Chinhtoa church

Luồng gió Thánh Thần

50 ngày sau Phục sinh, hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống.

Như sách thánh thuật lại, thì vào ngày lễ ngũ tuần khi các Tông đồ cùng với Mẹ Maria đang ở trong căn phòng đóng kín cửa, bỗng nhiên họ nghe thấy một tiếng động như là tiếng gió mạnh thổi và họ nhìn thấy những lưỡi lửa đậu xuống trên đầu từng người. Dấu hiệu này cho thấy lời Chúa Giê-su hứa đã được thực hiện. Người trẻ cũng như người già chìm ngập trong làn gió của Chúa Thánh Thần. Họ được thúc đầy ra khỏi căn phòng để làm chứng cho những kỳ công của Thiên Chúa.

Vậy, biến cố này có ý nghĩa gì với chúng ta? Thưa, sự hiện diện của Chúa Thánh Thần đổi mới chúng ta. Thánh Thần chính là món quà được trao tặng cho các Tông đồ và cho tất cả Giáo Hội.

Để đáp lại quà tặng vô giá này, mỗi chúng ta hôm nay chỉ có thể ca lên lời tạ ơn Chúa như Thánh vịnh 103: Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa. Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, Ngài quá ư vĩ đại! …Ngài gửi hơi thở tới và Ngài canh tân bộ mặt trái đất. Chúng ta tạ ơn Chúa về tất cả sự kỳ diệu từ ngàn xưa cho tới hôm nay.

Thật vậy, Chúa Thánh Thần hiện xuống để canh tân bộ mặt trái đất, là một sự sáng tạo mới. Nó được khởi đầu bởi sự hiệp thông giữa các dân tộc dù là người Rôma, là Do-thái và tòng giáo, là người Crêta và Á-rập v.v. Tất cả mọi người đều đều nghe thấy các tông đồ loan báo Tin mừng bằng nói tiếng của họ mà ca tụng những kỳ công của Thiên Chúa.

Hôm nay, bất cứ ai trên thế giới đều có thể nghe được sứ điệp Tin mừng bằng ngôn ngữ của mình, dù mỗi ngôn ngữ tuy có khác nhau nhưng cùng loan truyền một tiếng nói ai cũng hiểu được. Thứ tiếng ấy là gì? Thưa, đó là tiếng nói của tình yêu đến từ Thiên Chúa, vang lên bằng mọi thứ tiếng trong chính Thân Thể Màu Nhiệm của Đức Ki-tô là Giáo Hội.

Chúa Thánh Thần hiện xuống là sự sáng tạo mới, nên khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, thì cuộc sống cũ của chúng ta sẽ phải được thay đổi bằng một đời sống mới. Đó là điều mà Chúa Thánh Thần tác động. Vậy hãy sống dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, để Ngài hoạt động trong chúng ta vì Ngài chính là nguồn mạch thiêng liêng duy nhất có thể tưới mát mầm sống đức tin. Chính Chúa Thánh Thần có sức mạnh biến đổi khi ban cho chúng ta lòng tin, tình yêu, niềm vui, sự bình an, lòng nhân từ, khoan dung và nhẫn nại trước mọi thử thách như là những hoa trái của Ngài.

Như Tin mừng thuật lại những lời cầu nguyện của Chúa Giê-su với Chúa Cha sau bữa Tiệc Ly mà chúng ta lắng nghe trong suốt tuần cửu nhật chuẩn bị mừng lễ, thì Chúa Thánh Thần mà Chúa Giê-su hứa ban cho các môn đệ sẽ là đấng bảo trợ các ông chống lại sự dữ.

Như Chúa Giê-su nói với các môn đệ hôm nay: Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy. Như thầy Giê-su, các môn đệ sẽ bị bách hại. Họ sẽ bị đưa ra trước tòa án. Nhưng Thiên Chúa không bỏ rơi họ. Nhờ có Ngài, họ có thể hùng hồn đối đáp với những kẻ đã từng kết án tử thầy mình trên thập giá. Sách Tông đồ công vụ đã thuật lại cho chúng ta rất rõ sức mạnh đó, và lịch sử của Giáo Hội cũng cho ta thấy rõ sức mạnh của Chúa Thánh Thần nơi các chứng tá đức tin sống động trong mọi thời đại. Những con người này đang hiện diện khắp nơi trên toàn thế giới và đang làm chứng cho niềm vui Tin mừng của Đức Ki-tô.

