Tháng: Tháng Mười Một 2022

Tỉnh thức và cầu nguyện

Hôm nay chúng ta bắt đầu bước vào Mùa Vọng, là thời gian chuẩn bị mừng đại lễ Giáng sinh. Từ những ngày qua, các cửa hàng ở phố Hàng mã và các trung tâm mua sắm bắt đầu trưng cây thông và các đồ trang trí giáng sinh rất nhộn nhịp…và dịp này cũng là thời gian bận rộn của dịp mua sắm cuối năm. Cũng vì những ồn ào và bận rộn bên ngoài này mà mỗi chúng ta cũng dễ dàng bị cuốn theo nó mà thờ ơ với đời sống thiêng liêng, gắn bó với Chúa.

Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su gói gọn thái độ bàng quang này qua biến cố hồng thủy xẩy ra trong thời ông Nóe, lúc đó: “thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy.”(Kn 6-7)

Đức Giê-su không muốn nói những người thời ông Noe là xấu hoặc làm điều ác gì. Thực sự là họ biết tận hưởng niềm vui sống. Họ quan tâm đến các nhu cầu hoàn toàn bình thường của đời sống, vậy tại sao Chúa lại khiển trách họ “vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng.” Nói như thế Chúa Giê-su có ý trách cứ họ hời hợt trong lối sống. Những người thời đó có thể cho rằng cuộc sống đời này kéo dài mãi và họ quên mất sự mỏng dòn chóng qua của thân phận con người.

Cũng như thời ông Noe, nhân loại hôm nay cũng dễ chiều theo một đời sống như thế. Những tiến bộ về đời sống vật chất làm cho người ta ngủ mê trong những tiện nghi và đầy đủ. Nhiều người tin rằng thế giới như hiện tại không bao giờ kết thúc, cho đến ngày mà họ bị đánh thức một cách bất ngờ bởi một biến cố xẩy ra. Ví dụ như biến cố hai chiếc máy bay lao vào hai tòa tháp đôi tại thành phố New York, ngày 11/09/ 2003, hay các trận động đất và sống thần đã xẩy ra trong những năm qua…tất cả những biến cố đó cho thấy sự an toàn của đời sống này thật mong manh và người ta phải suy nghĩ về phận người.

Tòa tháp đôi ở thành phố New York từng là biểu tượng của sự giàu có, của sự thống trị quyền lực kinh tế của nước Mỹ. Vậy mà cuộc tấn công vào tòa tháp đôi này đã làm thay đổi lịch sử và thay đổi lối sống. Người ta có thể tự hỏi là có bao nhiêu người trong số 3000 nạn nhân tử vong hôm đó đã sẵn sàng cho cuộc gặp gỡ với Chúa…hay cũng như Chúa Giê-su nói trong bài Tin mừng: mọi người không hay biết gì cho tới khi nạn hồng thủy đến cuốn đi hết thảy.

Đối với đời sống mỗi chúng ta cũng thế, có thể là nạn hồng thủy như thế chưa bao giờ xẩy ra cho mỗi chúng ta. Nhưng thực ra trong đời sống chúng ta, có nhiều dự tính đã được hoạch định với biết bao nhiêu là tâm huyết, vậy mà đùng một cái nó tan thành mây khói. Có thể có nhiều nguyên nhân như là: mất việc làm, hay một căn bệnh bất ngờ xẩy đến do tuổi tác, hoặc một tại nạn làm cho mình mất khả năng làm việc, hay một người thân bất ngờ ra đi. Mọi cái dường như không được như ý hoặc vì thiếu điều kiện hoặc vì bắt chợt một cơn bệnh bất ngờ xẩy đến, hay một tại nạn bất ngờ làm cho mọi dự tính bị ngưng trệ. Chúa Giê-su hôm nay nói với mỗi chúng ta là: hãy tỉnh thức và hãy sẵn sàng bởi vì  không biết khi nào những điều đó sẽ xẩy ra với mỗi chúng ta.\

Mỗi chúng ta cần phải luôn tỉnh thức và chuẩn bị cho tất cả những điều có thể xẩy đến, không phải để lo lắng và sợ hãi nhưng là để biết dùng thời gian thích hợp mà xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn. Vậy việc Chúa đến sẽ là một cuộc viếng thăm mong đợi và được đón nhận với niềm vui.

