Month: May 2022

Xin cho chúng nên một

Tinh thần nào giúp cho Giáo Hội hôm nay trở nên chứng tqư đích thực của Chúa Ki-tô?

Một người kia có ba người con trai, trước khi qua đời, ông muốn dạy các con bài học hiệp nhất: “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”, ông gọi các con đến và nói: “Vàng bạc thì cha không có, cha có một gia tài quý giá hơn cả vàng và muốn để lại cho các con”. Nói xong ông lấy ra ba chiếc đũa tre trao cho ba người con mỗi người một chiếc và bảo: “Các con hãy bẻ gãy chiếc đũa cho cha coi”. Ba người con vâng lời cha bẻ gãy chiếc đũa dễ dàng.

Sau đó người cha trao cho ba người con mỗi người một bó đũa và nói: “Các con hãy bẻ gãy bó đũa này cho cha xem”. Lúc này ba người con dùng hết sức vẫn không sao bẻ gãy được. Bấy giờ người cha mới nói: “Nếu các con biết đoàn kết thương yêu nhau, thì các con giống như bó đũa kia sẽ không có sức mạnh nào làm gãy được các con. Ngược lại nếu các con không đoàn kết thương yêu nhau mỗi người một nơi, thì các con sẽ như chiếc đũa kia bị bẻ gãy một cách dễ dàng, hiệp nhất: Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”.

Nói xong, người cha ra đi trong vòng tay yêu thương của các con.

Câu truyện trên mình chứng cho chúng ta một điều cốt yếu cho việc rao truyền tin mừng là sự hiệp nhất của Giáo Hội được đặt nền tảng bởi lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trong bài Tin mừng. Chúng ta đã lắng nghe lời cầu nguyện lâu giờ của Đức Giê-su trong những giây phút chuẩn bị từ bỏ đời này mà về cùng Chúa Cha. Mối bận tâm lớn nhất của Chúa không phải là Giáo Hội sẽ được tổ chức quy mô, cũng không phải là các bí tích được cử hành long trọng hay hoàn hảo cho bằng những người tin hiệp nhất nên một như lời thân thưa của Ngài với Chúa Cha: lạy Cha, xin cho chúng nên một như chúng ta là một. Vậy sự hiệp nhất trở nên nền tảng cho sứ mạng tiếp nối công cuộc rao giảng Tin mừng của Giáo Hội.

Từ kho tàng vô giá của Kinh thánh mà chúng ta vừa cùng nhau suy niêm, hệ luận cho việc rao truyền tin mừng nước Chúa, là chúng ta cần hiệp nhất trong yêu thương. Sự hiệp nhất trong yêu thương được mở rộng tới cả những kẻ bé mọn, những người nghèo khó, bị loại trừ và tất cả những người nam và người nữ bị khước từ do quá khứ lỗi lầm của họ.

Tuy nhiên chính Thiên Chúa mới là Đấng đang có đó để liên kết  những anh chị em này với Giáo Hội  và loan báo cho họ tin vui của tình yêu cũng như trao tặng lại cho họ niềm vui mừng và hy vọng. Noi gương Đức Giê-su, chúng ta phải biết tha thứ cho nhau để làm chứng cho lòng thương xót của Chúa đối với toàn thể nhân loại. Sứ mạng này chỉ có thể được hoàn thành nếu  các tín hữu Chúa sống tinh thần hiệp nhất yêu thương.