Giáo Hội Việt Nam chúng ta tự hào về truyền thống chứng tá đức tin nơi cha ông chúng ta là các anh hùng tử đạo. Và hôm nay chúng ta tiếp tục tự hào về các chứng nhân là con cháu của các anh hùng tử đạo Việt Nam. Một trong các chứng nhân nổi bật phải kể ra mà ai trong chúng ta cũng biết, là Đức Hồng Y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận, người tôi tớ Chúa, đang được làm án phong chân phước. Mọi người sẽ thắc mắc: đâu là động lực giúp cho ĐHY vượt qua đau khổ để vui sống, và có thể đem niềm vui đến cho người khác, thậm chí là những người làm hại mình. Thưa đó là sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Chính ĐHY đã làm theo tác động của Chúa Thánh Thần và hiệu quả là cuộc đời của ĐHY đã trổ hoa trái của Chúa Thánh Thần đó là niềm vui và nhân từ, nhẫn nại và bao dung và trên tất cả là niềm tin và tình yêu.

Chúa Thánh Thần đang hiện diện giữa chúng ta, đang hiện diện trong Giáo Hội và đang hiện diện giữa thế giới hôm nay. Ngài không bỏ chúng ta, ngay cả trong những hoàn cảnh đáng thất vọng nhất. Quả vậy, không có gì ngăn cản Ngài tác động để đời sống chứng ta của các tín hữu trổ sinh nhiều hoa trái.

Lạy Chúa, xin gửi đến với chúng con Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh Thần. Xin Ngài đổi mới tâm hồn các tín hữu và làm cho đời sống đức tin chúng con trổ sinh nhiều bông trái trong tình yêu vô biên của Ngài. Amen

Xin cho chúng nên một

Chúa nhật VII phục sinh – Năm B

Thứ Năm vừa qua, chúng ta đã long trọng mừng lễ Chúa Giê-su lên trời. Đó là lần hiện ra cuối cùng của Chúa với các môn đệ và sau đó ngài lên trời trước mắt các ông, kết thúc sứ mạng trần thế và khởi đầu sứ mạng của các Tông đồ. Các ngài được sai đi khắp tứ phương thiên hạ để rao giảng Tin mừng của Đức Ki-tô phục sinh. Việc tiếp nối sứ mạng này cũng được trao cho mỗi chúng ta để rao truyền tin mừng cho mọi người.

Câu hỏi được đặt ra cho chúng ta hôm nay là sứ mạng rao truyền tin mừng của Giáo Hội trong đó có vai trò của mỗi chúng ta phải được thực hiện như thế nào cho đẹp lòng Chúa? Tinh thần nào giúp cho Giáo Hội hôm nay trở nên chứng ta đích thực của Chúa Ki-tô?

Thưa điều cốt yếu cho việc rao truyền tin mừng chính là sự hiệp nhất của Giáo Hội được đặt nền tảng bởi lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trong bài Tin mừng. Chúng ta đã lắng nghe lời cầu nguyện lâu giờ của Đức Giê-su trong những giây phút chuẩn bị từ bỏ đời này mà về cùng Chúa Cha. Mối bận tâm lớn nhất của Chúa không phải là Giáo Hội sẽ được tổ chức quy mô, cũng không phải là các bí tích được cử hành long trọng hay hoàn hảo cho bằng những người tin hiệp nhất nên một như lời thân thưa của Ngài với Chúa Cha: lạy Cha, xin cho chúng nên một như chúng ta là một. Vậy sự hiệp nhất trở nên nền tảng cho sứ mạng tiếp nối công cuộc rao giảng Tin mừng của Giáo Hội.

