ hôm nay, các bài đọc Kinh thánh đều quy về lòng thương xót của Chúa trong bầu khí vui mừng của mùa PS.

Bài đọc thứ nhất trích trong sách Tông đồ Công vụ đã chỉ cho chúng ta thấy một cộng đoàn tín hữu đón nhận lòng thương xót của Chúa. Chính nhờ vào cuộc gặp gỡ thân tình với Chúa mà họ đã hoàn toàn thay đổi cuộc sống. Họ hiểu được rằng họ được kêu gọi để trở nên một cộng đoàn của tình liên đới, một cộng đoàn cầu nguyện và một cộng đoàn liên kết mật thiết với Chúa.

Bài tin mừng tiếp tục mời chúng ta đi thêm một bước nữa trong việc khám phá Lòng thương xót này. Chính vào tối ngày thứ nhất trong tuần, tức là vào tối Chúa nhật. Các môn đệ đã đóng kín cửa nhà vì nỗi sợ hãi đang bao trùm, do lòng thù hận và bạo lực đang bao trùm thành Giêrusalem sau cái chết của Chúa Giêsu. Sự sợ hãi này cũng liên quan tới mỗi chúng ta, ai mà không biết ở nhiều nơi trên thế giới hôm nay, có nhiều tín hữu đã bị giết; nơi này nơi khác các ki-tô hữu bị chế nhạo. Chúng ta cũng đang sống trong một thế giới bị dìm trong sự vô cảm, vô tín và mất niềm tin. Vậy mà trong một thế giới như thế, mỗi chúng ta lại có sứ mạng làm chứng cho niềm tin trong Chúa Ki-tô.

Như là Chúa đã làm cho các Tông đồ, cách riêng cho ông Tô-ma, Chúa Ki-tô phục sinh liên đới với mỗi chúng trong mọi hoàn cảnh. Ngài luôn có đó để nâng đỡ chúng ta trong đời sống và trong cả những lầm lạc. Ngài là Emmanuel, tức là “Thiên Chúa ở cùng”. Ông Tô-ma đã không thể tin Chúa phục sinh. Đối với ông thì không thể tin được. Ông đã thấy Thầy mình chết trên thập giá và được an táng trong mồ. Ông không thể tưởng tượng được rằng Chúa đã sống lại. Có lẽ chúng ta cười nhạo ông vì đã không tin, nhưng nếu chúng ta ở trong hoàn cảnh của ông, chúng ta cũng không khá hơn đâu.

Chúa Giê-su phục sinh đã đến để củng cố niềm tin và mang đến cho các Tông đồ niềm hy vọng. Lời đầu tiên của Chúa là một sứ điệp của bình an. Bình an này là niềm vui, là lòng thương xót và là ơn tha thứ, là sự hòa giải. Vào giây phút sai đi, Ngài muốn giải phóng các tông đồ khỏi nỗi sợ hãi đang nặng trĩu trong lòng các ông. Ngài muốn ban cho các ông sức mạnh và sự can đảm bởi vì các ông sẽ có một chặng đường dài để tiến tới. Các Tông đồ được sai đi để loan báo cho tất cả thế giới rằng tất cả mọi người được kêu gọi để hoán cải nơi Đức Ki-tô và đón nhận lòng thương xót mà Ngài không ngừng muốn trao ban.

Là các ki-tô hữu, chúng ta hôm nay đang thừa hưởng chứng tá của các tông đồ và mỗi chúng ta cũng được sai đi để tiếp tục làm chứng tá cho mọi người xung quanh, cho gia đình mình, cho nơi mình làm việc và sinh sống. Niềm tin của chúng ta chỉ sống động thực sự khi nó lan tỏa. Thiên Chúa đang chờ đợi chúng ta trong thế giới mà chúng ta đang sống, nơi mà Ngài gieo trồng chúng ta để trổ sinh bông trái. Ngài mong muốn làm những điều kỳ diệu trong đời sống chúng ta và không gì có thể chia cắt chúng ta ra khỏi tình yêu của Ngài.