Trong cuốn 5 chiếc bánh và 2 con cá, vị tôi tớ Chúa là ĐHY Phanxicô đã chia sẻ lúc bị giam ở trại tù Phú Khánh rằng: Một đêm đông lạnh quá, không ngủ được, tôi nghe một tiếng nhắc nhủ tôi:  “Tại sao con dại thế?  Con còn giàu lắm:  Con mang tình thương Chúa Giêsu trong tim con.  Hãy yêu thương họ như  Chúa Giêsu đã yêu con”.  Sáng hôm sau, tôi bắt đầu mến những người lính gác, yêu mến Chúa Giêsu trong họ, tươi cười với họ, trao đổi đôi ba câu nói…  Tôi thuật lại những chuyến đi ra nước ngoài, cuộc sống, văn hóa, kinh tế, khoa học kỹ thuật, tự do dân chủ ở Canada, Nhật Bản, Philippines, Singapore, Pháp, Đức, Úc, Áo, v.v…  Những câu chuyện đó kích thích tính tò mò của họ, giục họ đặt nhiều câu hỏi.  Tôi luôn luôn trả lời…  Dần dần chúng tôi trở thành bạn.  Họ muốn học sinh ngữ Anh, Pháp… tôi giúp họ.  Từ từ mấy chiến sĩ gác tôi trở thành học trò của tôi!  Bầu khí nhà giam đổi nhiều, quan hệ giữa họ với tôi tốt đẹp hơn.  Thậm chí cả những ông xếp công an, thấy tôi đối xử chân thành, không những họ xin tôi giúp các chiến sĩ học hành ngoại ngữ, nhưng họ còn gửi anh khác đến học”.

Qua chứng từ trên, ta thấy để đạt được sự hiệp nhất  này, vấn đề không phải là tìm kiếm những sự đồng nhất của các ý tưởng giữa người này với người khác, mà điều quan trọng là ĐHY chia sẻ tình thương của Đức Ki-tô cho những người anh em để đổi thù thành bạn. Đối với con cái Giáo Hội là chúng ta cũng thế, điều quan trọng là tập họp với nhau xung quanh Chúa Giê-su và hiệp nhất với nhau trong lời cầu nguyện. Vậy đừng chờ đợi cho đến lúc hoàn hảo mới có thế hướng lòng về với Chúa bởi vì chính Ngài đang mời gọi chúng ta cùng nhau nối kết với lời cầu nguyện của Ngài cho sự hiệp nhất các môn đệ: lạy Cha, xin cho chúng nên một.

Lời cầu nguyện này còn nối kết với chúng ta hôm nay trong một thế giới đang đau đớn vì bạo lực và chiến tranh. Có biết bao nhiều người nam và nữ, cùng với các trẻ em đã bị bách hại và tàn sát đẫm máu vì niềm tin vào Đức Ki-tô. Kính thưa…trong ngày Chúa nhật hôm nay,  chúng ta cùng cầu xin Chúa cho công cuộc hòa giải các dân tộc và cho tiến trình thực thi công lý trên toàn thế giới. Xin Chúa cho chúng ta sự can đảm và sức mạnh để sẵn sàng chung tay xây dựng một thế giới mỗi ngày một công bằng, huynh đệ hơn và cho một thế giới đầy tràn tình yêu thương và hiệp nhất trong Đức Ki-tô Chúa chúng ta. Amen

Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế

Trong ngày lễ Chúa Lên Trời, chúng ta không cử hành sự ra đi của Chúa Giê-su Ki-tô phục sinh nhưng là sự hiện diện rõ hơn của Chúa trong đời sống mỗi ngày. Chúa Giê-su đã hoàn thành sứ vụ nơi trần thế và Ngài tiếp tục đồng hành và ở cùng chúng ta theo một cách thức mới như lời Chúa nói: “ Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.

Ngài sẽ hiện diện bởi Lời Chúa, bởi các Bí tích, bởi Thánh lễ và bởi những ai cần đến chúng ta, vì “ mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25). 

Để hiểu rõ sứ điệp của ngày lễ Chúa Lên Trời hôm nay, chúng ta đã được các bài đọc và bài Tin mừng soi sáng.