Thánh Gioan Tông đồ đã minh chứng điều này trong thư thứ nhất của Ngài. Lá thư này được viết ra trong bối cảnh mà các giáo phái đang gieo rắc những mối bất hòa khi họ đưa ra những giải thích sai lầm về Đức Giê-su. Vậy để nói lên chân lý nền tảng của đức tin, thánh Gioan đã khuyên dạy rằng: để chứng tá của chúng ta đáng tin thì cần phải hiệp nhất với Thiên Chúa. Tuy nhiên, ta không thể hiệp nhất với Thiên Chúa mà không hiệp thông với anh chị em mình.

Như thế theo lời của dạy của Thánh Gioan, thì sứ điệp của Tin mừng chỉ được rao truyền bởi những tín hữu hiệp nhất bởi mối liên hệ trong tình yêu của Chúa Thánh Thần. Vì khi xưa chính Chúa Thánh Thần đã lựa chọn tông đồ Matthia để thay thế Giu-đa và liên kiết các Ngài nên một. Thì nay chính nhờ những nghĩa cử yêu thương, chia sẻ và liên đới được kín múc từ nguồn mạch ân sủng của Chúa Thánh Thần mà chúng ta được nhận biết là những môn đệ của Chúa Ki-tô.

Từ kho tàng vô giá của Kinh thánh mà chúng ta vừa cùng nhau suy niệm, chúng ta thấy điều cốt yếu để xây dựng cho sự hiệp nhất, đó là yêu thương. Sự hiệp nhất trong yêu thương cần được xây dựng trong gia đình, trong các hội đoàn, cộng đoàn giáo xứ, giáo phận và trong cả Giáo Hội.

Để đạt được sự hiệp nhất này, vấn đề không phải là tìm kiếm những sự đồng nhất của các ý tưởng giữa người này với người khác, mà điều quan trọng là chia sẻ tình thương của Đức Ki-tô cho anh chị em xung quanh. Đối với con cái Giáo Hội là chúng ta cũng thế, điều quan trọng là tập họp với nhau xung quanh Chúa Giê-su và hiệp nhất với nhau trong lời cầu nguyện. Vậy đừng chờ đợi cho đến lúc hoàn hảo mới có thế hướng lòng về với Chúa bởi vì chính Ngài đang mời gọi chúng ta cùng nhau nối kết với lời cầu nguyện của Ngài cho sự hiệp nhất các môn đệ: lạy Cha, xin cho chúng nên một.

Lời cầu nguyện này còn nối kết với chúng ta hôm nay trong một thế giới đang đau đớn vì dịch bệnh, vì chiến tranh đang xẩy ra tại Ucraina và tại Ít-ra-en. Chiến tranh xung đột vẫn tiếp tục leo thang…Chúng ta cùng hiệp nhất với nhau cầu nguyện và cộng tác với mọi người giúp đỡ các bệnh nhân và xây dựng hòa bình.

Trong ngày Chúa nhật hôm nay, chúng ta cùng cầu xin Chúa cho công cuộc hòa giải các dân tộc và cho tiến trình thực thi công lý trên toàn thế giới. Xin Chúa cho chúng ta sự can đảm và sức mạnh để sẵn sàng chung tay xây dựng một thế giới mỗi ngày một công bằng, huynh đệ hơn và cho một thế giới đầy tràn tình yêu thương và hiệp nhất trong Đức Ki-tô Chúa chúng ta. Amen.

Yêu

Trang Tin mừng hôm nay là một bài ca tán dương tình yêu Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân. Chúa Giê-su đã nói lên từ đáy lòng của Ngài về tình yêu và trao phó lệnh truyền yêu thương này cho mỗi chúng ta. Từ ngữ “yêu” được lặp đi lặp lại tới 11 lần trong bài Tin mừng ngắn ngủi này. Chúa Giê-su tự giới thiệu mình như là mẫu mực của tình yêu, bằng lời nói và bằng những cử chỉ nhỏ bé nhất.

“Anh em là bạn hữu của Thầy”. Lời này được coi là tâm điểm của mối tương quan giữa ta với Chúa. Vì coi chúng ta là bạn hữu mà Chúa đã đặt chúng ta vào trong ý tưởng và kế hoạch của Thiên Chúa. Từ đó Ngài mời gọi chúng ta xây dựng một đời sống an bình, thông cảm, bao dung, chia sẻ, trong tình huynh đệ yêu thương. Và đây chính là trung tâm của đời sống gia đình nơi mà những người con học được bài học của sự dịu hiền, đón tiếp, tha thứ, bao dung, tôn trọng mọi người trong tình yêu thiên Chúa.