Trong ngày hôm nay, chúng ta cần nhìn lại cộng đoàn đầu tiên của những kẻ tin. Như họ, mỗi chúng ta được mời gọi đặt để đời sống đạo dựa trên những cột trụ sau:

  • Trung thành với lời dạy của các Tông đồ để đào sâu đức tin và làm cho Tin mừng biến đổi đời sống.
  • Trung thành trong đời sống cộng đoàn để có thể chia sẻ mọi thứ cho nhau.
  • Trung thành tham dự và cử hành bí tích Thánh Thể,
  • Trung thành cầu nguyện ở trong gia đình và trong cộng đoàn.

Bốn cột trụ này là cần thiết biết bao vì chính nhờ đó mà chúng ta có thể làm chứng tá thực sự về đời sống đạo của những con cái Chúa.

Mỗi chúa nhật, chính Chúa Giê-su Ki-tô phục sinh liên  đới với cộng đoàn ki-tô hữu đang tụ họp để cử hành bí tích Thánh Thể. Xin Chúa Ki-tô phục sinh ở với mỗi chúng ta để chúng ta thêm can đảm trong đời sống chứng tá. Xin Ngài giúp chúng ta sống quảng đại hơn trong việc thực thi chia sẻ bác ái huynh đệ. Lạy Chúa, Ngài là Ánh Sáng, là Tình Yêu, xin soi sáng lòng chúng con bằng Thánh Thần của Chúa. Amen.

Chúa đã sống lại thật! Alleluia!

Sau đêm Vọng Phục sinh là thời khắc Đức Giê-su Kitô hiển thắng trên sự chết và bóng đêm, giờ đây trong buổi sáng Phục Sinh, là giờ phút mà ánh sáng hiển trị, như Tin mừng vừa thuật lại, việc xẩy ra là “ngày thứ nhất trong tuần”, Ngày Chúa Phục sinh vinh hiển. Sự kiện này nhắc chúng ta nhớ lại những trang đầu của Kinh Thánh, khi Thiên Chúa chiếu sáng thế giới vào ngày thứ nhất của công trình sáng tạo.

Lễ Phục sinh đối với các Ki-tô hữu là ngày lễ lớn nhất trong năm. Đó là ngày lễ của sự sống, của mùa xuân, của sự đổi mới và của niềm vui.

Lễ Phục sinh mở ra một tiến trình khác trên sự sống và sự chết. Trong thành Roma cổ, người ta thấy có nhiều bia mộ mang những dòng chữ diễn tả nỗi buồn lớn lao như: “Vĩnh biệt, đây là dấu chấm hết của tình yêu chúng ta”; “chúng ta mãi mãi không còn thấy nhau”; “ Tình bạn của chúng ta kết thúc với cái chết”…Ngược lại trên những nấm mồ của các Ki-tô hữu tại các hang toại đạo, ta lại thấy những dòng chữ đầy tràn niềm hy vọng như: “Chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau”; “bạn đang sống trong Chúa”; “Bạn về Nhà Cha”; “Bình an ở với bạn”…

Có những người cho rằng chết là hết. Nhưng các ki-tô hữu thì lại tin rằng cái chết là một cuộc vượt qua để đạt tới một sự sống khác và nó mang đến một ý nghĩa không chỉ đối với sự chết mà còn đối với điều mà chúng ta đang sống hằng ngày. Các văn sỹ ki-tô giáo đã dùng rất nhiều hình ảnh để minh họa cho sự sống mới này như: một đứa trẻ sinh ra khỏi lòng mẹ, một con tằm trở nên con bướm, một hạt lúa gieo vào lòng đất chết đi để trở nên một cây to…

Điều phân biệt các tín hữu với các người vô thần là sự sống lại, đó là niềm tin vào một Thiên Chúa, Đấng không giới hạn sự sống và không chấp nhận rằng mọi sự kết thúc nơi nấm mồ. Mặt khác, danh từ mà các tín hữu dùng để chỉ nơi chôn cất những người đã qua đời là vườn thánh, có nghĩa là nơi an nghỉ của những lữ khách, hay là nơi ở tạm mà thôi.

Phụng vụ chúa nhật phục sinh diễn tả sự bình an và thanh bình. Chúa đã sống lại; Vào lúc bình mình ló rạng: một tin vui được loan báo: “ đừng tìm người sống giữa những kẻ chết”. Đức Giê-su đã mở ra cánh cửa của sự chết. Ngài đã nói với chị Maria, chị của Lazagiô: Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy sẽ không chết bao giờ”.

