Tháng: Tháng Một 2024

Tôn thờ Đức Ki-tô

Chúa nhật IV thường niên – Năm B

Trong kho tàng truyền thuyết công giáo, có câu chuyện kể về một chàng trai vóc dáng cao lớn vạm vỡ. Vốn dĩ sinh ra trong một gia đình lương dân, chàng chỉ ấp ủ một ước mơ lạ lùng là tìm cho được một vị quân vươngcao cả nhất để tuyệt đối tuân lệnh và phụng sự suốt đời.

Thế rồi chàng đã tìm gặp được một vị vua có tiếng là oai phong lẫm liệt nhất trong vùng. Chàng vui mừng vì ngỡ đã tìm được minh chủ theo ước nguyện. Nhưng rồi không ngờ, một hôm, chàng đã vô tình bắt gặp nhà vua ấy đang run rẩy quỳ lạy tại một đền miếu thờ quỷ thần. Chàng liền bỏ đi ngay, với quyết tâm ao ước sẽ được theo hầu một ma vương quỷ thần nào đó có đủ quyền phép hô phong hoán vũ. Tức khắc, ma quỷ hiện ra và dẫn dụ chàng rảo bước khắp cánh đồng mênh mông rộng lớn. Bất chợt, ma quỷ giáp mặt với một cây Thánh Giá dựng lên sừng sững ở một ngã tư đường theo phong tục của người dân Công Giáo vùng ấy. Ma quỷ hoảng sợ, lấm lét nhìn cây Thánh Giá rồi bỏ chạy mất dạng!

Chàng trai thấy vậy liền dứt khoát không thèm theo ma quỷ nữa, mà đứng lại trước Thánh giá, ngắm nhìn cây Thánh giá thật lâu, rồi chàng quyết tâm từ nay sẽ xin theo Thánh Giá. Chàng cứ đứng đó chờ mãi mà chẳng thấy chủ nhân cây Thánh Giá. Nơi đó gần một khúc sông cạn. Một hôm, có một câu bé đến nhờ chàng cõng mình qua sông, vì không có đò ngang. Chàng lực sĩ sẵn sàng. Nhưng mới bơi được một đoạn ngắn, chàng cảm thấy chú bé quá nặng, liền hỏi lý do. Cậu bé đáp “Ta nâng đỡ cả trái đất trên tay Ta, làm sao mà không nặng cho được” Cậu bé còn cho biết thêm mình chính là chủ nhân của cây Thánh Giá. Thế là chàng lực sĩ xin theo phò tá vị Chúa Tể trái đất ấy và Ngài đã dạy chàng : con muốn phụng sự Ta, con cứ đứng ở khúc sông này, mỗi lần có ai muốn sang sông thì con hãy cõng người ấy sang. Chàng lực sĩ tuân theo. Từ đó trở đi, người ta gọi tên chàng là Christophe, nghĩa là người đã mang Chúa Kitô trên vai.

Ngày nay, Hội Thánh tại một số quốc gia Châu Âu vẫn mừng lễ Thánh Christophe vào ngày 25 tháng 7 hằng năm, để nêu một tấm gương theo Đức Ki-tô và phụng sự Thiên Chúa trọn vẹn cả cuộc đời.

Thánh Christophe là người mang Chúa Ki-tô vì ngài đã chọn Chúa Ki-tô làm minh chủ để phụng sự. Cũng như thánh Christophe,  chúng ta đã chọn Chúa Ki-tô và bước đi theo Ngài qua bí tích Thánh tẩy nên được gọi là Ki-tô hữu, có nghĩa là người mang danh Ki-tô và thuộc về Ngài, bởi vì đối với những người có đức tin thì không ai xứng đáng hơn Đức Giêsu Kitô.  

Xác tín này của chúng ta có nền tảng chắc chắn vì dựa trên mạc khải của Chúa, cụ thể là qua các bài đọc Kinh Thánh mà chúng ta vừa nghe.

Thực vậy, sứ điệp mà các bài đọc kinh thánh gửi đến cho chúng ta hôm này là sứ điệp của Tin mừng vì chính Chúa Giê-su Ki-tô đã đến và trở thành lẽ sống và là nguồn hy vọng cho tất cả những ai tin vào Ngài.