Như chúng ta thấy, vào buối tối bữa Tiệc Ly, Chúa Giê-su đã nói với các Tông Đồ: “ Thầy không để anh em mồ côi” và Ngài hứa ban Chúa Thánh Thần: “ Anh em hãy nhận lấy một sức mạnh, là Chúa Thánh Thần sẽ xuống trên anh em.  Vậy anh em hãy trở nên chứng tá của Thầy ở Giêrusalem, trong cả miền Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất”.

Vâng, sứ vụ mà Chúa Giê-su tửi đến cho chúng ta là làm chứng tá cho một Thiên Chúa luôn gần gũi mọi người như chính Chúa Giê-su đã trở nên gương mẫu. Trước những chống đối của các luật sỹ và biệt phái, Chúa Giêsu đã đứng về phía các người ngoại Samaria, những đứa con hoang đàng, các cô gái điếm, ngoại tình, những người làm công cuối ngày, các người thu thuế, các người tội lỗi. Ngài luôn bảo vệ những người bị xã hội loại trừ: họ là những người thấp cổ bé miệng, những người cùi hủi, các phụ nữ và trẻ con. Ngài không loại trừ ai. Trong đường phố, trong các hội đường, hay ở bờ biển, nơi các gia đình, đền thờ, bên bờ giếng Gia-cóp, hay trên núi cao, “ Ngài đều rảo qua để thi ân giáng phúc”.

Người ta thường kết án Ki-tô giáo là “thuốc phiện mê dân”, một dạng ma túy làm cho con người quên đi những vẫn đề của đời sống hiện tại, khi đưa ra những lời hứa về hạnh phúc sau cái chết. Quan niệm này hoàn toàn ngược lại với điều mà Thiên thần hiện ra nói với các tông đồ khi xưa: “ Hỡi người Galillê, sao các ông còn ở đó hướng nhìn lên trời?”. Nói thế có nghĩa là đừng để đầu óc trên mây nữa, nhưng là hãy nhìn xuống đất để thấy được những gì đang xẩy trong thế giới này, hãy quay trở lại quê hương Gallilê của các ông, có nghĩa là trở về với môi trường sống hiện tại, trong làng trong phố, trong gia đình mình.

Quả vậy, không phải chúng ta chỉ thấy Chúa khi ở trên trời nhưng là trong đời sống hàng ngày của mỗi chúng ta. Chính mỗi chúng ta có nhiệm vụ hoàn thành chương trình của Thiên Chúa trong môi trường sống hiện tại với tình liên đới với tất cả mọi người xung quanh. Thiên Chúa trao nhiệm vụ cho những người tin mà chúng ta là “những người tin vào Đức Ki-tô thì có nhiệm vụ chu toàn những công việc mà Chúa trao phó. Trong đoạn tường thuật biến cố lên trời, thánh sử Maccô còn nói thêm: “ Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ.” Vâng, mang niềm vui và hạnh phúc đến cho người khác là sứ mạng mà Chúa trao phó mỗi chúng ta trong đời sống hiện tại này.

Ngày 13.05, kỷ niệm Đức Mẹ hiện ra  ở Fatima năm 1917, chúng ta nhắc lại biến cố Đức Mẹ hiện ra với 3 em Luxia, Phanxicô và Giaxinta. Khi đó 3 em đó cũng đơn sơ hỏi Đức mẹ “Thưa Bà, Bà ở đâu đến vậy ?” Đức Mẹ đưa tay lên cao và nói “Từ trời xuống”. 3 em liền xin “Vậy xin Bà cho chúng con cũng được lên trời đi”. Đức Mẹ mỉm cười đáp “Phanxicô và Giaxinta thì Ta sẽ cho về trời trong một ngày gần đây ; còn Luxia thì hãy chịu khó ở lại trần thế này một khoảng thời gian nữa. Kể từ ngày đó 2 em kia lúc nào cũng mơ ước tới ngày được lên trời. Dù sắp chết 2 em cũng chẳng chút lo sợ, lại còn mừng vì mình sắp được lên trời.