Đời sống của mỗi tín hữu chỉ có thể phát triển trong bầu khí mà mỗi chúng ta lấp đầy bằng tình bạn với Thiên Chúa, để nhờ đó mà lớn lên và trổ sinh bông trái.

Quả vậy nhiều tín hữu đã mắc phải phải sai lầm khi họ không có thời gian dành cho Chúa trong đời sống hằng ngày. Họ không còn cầu nguyện, không còn đến nhà thờ tham dự thánh lễ Chúa nhật, và không biết dạy con cái mình những giá trị của đạo Chúa. Khi mà đời sống thiêng liêng không còn thực sự quan trọng trong đời sống hằng ngày nữa thì từng bước đức tin bị bào mòn, khô héo và chết dần chết mòn. Và đã có không thiếu những người chỉ còn mang danh ki-tô mà chẳng thực hành đạo, điều đó có nghĩa là những người này không chỉ không còn hiệp thông với cộng đoàn tín hữu nữa, nhưng còn là bị cắt đứt khỏi nguồn sức sống để có thể trổ sinh nhiều bông trái như một cành nho kết hợp mật thiết với thân nho.

Theo thánh Gioan thì Giáo hội là nơi tập họp các bạn hữu của Thiên Chúa. Dù chúng ta có khác nhau về nguồn gốc, giới tính, địa vị, tuổi tác, nghề nghiệp, văn hóa…nhưng các khác biệt đó không ngăn cản mỗi chúng ta hiệp thông thành một Giáo Hội của Chúa. Cái làm nên sự hiệp thông này, chính là tình bạn mà Thiên Chúa dành cho chúng ta và tình bạn mà chúng ta dành cho nhau.

Tình bạn thì dựa trên sự tôn trọng, sự quảng đại và phục vụ. Một trong nhưng hình ảnh đẹp nhất mà chúng ta có về Chúa Giê-su chính là hình ảnh Chúa đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Ngài đã quỳ gối trước các tông đồ và phục vụ họ: “ anh em gọi thầy là Thầy là Chúa thì phải lắm, nhưng nếu thầy đã rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau”.

Chúa Giê-su đã đến giữa chúng ta để mạc khải cho chúng ta khuôn mặt đích thật của Chúa. Thay vì là một Thiên Chúa đến để ra án phạt nhân loại tội lỗi, thay vì Đấng Cứu thế đến để trừng phạt tội nhân là chúng ta, thì nơi Đức Giê-su, chúng ta khám phá ra một Thiên Chúa là Tình Yêu, Ngài không trừng phạt nhưng là đến để tìm kiếm chúng ta và tặng bạn cho chúng ta tình bạn của Ngài. Ngài yêu thương chúng ta và dạy chúng ta hãy biết yêu thương nhau.

Quả vậy, qua hành trình rao giảng Tin mừng của Chúa Giê-su , Ngài đã trình bày khuôn mặt của một Thiên Chúa đầy lòng thương xót. Ngài đã giang rộng đôi tay để ôm lấy đứa con đi hoang trở về, ngài tìm kiếm con chiên lạc, đón nhận bà Maria Mađalêna, đến nhà ông Gia-kêu dùng bữa, tha thứ cho người phụ nữ ngoại tình, ngồi ăn với các người thu thuế và tội lỗi, chữa lành người mù ở Giêricô, làm cho người chết sống lại…Tất cả những điều đó chứng tỏ rằng những ai hiểu sai về Thiên Chúa là do họ đã không tiếp cận các sách Tin mừng và nghe kể chuyện về Chúa Giê-su.

Thật là diễm phúc cho mỗi chúng ta và những ai hôm nay được lắng nghe và cảm nghiệm được Tin mừng của Chúa Giêsu để mà thấy được sự tốt lành, dịu hiền và đầy lòng thương xót của Thiên Chúa, đấng muốn trở nên bạn hữu của mọi người như chính lời ngỏ của Chúa Giê-su : Thầy gọi anh em là bạn hữu của Thầy bởi vì tất cả những gì Thầy học nơi Cha Thầy, Thầy cũng tỏ cho anh em biết”.

