Chinhtoa church

Tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa

Trong suốt năm phụng vụ, chúng ta đã tưởng niệm những sự kiện lớn trong cuộc đời của Chúa Giêsu: nhập thể làm ngừoi, rao giảng tin mừng,  sự chết và sự phục sinh, gửi Chúa Thánh Thần đến. Phụng vụ mời gọi chúng ta hôm nay mừng lễ Chúa Ba Ngôi, vì Chúa Ba Ngôi là khởi đầu và là kết thúc của lịch sử cứu rỗi: là Alpha và omega, sự khởi đầu và kết thúc. Thánh lễ trọng thể này mời gọi chúng ta suy ngẫm về Thiên Chúa Ba Ngôi mà Chúa Giêsu Kitô đã mạc khải cho chúng ta. 

Chúa Ba Ngôi vẫn là một màu nhiệm, nhưng nó chiếu sáng cuộc sống, mang lại ý nghĩa cho những biến cố đang xảy ra trong đời sống mỗi người, nuôi dưỡng hy vọng và lấp đầy sự cô đơn của chúng ta.  Chúa Giêsu thường nói với chúng ta về Cha ngài và về Chúa Thánh Thần. Ngài đề cập đến ba ngôi Thiên Chúa khi ngài gửi các môn đệ ra đi rao giảng Tin mừng: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.” (Mt 28:19) 

Kinh thánh cho chúng ta biết, trước hết Thiên Chúa biểu lộ với nhân loại như một Người Cha dịu dàng, nhân hậu, tôn trọng sự tự do của con cái mình, luôn sẵn sàng chào đón đứa con hoang đàng, luôn sẵn sàng tha thứ. 

Tiếp đến, trong Chúa Giêsu, Con của Cha, Thiên Chúa mang một khuôn mặt con người, huynh đệ, gần gũi với chúng ta, một Thiên Chúa “anh em”. Ngài là “pontifex”, người làm cầu nối, người tạo ra mối liên hệ giữa con người và Thiên Chúa. Tình yêu của Thiên Chúa trở nên hữu hình, dễ hiểu và có thể được bắt chước. Tình yêu ấy là Emmanuel, Chúa với chúng ta, qua mầu nhiệm nhập thể của Ngôi hai Thiên Chúa làm người. 

Và cuối cùng, Chúa Thánh Thần đến đi vào trong tâm hồn mỗi con người, đó là nơi sâu thẳm nhất của con người. Chính Thiên Chúa trong chúng ta là người hướng dẫn, dạy dỗ, mời gọi hành động, an ủi và củng cố chúng ta. Ngài liên tục tái tạo và làm cho mọi thứ trở nên mới mẻ.

Chúa Kitô hứa sẽ “ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế”. Lời hứa này là nguồn gốc của niềm hy vọng của mỗi tín hữu. Thiên Chúa đồng hành và soi sáng chúng ta. Ngài giúp chúng ta đọc các sự kiện và nhận ra sự hiện diện của Ngài trong cuộc sống. Sự hiện diện này cho chúng ta sức mạnh để chiến đấu chống lại cái ác và hành động theo thánh ý Chúa. 

Một trong những đặc điểm cơ bản của Thiên Chúa là Ngài không muốn chúng ta trở thành đầy tớ của Ngài nhưng là một bạn đời của Ngài trong một giao ước vĩnh cửu. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Thầy không gọi các con là tôi tớ… nhưng Thầy gọi các con là bạn  hữu, bởi vì tất cả những gì Thầy đã nghe từ Cha Thấy, Thầy đã nói với các con” (Ga 15:15). Và hôm nay một lần nữa Chúa mời gọi mỗi chúng ta: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta (Kh, 3,20). Vậy chúng ta hãy mở rộng cửa tâm hồn để cho Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trị và biến đổi đời sống mỗi người theo như ý Chúa muốn.  