Bài đọc thứ nhất đã loan báo về sứ điệp vui mừng này khi nói về hành trình mà dân Do thái đã phải trải qua một thời gian dài 40 năm trong sa mạc. Trước khi vượt qua sông Giorđan để vào đất hứa mà Chúa đã hứa với cha ông họ, ông Môisen thấy mình đã gần đất xa trời nên yên ủi dân chúng, khuyên họ đừng buồn tiếc về việc ông ra đi. Đàng khác, ông nói tiên tri cho họ rằng Thiên Chúa sẽ cho nổi lên một vị ngôn sứ tài danh nhất trong lịch sử, không những không kém gì ông mà còn trổi vượt hơn ông để dẫn dắt họ. Vị ngôn sứ tuyệt hảo đó sẽ là Đấng Kitô, Đấng Trung gian toàn hảo vì Người vừa là Con Thiên Chúa và vừa là con loài người.

Và trong bài Tin mừng chúng ta vừa nghe, thánh Marcô đã cho thấy Đức Giêsu Kitô chính là Vị ngôn sứ ngoại hạng mà Môisen đã tiên báo. Ngài quả là vị ngôn sứ có uy quyền trong lời nói và hành động.

Ngài là vị ngôn sứ có uy quyền bởi vì trong khi những luật sĩ kèn cựa bàn cãi không dứt về những đoạn văn của Kinh thánh, thì Đức Giêsu khẳng định: Ngài không lặp lại học thuyết của người khác, mà trình bầy học thuyết của Ngài, ví dụ Ngài nói: “Còn Ta, Ta dạy rằng…”, điều ngày cho thấy Ngài có uy quyền trong lời giảng dạy.

Còn trong hành động thì Ngài đã cho thấy trong bài Tin mừng, đó là Ngài chỉ cần nói một lời là quỷ ô uế phải xuất khỏi người bị nó nhập, đến nỗi khán thính giả phải thốt lên: “Ngài dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả các thần ô uế”.

Chính vì cảm nghiệm được quyền năng vô biên của Đức Ki-tô mà Thánh Phaolô đã từ bỏ con đường bách hại đạo Chúa để chọn Đức Ki-tô một cách dứt khoát và dành trọng cuộc đời mình trung thành phụng sự Ngài. Mang lấy Đức Ki-tô trong mình nên Ngài đã làm chứng cho Đức Ki-tô bằng chính kinh nghiệm của mình như trong bài đọc II cho thấy: Ngài mời gọi tín hữu Côrintô hãy gắn bó mật thiết với Đức Ki-tô. Lời mời gọi này được gửi tới mọi bậc sống và ơn gọi trong Giáo Hội, dù là người xây dựng gia đình hay là người sống đời độc thân bởi vì một khi người ta đã gặp được Đức Ki-tô thực sự thì cả cuộc đời của họ sẽ được biến đổi tùy theo ơn gọi mà mỗi người được lãnh nhận.

Qua việc lắng nghe và suy niệm Lời Chúa hôm nay, mỗi chúng ta đang hiện diện trong thánh lễ này được mời gọi hồi tâm và xét lại đời sống đức tin của mình, bởi vì có thể chúng ta đang ở trong tình trạng như câu chuyện kể rằng có một ngôi chùa kia quanh năm suốt tháng vắng vẻ “như chùa Bà Đanh”. Với ý định thu hút tín đồ thập phương, vị sư trụ trì liền thỉnh một tượng Phật to về đặt trong chùa. Thế nhưng tình thế vẫn không thay đổi. Vị sư liền tìm đến một thiền sư ẩn tu trong núi sâu vấn kế. Vị thiền sư trả lời: “Vì thầy chỉ thỉnh tượng Phật chứ không thỉnh Phật.” Vâng, hôm nay mỗi chúng ta có thể cũng rơi vào tình huống tương tự nếu vì tham sân si cuộc đời mà chúng ta chỉ mang danh ki-tô hữu mà chưa mang Đức Ki-tô trên vai, chưa sống lời dạy của Đức Ki-tô và chưa đem Chúa Ki-tô vào trong cuộc sống của thế giới này.

Lạy Chúa, Chúa đã đến trong thế gian, để mang ơn cứu độ cho nhân loại qua sứ vụ Thiên Sai. Xin ban cho chúng con biết nhận ra và đáp trả lời mời gọi của Chúa, để đón nhận ơn giải thoát của Chúa và kiến tạo hạnh phúc cho anh chị em xung quanh chúng con. Amen.

Lưới người như lưới cá

Chúa nhật III thường niên B

Chúa Giê-su kêu gọi ông Simon và Anrê, Gioan và Giacôbê bước sang một đời sống mới. Những tháng năm còn lại của đời họ sẽ trở nên quà tặng cho mọi người: trở nên kẻ lưới người như lưới cá.