Xin cho mỗi chúng ta học được bài học yêu thương từ nơi Chúa Giê-su để nhận biết tình thương bao la của Thiên Chúa và biết cách tỏ bày tình thương yêu đó cách cụ thể cho những anh chị em mà chúng ta gặp gỡ mỗi ngày. Amen.

Mục tử nhân lành

Chúa nhật IV Phục Sinh

Một triết gia có tên là Henri Bergson đã viết như sau: Hàng trăm cuốn sách tôi đã đọc, không đem lại cho tôi sự an ủi bằng lời Thánh vịnh 23: “ Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người”.

Mỗi chúa nhật IV phục sinh, chúng ta lại có dịp đọc lại và cùng nhau suy niệm về dụ ngôn Chúa Chiên Lành, với hình ảnh người mục tử vác chiên trên vai được thể hiện nhiều nhất trong nghệ thuật ki-tô giáo.

Đối với người Việt chúng ta thì hình ảnh “chiên và người mục tử” không phải là một hình ảnh gần gũi vì ở Việt Nam không chăn nuôi cừu chiên như ở Palestine xưa. Hơn nữa trong cuộc sống hiện đại hôm nay, khi nói đến đàn chiên và mục tử có lẽ chẳng phù hợp tý nào, nhưng nếu đi sâu vào ý nghĩa tôn giáo thì hình ảnh chiên và mục tử lại tràn đầy ý nghĩa.

Quả vậy, Kinh thánh thường xuyên dùng hình ảnh mục tử để nói về các người lãnh trách nhiệm lãnh đạo trong dân hoặc chỉ về vị Vua – Đấng Messi. Chính lúc nguy hiểm mà người ta mới nhận ra đâu là vị mục tử đích thực đâu là kẻ chăn thuê. Khi xẩy ra hiểm nguy, thì kẻ chăn thuê chỉ nghĩ tới sự an toàn của bản thân mà quên mất việc bảo vệ đàn chiên. Đối với kẻ chăn thuê, đàn chiên chỉ là thứ yếu. Còn đối với Đức Giê-su, ngài là mục tử nhân lành vì Ngài biết từng con chiên trong đàn và các con chiên biết ngài và dám thí mạng sống mình vì đàn chiên. Động từ “biết” ở đây không có nghĩa là biết cách trừu tượng nhưng là một sự dấn thân hiệp thông, một sự ban tặng hỗ tương, một sự đối thoại, tắt một lời đó là một mối tương quan sâu sắc trong ý nghĩ, hành động và con tim.

Thực vậy, Đức Giê-su biết tất cả chúng ta một cách sâu sa trong tận sâu thẳm của tâm hồn. Và khi biết như thế không có nghĩa là Ngài chỉ biết rõ những con chiên béo, những con chiên ngoan, những con chiên tốt mà Ngài đặc biệt quan tâm tới những ai chưa biết Ngài, những ai đang sống bên lề tình yêu thương của Ngài. Cách này hay cách khác, tất cả mọi người đều thuộc về đoàn chiên của Ngài, dù vẫn còn đó những con chiên xấu đang làm cho những con chiên tốt không nghe theo tiếng gọi của Vị mục tử, rời bỏ đoàn chiên đi hoang trong lợi lộc và thú vui trần thế. Tuy nhiên thì Đức Ki-tô tình yêu vẫn không ngừng lôi kéo và tập hợp những con chiên lạc trở về cùng một đoàn chiên và một Chúa chiên.

Hôm nay Thiên Chúa tin tưởng tất cả chúng ta, là đoàn chiên của Chúa và trao phó cho mỗi chúng ta sứ mạng của người chăn chiên lành. Đây chính là lời mời gọi mà Chúa gửi đến cho tất cả mọi người, trước hết là các bạn trẻ biết quảng đại tận hiến đời mình cho Chúa để trở thành các linh mục và tu sỹ rao giảng và làm chứng nhân của Tình Yêu trong thế giới hôm nay.