Trong niềm tin tưởng như hai em nhỏ Phan xicô và Gianxita là sẽ được lên Trời với Đức Ki-tô sau khi vượt qua cõi đời này, mỗi chúng ta hãy tiếp bước các tông đồ khi xưa tiếp nối sứ mạng của Chúa ở trần gian qua việc thực hiện lời dạy của Thầy Chí Thánh: “anh em hãy ra đi rao giảng Tin mừng cho muôn dân” để chia sẻ niềm hy vọng lớn lao này cho mọi người xung quanh chúng ta.

Thực vậy, trong mỗi cử hành Thánh lễ, thường được kết thúc bằng lời sai đi gửi tới cộng đoàn là: “ Lễ xong chúc anh chị em đi bình an”…Lời chúc này có ý nghĩa như là lời sai đi làm chứng tá cho Tin mừng, cho những điều kỳ diệu trong thánh lễ đã lãnh nhận. Lời chúc này cũng có ý nghĩa đừng đứng đó mà nhìn lên trời, nhưng hãy trở về nhà, trong môi trường mà ở đó sứ vụ đang chờ đợi mỗi chúng ta. Xin cho mỗi chúng ta tham dự thánh lễ hôm nay mừng Chúa Về Trời cũng trở nên những tông đồ đích thực làm chứng tá cho niềm hy vọng lên trời trong việc chu toàn ơn gọi và những công việc bổn phận hằng ngày của mình. Amen.

Yêu thương nhau

Trình thuật Tin mừng hôm nay thuộc về chương 13 của Tin mừng Thánh Gioan. Phần đầu tiên của chương này cho thấy Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ của mình. Qua đó Ngài cho họ một mẫu gương về tình yêu và sự phục vụ. Yêu thương và phục vụ trở thành dấu hiệu đặc biệt của các môn đệ Chúa Giêsu. “nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.” (Ga 13:14)

Làm thế nào để biết chúng ta là môn đệ thực sự của Chúa Kitô? Câu cuối cùng của Tin Mừng hôm nay cho chúng ta câu trả lời thật rõ ràng: “Căn cứ vào điều này mà mọi người nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là nếu các con yêu thương nhau”. Yêu thương nhau đó chính là dấu chỉ của các Kitô hữu. Thực vậy các nghi lễ, tổ chức, bí tích, đều quy về điều này, cũng như nuôi dưỡng và thể hiện tình yêu mà chúng ta dành cho nhau.

Điều răn yêu thương không phải là điều gì mới mẻ. Đó là một trong những điều cơ bản trong truyền thống Kinh Thánh, như sách luật Lêvi viết rõ: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19:18). Điều mới mẻ ở đây là cách thể hiện tình yêu này, đó là: “yêu nhau như Thầy yêu anh em”. Như vậy điều răn mới về tình yêu ở đây là: yêu như Chúa Giêsu yêu thì vượt trên cả yêu chính bản thân mình.

Tình yêu mà Chúa Kitô nói tới hôm nay là một nguồn nước của sự sống mang lại một mùa xuân mới. Nó là một loại dầu dưỡng chữa lành vết thương. Tình yêu này là một tình yêu sâu sắc, chung thủy, một tình yêu mạnh mẽ hơn sự giận ghét, mạnh hơn bất công và mạnh mẽ hơn cái chết. Tình yêu này là một tình yêu mới bởi vì nó đi tới tận cùng, đó là  “Yêu thương nhau như Thầy yêu anh em”. Giới răn này là đòi buộc duy nhất của giao ước mới được ký kết bằng chính tình yêu trên Thập giá của Đức Giêsu Ki-tô. Tất cả mọi thứ khác là thứ yếu nên sứ mệnh này đã được chính Chúa Kitô giao phó cho tín hữu để nhờ đó mà “người ta sẽ biết anh em là môn đệ thầy nếu anh em yêu thương nhau.”