Sự sống lại là câu trả lời của Thiên Chúa là Cha trước những bạo lực, bất công của đòn vọt và thập giá. Những ai kết án Chúa Giê-su đã tin rằng họ có thể làm Ngài câm lặng và khử trừ được Ngài. Nhưng không, Thiên Chúa Cha đã cho Ngài sống lại, để minh chứng những giá trị mà Ngài muốn thực hiện trong đời sống của Đức Giê-su, như lời thiên thần nói với các phụ nữ vào sáng Chúa nhật Phục sinh: “ Tại sao các bà lại đi tìm người sống giữa những kẻ chết”?

Niềm tin ki-tô giáo không ngừng nói với chúng ta rằng Đức Ki-tô đã sống lại và sự sống của chúng ta không kết thúc bởi cái chết. Lễ Phục sinh và sự sống lại đưa chúng ta vào một mùa xuân mới sau một mùa đông lạnh giá mang màu sức của sự chết, nhờ đó thúc đẩy chúng ta đưa ra lời cam kết ngay từ lúc này để thực sự đạt được sự sống. Đức Ki-tô mời gọi mỗi chúng ta sống sự sống viên mãn ngày từ bây giờ, bằng việc đi ra khỏi những nấm mồ, những chán nản, sợ hãi đang bủa vây chúng ta. Vâng, hãy ra khỏi mồ, khỏi những gì làm cho không còn hy vọng, vì chính Chúa Giê-su đã nói với chúng ta rằng: Ta đến để các ngươi được sống và sống dồi dào. Chúa muốn chúng ta được sống sự sống dồi dào của Chúa.

Sau bữa Tiệc ly, khi trở về núi Cây dầu, Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ: “ khi thầy sống lại, Thầy sẽ hẹn gặp anh em ở Gallilé”. Đó cũng chính là lời mời mà Chúa Giê-su gửi đến cho các phụ nữ sau khi Chúa sống lại: “ các bà hãy đi báo cho anh em thầy rằng họ hãy đến Gallilé và thầy sẽ hẹn gặp lại họ ở đó. Các môn đệ được thúc giục đến Gallile là quê hương bản quán, là gia đình của các ông, với lưới và thuyền.

Ki-tô giáo là một tôn giáo của sự phục sinh. Chúng ta không không hiểu hết những đau khổ trong thế giới nhưng chúng ta không tin sự khổ đau là tiếng nói cuối cùng, và chúng ta sẽ làm tất cả để chinh phục sự chết.

Thực vậy, chúng ta đang sống trong một thế giới mà cái chết đang diễn ra xung quanh. Hàng triệu người đã chết vì nhiều lý do: chiến tranh, nghèo đói, bạo lực, khủng bố, tự sát, nghiện ngập ma túy và rượu, thực phẩm ô nhiễm, môi trường ô nhiềm làm nên bao nhiêu tật bệnh, và ngay lúc này là nạn dịch Covid 19 đã gặp ra hang tram ngìn cái chết trên toàn thế giới.  Và chúng ta muốn chiến đấu để chống lại nó.

Vậy nên khi cử hành ngày Chúa Phục Sinh, mỗi Chúa nhật chúng ta xum họp bên Chúa. Ngày thứ Sabbat là ngày kết thúc tuần lễ, thì ngày Chúa nhật lại là ngày để tạ ơn và mở ra một tuần mới. Chúa Ki-tô phục sinh đang ở giữa chúng ta, như chính Ngài đã hứa: ở đâu có hai hay ba người họp nhau vì danh ta thì ta sẽ ở giữa họ. Ngài mời chúng ta lắng nghe Lời Ngài, chia sẻ sự sống của Ngài và được mạnh sức trong đời sống là nơi mà Ngài vẫn đồng hành với mỗi chúng ta vì Ngài hứa ở ‘cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế”.