Quả vậy một trong những chiều kích chính yếu của đời sống ki-tô hữu là mang lại hoa trái, khi biết sử dụng tốt thời gian được tặng ban, trong suốt hành trình cuộc đời họ.

Hiện tại đời sống này là cuộc đời tạm. Từ lúc thành thai cho tới lúc lìa thế, các môn đệ của Đức Ki-tô cần tiếp tục ra đi để tiến về phía trước: sau 9 tháng trong bụng mẹ, rồi được sinh ra, tiếp tục trưởng thành từ tuổi thơ ấu cho đến lúc già cả kòm hom…họ đều phải chuyển mình và thích ứng với một thực tại mới. Trong Tin mừng, Chúa Giê-su đã biến đổi bốn môn đệ và tập trung họ lại. Từ nay họ trở nên những kẻ đành lưới người.

Ba bài đọc của chúa nhật III hôm nay nói với chúng ta về thời gian đi qua: “ Còn 40 ngày nữa Ninive sẽ sụp đổ” đó là lời loan báo của ngôn sứ Giona; còn thánh Phao lô thì nói: “ thời giờ vắn vỏi”; và Chúa Giê-su thì tuyên bố: “ Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến”.

Qua dòng lịch sử, thời gian luôn là chủ đề được bàn tới. Có tác giả đã viết: “Thời gian là con vật hung dữ nuốt chửng mọi thứ … tuổi trẻ, sức khỏe, của cải, thể lực, những dự án đắt giá nhất”; “Giết thời gian, đó là điều mà con người luôn muốn làm. Nhưng cuối cùng, thì chính nó lại giết chết con người.”; “ Thời gian qua nhanh đến nỗi ta không còn thấy nó”.

Trong Kinh Thánh, thời gian là một yếu tố tốt đẹp và tích cực. Đó là một món quà được trao tặng cho chúng ta, là món quà của Thiên Chúa. Nó giúp chúng ta mang lại hoa trái, hoán cải đời sống và tham dự vào việc sáng tạo một thế giới nhân bản hơn. Theo Chúa Giê-su và thánh Phaolô, thì thời gian là một cánh cửa mở ra một tương lai tốt đẹp hơn. Không phải là khóc than vì thời gian qua mau, cho bằng đón nhận cách quảng đại “thời đại mới”. Đây là một lời mời gọi nhìn đời sống dưới lăng kính vĩnh cửu. Chúng ta đang ở giữa một thế giới mới mà ngôn sứ Isaia đã gợi lên khi viết rằng: “Và đây ta sẽ tạo nên một trời mới đất mới”.

Các bài đọc hôm nay nhắc lại cho chúng ta rằng đối với dân thành Ninivê, hay đối với các môn đệ của Chúa Giê-su, và cả chúng ta, thì thời gian là một thời kỳ hồng phúc giúp chúng ta hoán cải.

Chúa Giê-su đã sống trong thế kỷ của chiến tranh, bạo hành và bất công. Các bạo chúa thống trị và các đội quân lã mã áp bức người dân mà chẳng màng chi tới những hậu quả tiêu cực đối với những người mà họ đàn áp. Chỉ cần đọc vài trang lịch sử cũng đủ giúp cho chúng ta thấy bạo lực gây ra bởi đế quốc La mã. Trong một thế giới nô lệ và bị lạm dụng quyền lực như thế, Thiên Chúa đã sai Con mình đến để ban tặng một viễn tượng mới, một viễn tượng khác, nhân văn hơn và công lý hơn, để mà đem lại niềm hy vọng và khuyến khích các môn đệ ngài tạo dựng một thế giới mới, một thế giới huynh đệ. Nếu ai muốn “Nước Thiên Chúa” theo cách mà Thiên muốn cho thế giới này, thì Nước đó đang ở rất gần và ở trong tầm tay của mỗi người.

Đối mặt với các ác ở khắp mọi nơi, chúng ta vẫn hy vọng rằng mọi người sẽ “hoán cải” và họ sẽ thay đổi lối sống. Đức Ki-tô khuyến khích mỗi người hãy bắt đầu thay đổi chính mình: “ để thế giới đổi thay, cần những con người thay đổi…Hay hoán cải.”

Để sống trong một thế giới tốt đẹp hơn, chúng ta cần thay đổi quan niệm về mọi sự và “ tin vào Tin mừng”, như là 4 môn đệ đầu tiên đã thực hiện: Vâng “ Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”…”Hãy trở nên những kẻ lưới người như lưới cá”. Amen.