Điều ưu tiên trong đời sống Giáo hội không phải là luật pháp, thể chế, cơ chế tổ chức, giáo thuyết, truyền thống…. Cũng không phải là phải cầu nguyện, làm phúc, bố thí, hay trang hoàng bàn thờ và nhà thờ hoành tráng. Tất cả những điều này rất quan trọng, nhưng điều hoàn toàn cần thiết là tình yêu chúng ta dành cho nhau. Đây là dấu hiệu duy nhất để mọi người được nhận ra ai là môn đệ của Đức Ki-tô. Đây là điều răn mới mà Chúa Kitô đã để lại cho chúng ta như một di sản vô giá.

Sau phần truyền phép của mỗi thánh lễ, chúng ta thưa lên lời kinh nguyện Thánh thể để tình yêu mới này sẽ được thực hiện trong chúng ta đó là “khi thông phần vào Mình và Máu Thánh Chúa Kitô, chúng con tha thiết nài xin để chúng con được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần.” Tình yêu này là có thể và nó thực sự tồn tại trong thế giới của chúng ta ngày nay.

Chuyện kể một ngày nọ, khi thánh Têrêsa thành Calcutta (Mẹ Têrêsa, 1910-1997) và các Thừa sai Bác ái của bà đang chăm sóc những người nghèo nhất trong số những người nghèo trên đường phố Calcutta, họ tình cờ gặp một người đàn ông nằm trong rãnh nước, sắp chết. Ông ta bẩn thỉu, chỉ cuốn một tấm giẻ rách và ruồi nhặng bâu quanh người. Ngay lập tức, Mẹ Têrêsa ôm lấy ông, nói chuyện nhẹ nhàng với ông và bắt đầu gắp những con giòi đang làm tổ trong da thịt ông. Một người qua đường cảm thấy ghê tởm khi nhìn thấy cảnh tượng đã thốt lên với Mẹ Têrêsa: “Tôi sẽ không làm điều đó dù được cho một triệu đô la.” Phản ứng ngay của Mẹ: “Tôi cũng vậy!” Đích thực, tiền bạc không phải là động lực thúc đẩy người phụ nữ nhỏ bé được mệnh danh là thánh Têrêsa Calcutta; chính tình yêu đã làm.

Không yêu thương được bằng mẹ Têrêsa, nhưng chúng ta có thể thấy trong đời sống thường ngày nhiều chứng tá nhỏ bé phản ảnh tình yêu như Chúa Giêsu yêu thương như: Cha mẹ trong nhiều năm dành tình yêu và tình cảm cho một đứa trẻ khuyết tật không thể tự chăm sóc bản thân; Vợ chồng chăm sóc nhau lúc đau yếu bệnh tật; con cái chăm sóc cha mẹ già, thường xuyên đến thăm và giúp đỡ họ về tài chính; nhưng tình nguyện viên một phần thời gian của họ để tình nguyện, thăm người bệnh, đồng hành với người già, giúp đỡ người khuyết tật…hay các anh chị em Caritas dành thời gian và tiền bạc để giúp đỡ các nạn nhân của các nạn dịch và thảm họa trên toàn thế giới; v.v. Tình yêu thương nhau này được biểu lộ theo hàng ngàn cách thế trong cuộc sống hàng ngày như: lắng nghe, chào đón, chăm sóc người khác, phục vụ những người yếu đuối nhất, lòng trắc ẩn, sự tha thứ, lòng thương xót, v.v. Nó được phản ánh trong các hành động đơn giản của cuộc sống hàng ngày và trong các hoạt động cộng đồng ủng hộ lợi ích chung, nhân quyền, công bằng xã hội, phân phối hàng hóa tốt hơn, môi trường chất lượng cao, cuộc chiến chống phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, phân biệt đối xử, v.v. Bằng cách yêu thương lẫn nhau như Chúa Kitô yêu thương, là chúng ta tham gia vào việc xây dựng Đô Thành mới trên Nước Trời, kính thưa… nơi đó “sẽ không có cái chết, không có tang tóc, không có nước mắt, không đau đớn, không bạo lực, không chiến tranh, không bóc lột”.