Hôm nay, chúng ta mừng đại lễ Phục sinh, ngày lễ quan trong nhất với mọi ki-tô hữu. Đức Ki-tô sống lại trao ban cho mỗi chúng ta ơn can đảm để trở về Gallilê đời mình, là gia đình, là môi trường làm việc, và sống mùa xuân của Thiên Chúa. Trong ngày thứ nhất trong tuần, ngày Chúa Phục sinh, nguyện chúc cộng đoàn tràn đầy niềm vui phục sinh. Chúa đã sống lại thật. Allleluia. Amen.

Tình yêu Thiên Chúa

Hàn Mặc Tử, một nhà thơ tài hoa công giáo, khuyên chúng ta – qua bài “Đà Lạt trăng mờ” – như sau:
“Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,
để nghe dưới đáy, nước hồ reo
để nghe tơ liễu run trong gió
và để xem Trời giải nghĩa yêu.”

= Thiên Chúa là Tình yêu, tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa.

1.Tình yêu Thiên Chúa

– Thiên Chúa là Tình yêu

+ Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban con một người để tất cả những ai tin vào con của người thì không phải hư mất nhưng được sống đời đời. (Ga 3,16)

– Tình yêu Thiên Chúa nơi Đức Giê-su Ki-tô

+Không có tình yêu nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình. (Ga 15, 13)

+“Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.. Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.” (Ga 13, 1.4-5).

+  “Các con hãy lãnh nhận mà ăn, này là Mình Ta, sẽ bị nộp vì các con: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta. Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối, Người cầm lấy chén, và phán: “Chén này là Tân ước trong Máu Ta; mỗi khi các con uống, các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”.

+ Bữa tiệc Thánh Thể mà Chúa Giê-su đã lập trong đêm thứ Năm Thánh là bằng chứng rõ rệt nhất của tình yêu. Và cho đến hôm nay, hơn 2000 năm đã qua đi, bữa tiệc ấy vẫn luôn hiện thực trên các bàn thờ trong các thánh lễ.

2. Sống tình yêu Thiên Chúa

 – Tình yêu con người: ích kỷ, chiếm hữu…

 – Yêu như Thầy yêu

+ “Thầy ban cho các con một giới răn mới, là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con”.

+ tình yêu đúng nghĩa là hy sinh, là quên mình để phục vụ, là cống hiến không ngừng cho tha nhân được hạnh phúc

+ Cuộc đời mình không ngừng là tấm bánh bẻ ra vì anh chị em. Khi mời gọi “các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy”, Chúa tha thiết kêu mời chúng con hãy yêu nhau theo cách yêu của Chúa

+ Ở cuối văn kiện Tòa Thánh, các Ðức Giáo Hoàng thường ghi dòng chữ này cùng với chữ ký của mình: “Tôi tớ của các tôi tớ”. Ðây là tinh thần mà Chúa Giêsu muốn tất cả các vị lãnh đạo trong Giáo Hội phải có, như được đề cập đến trong bài Tin Mừng hôm nay: “Ai muốn làm đầu thì phải làm người rốt hết, và làm tôi tớ mọi người”.

+ Mẹ Têrêsa Calcutta nói:” Đừng thỏa mãn với việc cho đi tiền bạc. Tiền bạc mà thôi chưa đủ, còn cần tấm lòng yêu thương nữa”. Tập thực hành đức yêu thương và phục vụ trong những việc nhỏ nhặt nhất trong đời sống thường ngày để dâng những công việc bác ái đó làm của lễ mỗi khi bạn tham dự bàn tiệc Thánh Thể.

+ Chứng từ: Ý tình cờ nhặt được một chiếc ví trong con hẻm nhỏ. Khi mở ra, trong ví gồm có một chiếc điện thoại iPhone 5S, 15,5 triệu đồng tiền mặt cùng 2 quyển sổ tiết kiệm trị giá hơn 1,3 tỷ đồng. “Tôi chỉ muốn nhanh chóng trả lại chiếc ví. Tôi nhặt được ví khi đang trên đường đến nhà bạn. Thấy trong đó là tài sản lớn, tôi nghĩ ngay người mất sẽ rất đau khổ nên muốn nhanh chóng trả lại họ. Do điện thoại của chủ nhân có mật khẩu nên tôi không thể liên lạc ngay với người thân của họ. Chỉ đến khi có người gọi đến điện thoại của người mất ví, tôi mới có số điện thoại trao đổi để tìm chủ nhân chiếc ví. Lúc gặp được chị Thư qua điện thoại đã gần 17g, tôi vội đi lễ nhà thờ nên mới hẹn đến chỗ tôi làm ở nhà nghỉ Sao Mai để trả ví. Do quá vội nên tôi không có thời gian báo công an, vả lại lúc đó tôi chỉ nghĩ làm sao trả lại tài sản cho người mất nhanh nhất là được. Khi công an tới, thật sự tôi rất bất ngờ nhưng nghĩ mình không làm gì sai nên không lo sợ”.