Trong ngày hôm nay, kính thưa…là ngày thế giới cầu nguyện cho ơn kêu gọi lần thứ 61. Thiên Chúa tiếp tục mời gọi các linh mục, các phó tế, các tu sỹ nam nữ và anh chị em giáo dân tham dự vào trong kế hoạch cứu độ của Ngài. Chúa kêu gọi tất cả mọi người tham dự vào sứ mạng cao cả này, nên chúng ta không thể nói tôi đã quá tuổi, hay tôi quá trẻ, tôi không có khả năng hay tôi quá mệt mỏi…Vâng lời mời gọi của Chúa thật tha thiết khi nói với chúng ta như nói với các tông đồ khi xưa rằng: Đừng sợ, Thầy đang ở cùng con. Với sự hiện diện và trợ lực của Chúa Chiên Lành, trong ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu năm nay, mỗi chúng ta được Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi trở nên những người hành hương cùng nhau bước đi để “can đảm dấn thân” gieo niềm hy vọng và xây dựng hòa bình.

Với Bí tích Thánh Thể mà chúng ta tham dự, nếu chúng ta nối kết đời mình với Mình và Máu Thánh Đức Ki-tô, chúng ta sẽ kín múc được từ đó nguồn mạch của tình yêu tuôn chảy từ Thiên Chúa. Chính Tình yêu thương của Ngài sẽ đưa chúng ta tham dự vào kế hoạch của Đức Ki-tô. Amen.

Phúc cho ai không thấy mà tin

Chúa nhật II Phục sinh – Lòng Chúa thương xót

Chúa nhật II Phục sinh hôm nay được gọi là Chúa nhật của lòng thương xót Chúa. Chúa nhật lòng Chúa thương xót đã được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao lô II thiết lập nhân dịp ngày lễ phong thánh cho nữ tu Faustina. Thật là ý nghĩa cho ngày lễ hôm nay vì Đức Thánh Cha Phanxico vừa mới loan báo Năm Thánh của lòng thương xót Chúa. Năm thánh sẽ bắt đầu vào ngày 8 tháng 12 năm 2015, đúng ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và bế mạc vào ngày 20 tháng 11 năm 2016 nhằm vào ngày lễ Chúa Ki-tô Vua.

Với ý nghĩa của ngày lễ hôm nay, các bài đọc Kinh thánh đều quy về lòng thương xót của Chúa trong bầu khí vui mừng của mùa PS.

Bài đọc thứ nhất trích trong sách Tông đồ Công vụ đã chỉ cho chúng ta thấy một cộng đoàn tín hữu đón nhận lòng thương xót của Chúa. Chính nhờ vào cuộc gặp gỡ thân tình với Chúa mà họ đã hoàn toàn thay đổi cuộc sống. Họ hiểu được rằng họ được kêu gọi để trở nên một cộng đoàn của tình liên đới, một cộng đoàn cầu nguyện và một cộng đoàn liên kết mật thiết với Chúa.

Trong bài đọc II, thánh Gioan lại đưa chúng ta vào trung tâm của niềm tin nơi Đức Ki-tô. Niềm tin đổi mới tận căn cái nhìn của chúng ta với mọi người. Niềm tin này giúp chúng ta thấy được ánh sáng của tình yêu được biểu lộ nơi Đức Ki-tô. Chính khi chiêm ngắm thánh giá Chúa mà chúng ta bắt đầu hiểu được tình yêu vô biên này. Thiên Chúa đã yêu thương con người thế nào thì chúng ta cũng phải yêu thương tha nhân như thế. Nếu chúng ta yêu mến Thiên Chúa, thì chúng ta phải trở nên anh em với nhau. Đây quả là một cuộc chiến đấu chống lại cám dỗ và sự dữ mỗi ngày. Nhưng Thiên Chúa không bỏ chúng ta. Thánh Phao lô nói với chúng ta rằng không có gì có thể ngăn chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa là thế.