Ước gì lời Chúa Giêsu hôm nay luôn vang vọng trong tâm hồn mỗi người chúng ta: “Thầy ban cho các con điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau. “

Mục tử nhân lành

Một triết gia có tên là Henri Bergson đã viết như sau: Hàng trăm cuốn sách tôi đã đọc, không đem lại cho tôi sự an ủi bằng lời Thánh vịnh 23: “ Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người”.

Mỗi chúa nhật IV phục sinh, chúng ta lại có dịp đọc lại và cùng nhau suy niệm về dụ ngôn Chúa Chiên Lành, với hình ảnh người mục tử vác chiên trên vai được thể hiện nhiều nhất trong nghệ thuật ki-tô giáo. 

Đối với người Việt chúng ta thì hình ảnh “chiên và người mục tử” không phải là một hình ảnh gần gũi vì ở Việt Nam không chăn nuôi cừu chiên như ở Palestine xưa. Hơn nữa trong cuộc sống hiện đại hôm nay, khi nói đến đàn chiên và mục tử có lẽ chẳng phù hợp tý nào, nhưng nếu đi sâu vào ý nghĩa tôn giáo thì hình ảnh chiên và mục tử lại tràn đầy ý nghĩa.

Quả vậy, Kinh thánh thường xuyên dùng hình ảnh mục tử để nói về các người lãnh trách nhiệm lãnh đạo trong dân hoặc chỉ về vị Vua – Đấng Messia.  

Đức Giê-su là Đấng Messia, Ngài cho chúng ta thầy Ngài chính là mục tử nhân lành vì Ngài biết từng con chiên trong đàn và các con chiên biết ngài và dám thí mạng sống mình vì đàn chiên. Động từ “biết” ở đây không có nghĩa là biết cách trừu tượng nhưng là một sự dấn thân hiệp thông, một sự ban tặng hỗ tương, một sự đối thoại, tắt một lời đó là một mối tương quan sâu sắc trong ý nghĩ, hành động và con tim.

Vâng, Đức Giê-su biết tất cả chúng ta một cách sâu sa trong tận sâu thẳm của tâm hồn. Và khi biết như thế không có nghĩa là Ngài chỉ biết rõ những con chiên béo, những con chiên ngoan, những con chiên tốt mà Ngài đặc biệt quan tâm tới những ai chưa biết Ngài, những ai đang sống bên lề tình yêu thương của Ngài. Cách này hay cách khác, tất cả mọi người đều thuộc về đoàn chiên của Ngài, dù vẫn còn đó những con chiên xấu đang làm cho những con chiên tốt không nghe theo tiếng gọi của Vị mục tử, rời bỏ đoàn chiên đi hoang trong lợi lộc và thú vui trần thế.  Tuy nhiên thì Đức Ki-tô tình yêu vẫn không ngừng lôi kéo và tập hợp những con chiên lạc trở về cùng một đoàn chiên và một Chúa chiên.

Hôm nay Thiên Chúa tin tưởng tất cả chúng ta, là đoàn chiên của Chúa đang hiện diện trong ngôi nhà thờ chính tòa này và trao phó cho mỗi chúng ta sứ mạng của người chăn chiên lành. Đây chính là lời mời gọi mà Chúa gửi đến cho tất cả mọi người, trước hết là các bạn trẻ biết quảng đại tận hiến đời mình cho Chúa để trở thành các linh mục và tu sỹ rao giảng và làm chứng nhân của Tình Yêu trong thế giới hôm nay.