 

Hãy đến mà xem

“ Thưa Thầy, Thầy ở đâu?” và Chúa Giê-su đáp: “ Hãy đến mà xem”.

Khi đọc các sách Tin mừng, chúng ta thấy có nhiều hạng người đi tìm Chúa Giê-su:

– Người đi tìm Chúa để được nghe lời Ngài,

Người thì tìm đến Chúa để xin chữa lành bệnh tật,

– Người thì tìm Chúa để bắt bẻ Chúa,

– Ông Gioan tẩy giả tìm Chúa để loan báo cho mọi người biết về Chúa,

– Các môn đệ đi tìm Chúa để theo Chúa.

Trước hết, về câu trả lời của Chúa Giê-su: “ hãy đến mà xem”, chúng ta thấy vấn đề ở đây không chỉ là một lời mời đến chiêm ngưỡng nơi mà Chúa ở đâu, nhưng còn là đến để theo kiểu nói việt nam mình là nhìn tận tay, day tận mắt, một sự tiếp xúc cụ thể để tạo nên niềm tin, như là niềm tin của các tông đồ, của nhưng người tin vào chứng tá của các tông đồ.

Thứ đến, lời mời này của Chúa Giê-su nhắc tôi nhớ đến một câu ngạn ngữ của người Pháp:

– “Bạn hãy nói cho tôi bạn gắn bó với ai, tôi sẽ nói với bạn bạn là ai”. Hay ngạn ngữ việt nam mình: “ Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”.

– Thực vậy, sống thân mật với Chúa Giê-su, ta sẽ dần dần trở nên giống Chúa. Ta sẽ nhìn với đôi mắt của Chúa, sẽ yêu với con tim của Chúa, sẽ hành động với sức mạnh của Chúa.

Cuối cùng, chúng ta cũng thấy lời mời này của Chúa Giê-su cũng là một lời kêu gọi:

– Chúa Giê-su gọi các môn đệ, cũng như Chúa gọi tất cả mọi người đi vào mối tương quan với Chúa.

– Ngài mời gọi mọi người đón nhận ơn cứu độ, chia sẻ đời sống với Chúa và trở nên những cộng tác viên của Chúa.

Nói về ơn gọi của Chúa không có nghĩa là Chúa gọi một cách trực tiếp. Ngài thường kêu gọi nhờ vào các trung gian: như các biến cố xẩy ra, các cuộc gặp gỡ, các lời nói được đọc và được nghe….Như trong Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy chính Gioan là người đã giúp cho Anrê gặp được Chúa Giê-su, và chính nhờ Anrê mà Simon cũng gặp được Chúa. Nói rộng hơn thì chính nhờ Giáo Hội, có nghĩa là chúng ta, mà Chúa Giê-su hiện diện.

Ở đây tôi muốn lưu ý là chúng ta không biết gì nhiều về tông đồ An-rê, bởi vì ta thấy Ngài ít xuất hiện trong các sách Tin mừng, tuy nhiên thì chính vị tông đồ ẩn mình này đã dẫn đến với Chúa Giê-su người em của mình, người được gọi là đá, trên đá đó mà Giáo Hội được xây dựng. Không có An-rê, sẽ không có Phêrô.

Vậy mỗi chúng ta được mời gọi ý thức về giá trị của những bước khởi đầu nhỏ bé như thế. Tuy nhiên thì lời mời gọi của Chúa lại để cho con người được tự do đáp trả. Kinh thánh đã cho thấy nhiều sự đáp trả khác nhau:

– Có sự đáp trả ngay lập tức, như ông Abraham, khi được gọi ông đã lập tức ra đi.

– Lại có những do dự, như ngôn sứ Giêrêmia khi được gọi đã thưa với Chúa: lạy Chúa, con không biết ăn nói, con còn quá trẻ.

– Và có những chối từ, như chàng thanh niên giàu có trước lời mời gọi của Chúa Giê-su, anh đã ra đi buồn bã vì anh ta có nhiều của cải.

Chúng ta cũng thế, chúng ta đã được gọi vào ngày lãnh nhận bí tích rửa tội, chúng ta đã nhận được một ơn gọi, có thể lúc nào đó Chúa trao phó cho chúng ta sứ mạng và Ngài muốn chúng ta tự do đón nhận. Chúng ta hãy xin Chúa chiếu soi chúng ta, và xin Ngài ban cho chúng ta sức mạnh để như Gioan Tẩy Giả, An-rê và Phêrô, trở nên các nhân chứng của ánh sáng và bình an. Amen.