Kết luận: Lạy Chúa Ki-tô, Mẹ Hội Thánh muốn chúng con quay về với tình yêu của Chúa để trước hết được thánh hóa, hầu có thể yêu tha nhân như Chúa đã hiến thân mình để yêu thương chúng con.

Đối với con, Ta là ai?

“ Chúa Giê-su chịu hấp hối cho đến tận thế”, câu nói của một triết gia công giáo cho thấy sự thương khó của Chúa vẫn tiếp diễn. Cho đến hôm nay, người ta vẫn chế nhạo Chúa và những ai tin vào Ngài. Người ta kết án tử Ngài và làm cho ngài biến mất để chứng minh rằng ngài là một tên bịp bợm không còn tồn tại.

Từ hơn 2000 năm qua, vụ kết án của Chúa Giê-su vẫn tiếp tục được nhắc lại năm này qua năm khác, thế kỷ này qua thế kỷ khác. Hôm nay cũng thế, Đức Ki-tô đang nhìn chúng ta với lòng nhân từ và đặt cho chúng ta câu hỏi: Đối với con, ta là ai?

Trong bài thương khó theo thánh Luca mà chúng ta vừa nghe, Chúa Giê-su bị vây quanh bởi nhiều gương mặt khác nhau: các biệt phái và luật sỹ, quan Phi-la-tô, thượng tế Caipha, ông Giu đa, Phê rô và các môn đệ, ông Simon thành Cy-rê-nê, người trộm lành, ông Giu-se thành Arimathia, các phụ nữ theo Chúa, viên bách quan và những người lính…

Qua đám đông những người tin hoặc không tin theo Đức Giê-su đó, Thánh Luca làm nổi bật lên khuôn mặt Thiên Chúa đầy lòng thương xót, nhân từ và bao dung. Đó chính là điểm nhấn của Tin mừng Luca, muốn diễn tả tình yêu của Thiên Chúa Cha biểu lộ qua Đức Giê-su, dành cho những người nghèo, những người đau khổ những người bên lề xã hội.

Điểm lưu ý trong bài thương khó theo Thánh Luca mà các phúc âm khác không nói đến, là ba lần Chúa lên tiếng để mạc khải căn tính của Thiên Chúa. Chúng ta cùng suy gẫm ba lời này của Chúa Giê-su.

Lời thứ nhất: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”. Lời này là tiếng kêu sâu thẳm của tình yêu chỉ có nơi Thiên Chúa. Tiếng kêu của sự tha thứ đáp lại những lời nguyền rủa, những lời chế nhạo của đám đông vây quanh, của các luật sỹ và biệt phái, của những người lính canh.

Trong suốt cuộc đời, Chúa Giê-su rao giảng sự tha thứ. Ngài đã yêu cầu các môn đệ tha thứ không chỉ cho nhưng người thân cận mà cả những kẻ thù những kẻ làm hại mình. Ngài đã yêu cầu Phê-rô phải tha thứ không chỉ bẩy lần nhưng là bẩy mươi lần bẩy; trong dụ ngôn người con hoang đàng, ngài cho thấy hình ảnh Thiên Chúa như một người Cha đã mở tiệc ăn mừng khi đứa con đi hoang trở về. Bị đối xử như một kẻ gian ác, bị kết án tử nhục nhã và bất công, bị đóng đinh giữa hai tên trộm cướp, nhưng Chúa Giê-su vẫn vượt thắng tất cả để thốt lên lời tha thứ: Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”.