Trong ngày hôm nay, kính thưa…là ngày thế giới cầu nguyện cho ơn kêu gọi lần thứ 59. Thiên Chúa tiếp tục mời gọi các linh mục, các phó tế, các tu sỹ nam nữ và anh chị em giáo dân tham dự vào trong kế hoạch cứu độ của Ngài. Chúa kêu gọi tất cả mọi người tham dự vào sứ mạng cao cả này, nên chúng ta không thể nói tôi đã quá tuổi, hay tôi quá trẻ, tôi không có khả năng hay tôi quá mệt mỏi…Vâng lời mời gọi của Chúa thật tha thiết khi nói với chúng ta như nói với các tông đồ khi xưa rằng: Đừng sợ, Thầy đang ở cùng con.

Với Bí tích Thánh Thể mà chúng ta tham dự, nếu chúng ta nối kết đời mình với Mình và Máu Thánh Đức Ki-tô, chúng ta sẽ kín múc được từ đó nguồn mạch của tình yêu tuôn chảy từ Thiên Chúa. Chính Tình yêu thương của Ngài sẽ đưa chúng ta tham dự vào kế hoạch của Đức Ki-tô.

Lạy Chúa, xin ban thêm cho chúng con sức mạnh và sự can đảm để chúng con có thể trung thành với sứ mạng mà Chúa trao phó cho mỗi người chúng con. Amen.

Các con có gì ăn không?

Tin mừng hôm nay trình thuật Chúa Giê-su phục sinh hiện ra lần thứ ba với các môn đệ. Biến cố này xẩy ra ở bờ biển hồ Gallilêa. Mọi sự bắt đầu bởi sáng kiến của ông Phêrô khi ông đề nghị anh em đi đánh bắt cá, nhưng lại không bắt được con cá nào. Chính vào giây phút thất bại này mà Chúa Giê-su đến với các ông. Khi mà mọi sự dường như kết thúc thì Chúa Giê-su lại đến tìm kiếm các ông. Ngài hiện diện với họ bên bờ hồ, nhưng họ không nhận ra Ngài.

Trước những buồn chán và mệt mỏi sau mẻ cá thất bại, Chúa Giê-su đã yêu cầu các môn đệ tiếp tục thả lưới: hãy thả lưới ở mạn phải thuyền, anh em sẽ bắt được cá. Và kết quả vượt quá niềm hy vọng của các môn đệ. Họ đã bắt được mẻ cá đầy.

Tin mừng cho thấy các môn đệ đã bắt được 153 loại cá. Con số biểu tượng này tương đương với tất cả các loài cá tính được vào thời đó. Điều này muốn nói về sứ mạng hoàn vũ được trao cho nhưng ai được mời gọi trở nên những kẻ lưới người như lưới cá. Tuy nhiên, sứ mạng đặc biệt này chỉ có thể thực hiện với sự giúp sức của Thiên Chúa. Các môn đệ thả lưới nhưng chính Chúa làm cho mẻ lưới đầy cá. Đây là điều được thực hiện đối với mọi công cuộc truyền giáo: chúng ta được sai đi để loan báo Tin mừng cứu độ nhưng chính Chúa hoạt động trong con tim của những ai biết lắng nghe và làm cho sinh hoa kết quả.

Tất cả những điều đó đòi hỏi nơi mỗi chúng ta một tình yêu hoàn hảo dành cho Đấng đã kêu gọi và sai chúng ta đi.  Có một câu chuyện truyền kỳ về những ngày sau cùng của một con người đã hết lòng yêu mến Chúa, và đã cảm nghiệm sâu xa ơn thứ tha của Người, được kể lại như sau :

Ông đến Rôma giữa lúc Nêrông đang bắt bớ đạo thánh. Một số người đã chịu tử đạo. Tình thế nguy kịch, nên các tín hữu khuyên ông hãy chạy trốn ra khỏi thành, để còn người duy trì và giữ vững đạo thánh.