Với bài Tin mừng hôm nay, chúng ta chưa bao giờ thấy được tình thương của Thiên Chúa như thế. Quả vậy, trong ngày thứ nhất trong tuần, Chúa Ki-tô phục sinh đã tìm gặp các môn đệ. Và ngài đã thấy họ đang ở trong nỗi sợ hãi, bơ vơ và khép kín. Có vẻ như các ông đã không tin vào Ngài vì các ông đang cảm thấy số phận của các ông cũng sẽ kết thúc như số phận của Thầy mình. Các ông tìm cách quên đi tất cả vì nỗi hiểm nguy đang rình chờ nên các ông suốt ngày ở trong nhà đóng kín mà không muốn đi dạo trong thành phố.

Kinh nghiệm của các môn đệ khi xưa cũng là kinh nghiệm của chúng ta trong thế giới hôm nay: Làm sao mà đối diện với một thế giới đang nhân danh sức mạnh của con người để chống lại Thiên Chúa, chống lại Giáo hội, chống lại những người tin? Chúng ta thấy rõ ràng là không dễ tuyên xưng và sống niềm tin ki-tô giáo trong thế giới hôm nay. Trước những thách đố, cám dỗ lớn nhất đối với chúng ta là xây lên xung quanh mình những bức tường ngăn cách và tự vệ. Đó chính là cách thức để chúng ta bảo vệ mình trước giông tố cuộc đời. Chúng ta nhiều khi bối rối không biết hành xử thế nào trước một thế giới xa lại với niềm tin ki-tô giáo. Làm được gì đây trong một đại dương mênh mông xa lạ đó, đó là câu hỏi dai dảng bên tai chúng ta mỗi ngày.

Tuy nhiên, vào ngày lễ Phục sinh, Chúa Ki-tô lại đến với chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi nỗi sợ hãi và lo âu này. Ngài mời gọi các tông đồ đi ra và khởi đầu một sứ mạng: như Cha đã sai thầy, thầy cũng sai anh em. Và lời đầu tiên của Chúa phục sinh là một sứ điệp của bình an. Bình an của Chúa Ki-tô này được người tín hữu mang đến cho những anh chị em xung quanh mình: anh em hãy đi vào trong thế giới, hãy trở nên niềm hy vọng cho con người. Chúng ta được mời gọi trở nên những người mang trong mình tình yêu của Chúa. Bởi vì như thánh Phanxicô Mauriac đã nói: ngày nào mà chúng ta không rực lửa tình yêu nữa là lúc mà tha nhân đang chết cóng. Vâng, lửa tình yêu này cần phải đi đến sự bao dung và tha thứ. Tha thứ là khí cụ của lòng thương xót của Chúa. Trong thư gửi cho tín hữu Êphêsô, thánh Phao lô đã viết: anh em hãy tha thứ cho nhau như Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Ki-tô.

Vẫn còn đó hình ảnh của tông đồ Tôma, người đã vắng mặt hôm Chúa phục sinh hiện ra. Điều mà Tôma đã thấy được chỉ là Đức Giê-su bị đóng đinh và bị chôn trong mồ. Đáp lại yêu cầu của Tôma, Chúa Ki-tô phục sinh đã mời ông lại gần và đụng tay vào các vết thương. Tuy nhiên thì ông đã không cần phải làm điều đó bởi vì ông đã đi xa hơn các anh em của ông khi ông là người đầu tiên nhận ra Chúa Giê-su “ Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi”. Chính sự gặp gỡ và lời của Chúa Ki-tô đã gợi lên sự tuyên xưng đức tin của người hoài nghi. Chúng ta cũng thế, như Tôma, chúng ta thích thấy bằng chứng để tin. Nhưng Chúa không ngừng nhắc lại với chúng ta những lời này: “ Phúc thay ai không thấy mà tin”. Vậy, hãy đừng là Tôma của sự cứng tin nhưng hãy tin. Cuộc đời của Tôma cũng chính là cuộc đời của mỗi chúng ta. Đó là những cuộc đời luôn được Chúa thương yêu và tha thứ.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con gia tăng niềm tin. Xin ở với chúng con để chúng con thêm sức mạnh mà làm chứng tá cho Chúa. Xin ban cho chúng con sự quảng đại trong thực hành bác ái huynh đệ. Vâng, lạy Chúa, Ngài là ánh sáng, ngài là tình yêu, xin xua tan trong chúng con bóng đêm nhờ vào Thánh thần của tình yêu Ngài. Amen.