Thời gian của Mùa Vọng không chỉ giới hạn vào 4 tuần lễ để chuẩn bị lễ Giáng sinh, nhưng Mùa Vọng còn giúp cho mỗi chúng ta có một đời sống, một tâm tình bền bỉ trong niềm hy vọng. Mặc dù còn nhiều thử thách như tai ương, bệnh tật, nghèo khổ, nhưng chúng ta tin rằng cuộc sống chỉ có giá trị khi được sống và cái chết không phải là tiếng nói cuối cùng. Mùa Vọng cho chúng ta lẽ sống trong tình yêu và hy vọng  ngay lúc này. Đó là lời mời gọi xây dựng một đời sống, một thế giới tốt đẹp hơn theo thánh ý Chúa.

Như sách ngôn sứ Isaia mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc thứ nhất, đã cho thấy viễn cảnh tốt đẹp được khơi lên nếu dân Giuda ăn năn sám hối và canh tân đời sống, và thời thái bình sẽ đến khi người ta “ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến”. Thật vậy, dự phóng của Chúa dành cho con người là một dự phóng của hòa bình và tình huynh đệ.

Mỗi tín hữu chúng ta hãy vững tin để biến đổi đời sống mình và sống giây phút hiện tại  mà không hề sợ hãi, bởi vì mỗi ki-tô hữu đều đang sống trong niềm hy vọng hướng tới ngày Nước Chúa hiển trị. Mỗi giây phút của đời sống là lúc mà Chúa Ki-tô đến gõ cửa lòng mỗi người chúng ta. Ước gì mỗi ngày và mỗi giờ, cuộc viếng thăm của Chúa không làm cho mỗi chúng ta bị bất ngờ, nhưng là niềm vui mừng bởi vì chúng ta cũng như người đầy tớ sẵn sàng chờ đợi và đón tiếp người chủ trở về và ngồi vào bàn ăn với Ngài. Vậy hãy sẵn sàng vì Chúa sẽ đến. Amen.

Hôm nay anh được ở trên thiên đàng với Ta

Cử hành phụng vụ Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội hoàn vũ suy tôn Chúa Giê-su Ki-tô là Vua vũ trụ.

Tại sao Giáo Hội lại mừng lễ Chúa Giêsu Kitô Vua vào Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ? Thưa vì Năm phụng vụ tượng trưng cho chu kỳ thời gian bắt đầu từ Thiên Chúa và cuối cùng trở về với Ngài. Thiên Chúa là khởi đầu và là cuối cùng của lịch sử. Kết thúc năm phụng vụ, Giáo Hội nhắc lại giây phút chấm dứt, giây phút vũ trụ đạt đến cùng đích tột cùng là Thiên Chúa, giây phút Chúa Giêsu Kitô trở lại trong vinh quang.

Vậy chúng ta suy tôn Chúa Ki-tô là Vua theo nghĩa nào?  Nếu đọc và suy niệm Lời Chúa hôm nay, thì chúng ta sẽ thấy Vua Ki-tô được mô tả trong Kinh Thánh không giống như các vị vua trần thế, như chính Ngài đã nói với quan tổng trấn Philatô: Nước tôi không thuộc về thế gian này. Bài Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy Vương quyền của Chúa Giêsu hoàn toàn mới lạ.

1.Vương quyền ấy là gì? Lời nhạo báng của quan quyền, lính tráng và người do thái cho thấy vương quyền của Chúa Giê-su: “Hắn đã cứu được người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki tô của Thiên Chúa, người được Thiên Chúa tuyển chọn” (Lc 23,35). Chúa Giê su chính là Đấng Ki-tô, người được Thiên Chúa xức dầu, là Đấng Thiên Sai. Lời tuyên xưng của tên trộm lành cũng cho thấy điều đó: Khi nào về Nước của Ngài, xin nhớ đến tôi.