Lời thứ hai: “Ngày hôm nay, người ở trên thiên đàng với ta”. Đó chính là lời Chúa dành cho tên trộm đã tin vào Ngài. Vâng, Chúa đã biểu lộ tình yêu và lòng nhân trong suốt những năm tháng trong cuộc đời: Maria Madalena, Gia-kêu, người phụ nữ Samaria, người đàn bà ngoại tình, Phê-rô,  những người què quặt đui mù, đau yếu, quỷ ám v.v. đều nhận được lòng thương xót của Chúa. Và ngay cả lúc hấp hối, Chúa vẫn đón nhận người tử tội cùng chịu đóng đinh với Chúa: Ngay hôm nay, người sẽ ở trên thiên đàng với ta. Ngay ở ngưỡng của sự chết, Chúa Giê-su mở ra cho người bất hạnh này niềm hy vọng và sự sống. Trải qua các thế kỷ, Chúa Ki-tô vẫn luôn luôn là niềm hy vọng cho biết bao nhiêu tâm hồn và Ngài tiếp tục làm điều đó hôm nay.

Lời thứ ba: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha”. Thánh sử Luca cho thấy cái chết của Chúa Giê-su không phải là một biến cố vô nghĩa nhưng là một sự biểu lộ tình yêu, là một cuộc vượt qua về với Chúa Cha: Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha. Dù Chúa Giê-su vẫn luôn sống mối tương quan mật thiết với Chúa Cha nhưng trong lúc thử thách này, trong nỗi sợ hãi của thân phận con người trước cái chết, Ngài vẫn cần đặt niềm tin tưởng trong vòng tay yêu thương của Chúa Cha.

Bản văn của Thánh Luca giúp chúng ta khám phá ra một Thiên Chúa đầy tràn tình yêu và nhân từ, một Thiên Chúa đã cho đi tất cả mà không tiếc chúng ta điều gì. Đó chính là nguồn hy vọng lớn lao cho đời sống đức tin của người tín hữu chúng ta. Vậy ước gì trong tuần thánh này, tuần lễ quan trọng nhất đối với mọi tín hữu, đỉnh cao của năm phụng vụ, không qua đi vô ích nhưng là thời khắc tuyệt hảo nuôi sống niềm tin và niềm hy vọng cho mỗi người chúng ta. Amen.

Tôi cũng không kết án chị

Tự nhiên chúng ta thường dễ xét đoán và kết án người khác. Tuy nhiên với ánh mắt của Chúa Giê-su dành cho người phụ nữ ngoại tình bị mọi người kết án, Tin mừng hôm nay  mời gọi chúng ta biến đổi cái nhìn đối với những anh chị em xung quanh.

Chúa Giê-su nhìn người phụ nữ ngoại tình như ngài đã nhìn Gia-kêu, Maria Madalena, người phụ nữ thành Samaria và Phê-rô khi ông chối Ngài. Chúa nhìn mọi người với ánh mắt nhân từ và bao dung. Cái nhìn của Chúa mang đến sự cứu vớt và trao ban sự sống. Một cái nhìn chan hòa tình yêu.

Đối với người phụ nữ ngoại tình, cho đến lúc gặp Chúa Giê-su, bà chỉ thấy hai ánh nhìn. Ánh nhìn thèm muốn nhục dục của những người đàn ông và ánh nhìn chết chóc do hận thù và oán ghét. Ngược lại khi gặp Đức Giê-su, ngài đã ngước nhìn bà với ánh mắt tôn trọng, cảm thông và chia sẻ. Ngài không chỉ tay kết án bà mặc dù Ngài không thỏa hiệp với tội lỗi của bà. Ngài nâng bà lên khỏi vũng bùn tội lỗi và trả lại cho bà phẩm giá làm người. Ngài kêu mời bà quên đi quá khứ và bắt đầu lại một cuộc sống mới.

Câu chuyện kinh thánh hôm nay là một minh họa cụ thể về thái độ của Thiên Chúa đối với tội nhân, cụ thể là một tội nhân đáng thương mà chính Chúa Giê-su gặp gỡ và bảo vệ để chống lại sự độc ác của con người. Đây không phải là một câu chuyện về việc ngoại tình, nhưng là một mạc khải về Chúa Giê-su và về cái nhìn của Ngài đối với người phụ nữ bị kết án ném đá này.