Khi ra khỏi cổng, ông gặp một người đang vác thập giá đi vào thành Rôma. Ông lên tiếng hỏi : “Quo vadis ?” nghĩa là “Người đi đâu đó ?” Người ấy trả lời : “Thầy đi vào Rôma để cho người ta đóng đinh một lần nữa”. Ông chợt hiểu, vội vàng quay lại Rôma. Ông nhập vào hàng ngũ các tín hữu sắp chịu cực hình để an ủi họ và giúp họ giữ vững niềm tin. Sau khi chứng kiến các tín hữu bị làm mồi cho thú dữ ăn thịt, bị hoả thiêu trên một rừng thập giá, thì chính ông cũng bị đóng đinh ngược, đầu quay xuống đất, theo lời ông xin, vì nghĩ mình không xứng đáng được đóng đinh như Thầy.

Con người yêu mến Chúa Giê-su ấy chính là Phêrô, và cái chết chứng mình cho tình yêu của người môn đệ đã được Chúa Giêsu tiên báo trong bài Tin Mừng hôm nay.

Hôm nay Chúa Giêsu hỏi Phêrô: Simon, con ông Giona, con có yêu mến thầy hơn những người này không? Câu hỏi này được lặp đi lặp lại tới 3 lần. Phêrô là vị tông đồ trưởng đã từng chối Thầy mình tới 3 lần trong cái hoàn cảnh, cái giây phút thử thách nhất đối với ông. Nhưng Chúa Giê-su đã cho ông cơ hội để đứng lên. Phêrô đã thưa với Thầy mình 3 lần để nói lên tình yêu của ông dành cho Chúa. Và lúc đó Chúa Giê-su đã trao phó cho ông chăm sóc đoàn chiên của Chúa. Quả vậy đó là một bằng chứng cho thấy tất cả các chứng nhân đức tin đều là những tội nhân đã được ban ơn tha thứ, những người đã được đón nhận bởi lòng thương xót Chúa.

Trong Chúa nhật kính Lòng Thương Xót Chúa tuần trước, chúng ta có dịp suy niệm về lòng thương xót không giới hạn của Chúa Giê-su Ki-tô. Mỗi chúng ta cần phải cảm nghiệm sâu xa về Lòng Thương Xót Chúa. Chúa Ki-tô nối kết với mỗi người ở bất cứ nơi đâu và khơi lên niềm hy vọng. Đối với Chúa, không bao giờ có tình trạng thất vọng. Như là Phêrô, mỗi chúng ta được mời gọi đắm chìm và nối dài niềm cậy trông dựa trên lời hứa của Chúa. Như Phêrô, chúng ta được sai đi để làm chứng tá cho niềm hy vọng trong thế giới này. Chúa Ki-tô phục sinh muốn biểu lộ lòng thương xót của Ngài cho tất cả mọi người và cho mỗi người. Chính Ngài nói với chúng ta rằng Ngài đến để “tìm kiếm và cứu vớt những người đã hư mất”. Ngài muốn chúng ta nối kết với sự hiển thắng của Ngài trên sự chết và tội lỗi.

Sứ điệp của Lời Chúa gửi đến cho chúng ta hôm nay đó là chính Đức Ki-tô phục sinh đang hiện diện, dù chúng ta không nhìn thấy Ngài. Ngài không ngừng liên đới với chúng ta trong tâm lòng, trong đời sống, trong những nỗi nghi nan và thử thách. Ngài đến ban ơn tha thứ và đặt niềm tin tưởng nơi mỗi chúng ta. Của ăn mà Ngài ban sẽ ban thêm sức mạnh, không phải là món cá nướng bên bờ biển hồ khi xưa nhưng là chính Mình và Máu Thánh Ngài. Như tông đồ Phêrô, mỗi chúng ta đã được ghi dấu ấn trong tình yêu của Chúa, nên được sai đi để làm chứng tá, để trở nên sứ giả sống động của Tin mừng cứu độ. Amen.

Scroll to Top