2.Nước của Chúa Giê-su như thế nào? Nước của Chúa Giêsu không nhằm tư lợi cá nhân như các thủ lãnh khiêu khích, cũng không để ra oai quyền uy như bọn lính thách thức. Nước của Người là Nước Tình Yêu, vương quyền của Người là để phục vụ. Vì thế, Người đã không “xuống khỏi thập giá”, nhưng đã “kéo mọi người” lên với Người (Ga 13, 32). Người đã không “cứu lấy chính mình”, nhưng đã “cứu lấy mọi người” khỏi chết muôn đời nhờ cái chết của Người. Người đã sẵn lòng chịu chết giữa hai tên gian phi, như lời Kinh Thánh rằng : “Người đã hiến thân chịu chết và bị liệt vào hàng phạm nhân” (ls 53,12). Người đã hoà mình trong đám người tội lỗi, đã chịu chung số phận của họ, Người đã sống và đã chết giữa đám tội nhân, như lời đồn đại về Người : “Bạn của người thu thuế và phường tội lỗi” (Mi 11,19).

Như vậy, vương quyền của Chúa Giê-su là vương quyền của Yêu Thương.

3.Vương quyền tình yêu đó được biểu lộ qua hình ảnh một vị Vua đầu đội mạo gai, với ngai vàng là thập giá. Chính từ biểu lộ của một tình yêu hy sinh mạng sống vì người mình yêu như thế mà vị Vua Giê-su đã ban ơn cứu độ cho một thần dân đầu tiên là anh trộm lành: “Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”. Anh đã nhận được vào Vương quốc của Chúa Giê-su ngay lập tức vì anh đã tỏ lòng kính sợ Chúa và ăn năn sám hối. Anh biểu lộ thái độ của người sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ. Nghĩa cử của anh trộm lành đã đánh động nhưng tâm hồn thiện chí. Đó chính là viên sỹ quan sau đó cũng đã được Vua Giê-su chinh phục khi ông ta thốt lên lời ca ngợi và tôn vinh Thiên Chúa: Người này quả thật là công chính”.

Từ hơn 2000 năm qua, Vua Giê-su vẫn luôn đón nhận vào trong vương quốc tình yêu của Người  những thần dân biết duy trì tinh thần hiệp nhất, phục vụ và yêu thương. Và chỉ những ai biết sám hối ăn năn, tin nhận vào quyền năng và tình thương của Chúa như anh trộm lành, mới được vào trong vương quốc của Người. Chỉ những người biết kính sợ Thiên Chúa và tin tưởng vào sự sống đời sau mới được ban cho Nước Trời.

Xin cho mỗi chúng ta hôm nay suy tôn Đức Giê-su Ki-tô là Vua biết cộng tác với Chúa để xây dựng Nước Trời ngày trong cuộc sống này khi kiến tạo sự bình an và yêu thương. Amen.

Niềm hy vọng

Tin mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta câu chuyện những người theo phái Sát-đu-sê đến gặp Chúa Giê-su không phải vì họ muốn tranh luận nghiêm túc với Chúa về  ý nghĩa thần học cho bằng bắt lỗi và nhạo cười Chúa. Những kẻ buôn bán trong đền thờ bị Chúa Giê-su xua đuổi cũng chính là những người theo phái Sát-đu-sê này. Ngài đã kết án họ về việc biến Nhà cầu nguyện thành nơi buôn bán. Chính vì thế họ luôn tìm cách chống lại Chúa vì Chúa trở thành mối nguy hiểm cho họ.

Quả vậy, những người Sát-đu-sê khi chịu tránh nhiệm trông coi Đền thờ, đã bắt tay với Đế quốc Roma, để làm sao vơ vét được nhiều tiền bạc, quyền lực cũng như kiểm soát dân chúng. Sự sống sau khi chết chẳng làm họ bận tâm trong niềm tin và ước vọng tương lai của họ. Câu hỏi mà họ đặt ra cho Chúa Giê-su về việc ai sẽ là chồng của người phụ nữ đã cưới bẩy người chồng ở đời sau là để làm cho Chúa mất uy tín đối với dân chúng mà thôi.