Lòng thương xót của Thiên Chúa thật phong nhiêu và nó mở ra cho chúng ta một tương lai tràn đầy hy vọng, như là ngôn sứ Isaia đã nói trong bài đọc thứ nhất rằng: “Các ngươi đừng nhớ lại những chuyện ngày xưa, chớ quan tâm về những việc thuở trước”. Chúa Giê-su đã cứu người phụ nữ này khi mạc khải cho chị khuôn mặt của lòng từ bi  và đầy lòng thương xót của Thiên Chúa. “ Tôi không kết án chị”, sự tha thứ đã giải thoát chị khỏi tội lỗi  và quên đi quá khứ đau thương. Chúa Giê-su không kể tội chị nhưng chỉ quan tâm đến tương lai của chị “ chị hãy đi và đừng phạm tội nữa”.

Khi trao cho chị phụ nữ ngoại tình ánh nhìn đầy nhân từ, thì đồng thời Thiên Chúa đã vén mở cái mặt nạ của những kẻ muốn kết án chị. Thực tế thì con người dễ bị kích động thể hiện những lời giận dữ và hành động tàn ác với địch thù khi là thành phần của một đám đông hung dữ, chắc hẳn ai đã từng chứng kiến cảnh những kẻ trộm chó bị đánh chết bởi đám đông thì sẽ cảm nhận rõ điều này. Quang cảnh đám đông xung quanh Chúa Giê-su cũng thế. Họ bừng bừng sát khí, muốn Chúa cùng với họ ném đá chết người phụ nữ đáng thương này. Nhưng Chúa Giê-su đã giúp họ thoát ra khỏi cái khí thế hừng hực đầy tàn nhẫn này khi ngài mời gọi họ nhìn vào bên trong con người họ thay vì chỉ nhìn vào chị phụ nữ ngoại tình mà họ coi như là một phương tiện để gài bẫy và kết án Đức Giê-su. Những con người này sẵn sàng ném đá chết người phụ nữ vì họ bị xúi bẩy bởi những người lãnh đạo có quyền kết án người khác nhưng lại quên lên án chính bản thân mình.

Chúa Giê-su không chỉ vạch mặt sự thánh thiện giả hình của họ mà còn buộc họ phải ngượng ngùng thả rơi những hòn đá khỏi bàn tay  mà im lặng rút lui. Chúa đã vén mở lương tâm của họ và chỉ cho họ thấy lòng họ chẳng tốt đẹp là bao, họ cần phải lấy cái xà ra khỏi mắt họ trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt những người anh em.

Khi im lặng, cúi xuống viết trên đất mà không nhìn ai, Chúa Giê-su dường như để họ tự kết án bản thân và quang cảnh diễn ra khá hài hước khi thánh sử Gioan mô tả rằng “họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi”. Vâng,  họ đã thật sự xấu hổ trước lời chất vấn của Chúa: Ai trong các ông sạch tội, hãy ném đã người phụ nữ này trước đi”, và kết quả là những người lớn tuổi là những người rút lui trước hết.

Câu chuyện trong bài Tin mừng hôm nay là một thông điệp gửi đến cho mỗi chúng ta. Thông điệp chính là:  nếu nơi đâu một người bị ném đá, nơi đâu người ta ném đá giết hại người khác, nơi đâu người ta bôi nhọ thanh danh người khác bởi sự gian dối, nói xấu và vu khống, thì Chúa Giê-su đang mời chúng ta hãy rút lui và đừng bao giờ gia nhập và chung tay cổ võ.

Chúng ta cần xác tín rằng thế giới này sẽ trở nên hoàn thiện hơn nếu con người đổi thay, nếu mỗi chúng ta bắt đầu biến đổi và canh tân chính đời sống của mình.

Những ngày chay thánh là thời gian thuận tiện để mỗi chúng ta biết mở rộng con tim mình để cho Chúa đặt nơi chúng ta một ánh nhìn đầy lòng nhân từ và thương xót của Ngài và nói với chúng ta rằng: Cha cũng không kết án con, con hãy đi và đừng phạm tội nữa. Amen.

Scroll to Top