Khi nhắc lại cho chúng ta rằng Thiên Chúa là Chúa của sự sống, bài Tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta suy nghĩ lại về niềm hy vọng Ki-tô giáo với khẳng định: cái chết chỉ là một cuộc vượt qua.

Trong thư thứ nhất của thánh Phêrô tông đồ, thánh nhân đã nhắc lại là mỗi người tin phải “luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của mình”. Niềm hy vọng này cho thấy một ý nghĩa khác với cái chết, nó không phải là kết thúc, nó cho thấy hành trình đời người không kết thúc ở nấm mồ. Các Ki-tô hữu tiên khởi đã diễn tả niềm hy vọng này khi dùng từ ngữ Hy lạp là “koimitérion”, để chỉ nơi mà người ta chôn cất những người chết. Từ ngữ này đã được dịch là là “vườn thánh”, muốn nói lên ý nghĩa là “ quán trọ” mà thôi.

Chính vì thế mà Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu Thessalonica rằng: “Thưa anh em, về những ai đã an giấc ngàn thu, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng. Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Giê-su đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giê-su, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giê-su.”

Ngày từ đầu tháng 11, chúng ta đã cử hành đại lễ mừng các Thánh trên trời và ngày mồng 2, là ngày tưởng nhớ các linh hồn đã qua đời. Tháng 11 là tháng nói lên sự liên đới của toàn thể nhân loại. Chúng ta cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời và những người này tiếp tục đồng hành với chúng ta trong cuộc hành hương tiến về cõi sống, như lời cầu nguyện trong sách lễ mà chúng ta đã cất lên: Lạy Chúa, xin ban cho họ được nghỉ yên muôn đời và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên các linh hồn ấy. Xin cho linh hồn những người qua đời được lên trước tôn nhan đấng tối cao”.

Là người tín hữu, mỗi chúng ta không phải là những người sợ nghĩ đến cái chết. Ông Pascal đã có một niềm tin vĩ đại khi nói rằng: Các hữu thể nhân loại vì không thể tìm thấy phương thế chữa cho thoát khỏi sự chết, nên đã đi tìm hạnh phúc khi tránh suy nghĩ đến nó.” Đối với tín hữu Chúa, họ không sợ suy niệm về sự chết để chuẩn bị cho giây phút quan trọng đón nhận cái chết đến với họ.

Chắc chắn chúng ta cần phải chiến đấu liên lỉ để chống lại bệnh tật, để giành giật lấy sự sống. Tuy nhiên, không nên quên rằng, nếu ý khoa đã nhiều lần thành công trong các trận chiến chống lại tử thần thì cuối cùng cái chết vẫn luôn là tiếng nói cuối cùng. Nhưng, cái chết không phải là tận cùng. Nó chỉ là một cuộc vượt qua, một sự biến đổi.

Đức Ki-tô nhắc lại cho phái Sát đu sê hôm nay rằng, Thiên Chúa của Abraham, của Isaac, của Gia cóp là Thiên Chúa của kẻ sống. Khi Chúa Giê-su nói tới Thiên Chúa của các bậc tổ tiên, tức là nói tới Thiên Chúa của sự sống và luôn trung thành với lời hứa của Ngài.

Niềm hy vọng ki-tô giáo khẳng định rằng sự sống, tình yêu, lòng tốt và bao dung , cũng như niềm khát khao công lý luôn ở trong mỗi chúng ta cũng như ở  trong cuộc đời của những người khác, những điều đó sẽ không bao giờ biến mất bởi sự chết.

Vậy mỗi chúng ta hôm nay một lần nữa hãy cảm nghiệm thật sâu sa hơn lời dạy của sách thánh, đó là “đừng buồn sầu và chán nản như những kẻ không có niềm hy vọng”, và hãy “hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của chúng ta”. Amen.