Chuyện kể rằng, một vị vua kia đến cuối cuộc đời cảm thấy buồn chán. Ông nói: “Suốt đời ta, ta đã cảm thụ được tất cả những gì mà một con người có thể cảm thụ được bằng các giác quan. Nhưng vẫn còn một điều ta chưa được thấy, đó là ta chưa thấy Chúa. Bây giờ nếu ta chỉ được nhìn thấy Chúa một thoáng thôi thì ta cũng sẽ mãn nguyện mà chết”. Nhà vua tham khảo ý kiến những bậc khôn ngoan, hứa cho họ đủ thứ phần thưởng nếu họ giúp ông thực hiện điều mơ ước ấy. Nhưng chẳng ai giúp được.

Thế rồi có một chàng chăn cừu nghe chuyện trên và tìm đến gặp nhà vua. Chàng nói: “Có lẽ hạ thần có thể giúp Bệ Hạ được”. Nhà vua rất sung sướng theo người chăn cừu leo lên nhiều ngọn đồi. Khi đến đỉnh một ngọn đồi nọ, người chăn cừu đưa tay chỉ mặt trời và bảo: “Hãy xem kìa”. Nhà vua ngước mắt nhìn lên nhưng liền nhắm lại ngay vì chói quá. Ông bảo: “Nhà ngươi muốn cho ta mù sao!” Người chăn cừu đáp: “Tâu Bệ Hạ, đây chỉ mới là một phần nhỏ của vinh quang Thiên Chúa mà Bệ Hạ còn nhìn không nổi. Thế thì làm sao Bệ Hạ có thể nhìn được Thiên Chúa bằng cặp mắt bất toàn của Bệ Hạ? Bệ Hạ phải tìm cách nhìn Ngài bằng cặp mắt khác”.

Nhà vua rất thích ý tưởng ấy, nói: “Ta cám ơn ngươi đã mở cắp mắt trí khôn của ta. Bây giờ hãy trả lời cho câu hỏi khác của Ta: Thiên Chúa sống ở đâu?” Người chăn cừu lại đưa tay chỉ lên trời: “Bệ Hạ hãy nhìn những con chim đang bay kia. Chúng sống trong bầu không khí bao quanh. Chúng ta cũng thế, chúng ta sống trong sự bảo bọc của Thiên Chúa. Xin Bệ Hạ đừng tìm kiếm nữa, mà hãy mở rộng mắt ra để nhìn, mở tai ra để nghe. Thế nào Bệ Hạ cũng thấy được Ngài. Thiên đàng ở ngay dưới chân chúng ta cũng như ở ngay trên đầu chúng ta”.

Nhà vua dừng bước, cố gắng nhìn, cố gắng lắng nghe. Thế là một cảm giác bình an lộ rõ trên khuôn mặt buồn thảm của ông. Người chăn cừu nói tiếp: “Tâu Bệ Hạ, còn một điều nữa”. Rồi chàng dẫn nhà vua đến một cái giếng. Nhà vua nhìn xuống mặt nước bằng phẳng, hỏi: “Ai sống dưới đó thế?” Người chăn cừu đáp: “Thiên Chúa”. “Ta có thể nhìn thấy Ngài không?” “Được chứ, Bệ Hạ chỉ cần nhìn”. Nhà vua chăm chú nhìn xuống giếng, nhưng chỉ thấy gương mặt của mình phản chiếu trên mặt nước. Ông nói: “Ta chỉ thấy mặt Ta thôi”. Người chăn cừu giải thích: “Bây giờ thì Bệ Hạ đã biết Thiên Chúa sống ở đâu rồi. Ngài sống trong Bệ Hạ đó”.

Nhà vua nhận ra rằng người chăn cừu khôn ngoan và giàu có hơn ông. Ông cám ơn chàng và trở về hoàng cung. Chẳng ai biết ông có nhìn thấy Thiên Chúa không, nhưng ai cũng nói rằng có một điều gì đó đã biến đổi trái tim ông, bởi vì từ đó trở đi ông đối xử rất nhân hậu với mọi người, kể cả người đầy tớ hèn hạ nhất của ông.

Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi giống như bí mật của mặt trời. Chúng ta không thể nhìn trực tiếp vào mặt trời và hiểu thành phần của nó bởi vì nó sẽ làm mù chúng ta. Nhưng mặt trời chiếu sáng và làm cho mọi thứ tồn tại. Chúa Ba Ngôi vẫn là một bí ẩn đối với chúng ta, nhưng nó chiếu sáng cuộc sống của con người, mang lại ý nghĩa cho những gì đang xảy ra, nuôi dưỡng hy vọng và lấp đầy sự cô đơn của chúng ta.  Chính sự hiện diện tuyệt vời này của Thiên Chúa trong cuộc sống của chúng ta mà chúng ta mừng lễ Chúa Ba Ngôi trọng đại trong ngày hôm nay.

Luồng gió Thánh Thần

50 ngày sau Phục sinh, hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Thánh Thần chính là món quà được trao tặng cho các Tông đồ và cho tất cả Giáo Hội.

Như sách thánh thuật lại, thì vào ngày lễ ngũ tuần khi các Tông đồ cùng với Mẹ Maria đang ở trong căn phòng đóng kín cửa, bỗng nhiên họ nghe thấy một tiếng động như là tiếng gió mạnh thổi và họ nhìn thấy những lưỡi lửa đậu xuống trên đầu từng người. Dấu hiệu này cho thấy lời Chúa Giê-su hứa đã được thực hiện. Người trẻ cũng như người già chìm ngập trong làn gió của Chúa Thánh Thần. Họ được thúc đầy ra khỏi căn phòng để làm chứng cho những kỳ công của Thiên Chúa.

Vậy, biến cố này có ý nghĩa gì với chúng ta? Thưa, sự hiện diện của Chúa Thánh Thần đổi mới chúng ta. Cộng đồng Vatican II là một ví dụ cho hoạt động thần kỳ của Chúa Thánh Thần. Mọi người trong Giáo Hội đã được thức tỉnh như người bệnh được hít thở khí oxy. Chúa Thánh Thần đã mang đến cho Giáo Hội  của Đức Ki-tô một luồng gió mới để loại trừ những luồng khí làm cho Giáo Hội bị giam hãm trong căn phòng kín.

Để đáp lại quà tặng vô giá này, mỗi chúng ta hôm nay chỉ có thể ca lên lời tạ ơn Chúa như Thánh vịnh 103: Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa. Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, Ngài quá ư vĩ đại! …Ngài gửi hơi thở tới và Ngài canh tân bộ mặt trái đất. Vâng, chúng ta tạ ơn Chúa về tất cả sự kỳ diệu  từ ngàn xưa cho tới hôm nay. Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống là một sự  sáng tạo mới. Nó được khởi đầu bởi sự hiệp thông giữa các dân tộc dù là người Rôma, là Do-thái và tòng giáo, là người Crêta và Á-rập v.v. Tất cả mọi người đều đều nghe thấy các tông đồ loan báo Tin mừng bằng nói tiếng của họ mà ca tụng những kỳ công của Thiên Chúa.  Cộng đoàn phụng vụ chúng ta bao gồm người trẻ, người già, đến từ mọi gia đình, từ nhiều giáo phận lúc này đây trong ngôi nhà thờ này đang chứng minh cho sự hiệp thông kỳ diệu này.

Khi ta lãnh nhận Chúa Thánh Thần, thì cuộc sống cũ sẽ phải được thay đổi bằng một đời sống mới. Đó là điều mà Chúa Thánh Thần tác động.  Vậy hãy sống dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, để Ngài hoạt động trong chúng ta vì Ngài chính là nguồn mạch thiêng liêng duy nhất có thể tưới mát mầm sống đức tin. Chính Chúa Thánh Thần có sức mạnh biến đổi khi ban cho chúng ta lòng tin, tình  yêu, niềm vui, sự bình an, lòng nhân từ, khoan dung và nhẫn nại trước mọi thử thách như là những hoa trái của Ngài.

Chúa Thánh Thần luôn luôn hoạt động trong thế giới hôm nay, Ngài chính là đấng bảo trợ của các tín hữu trong mọi thử thách của cuộc đời. Những con người này đang hiện diện khắp nơi trên toàn thế giới và đang làm chứng cho niềm vui  Tin mừng của Đức Ki-tô.

Trong cuốn 5 chiếc bánh và 2 con cá, vị tôi tớ Chúa là ĐHY Phanxicô đã chia sẻ: Thời kỳ biệt giam ở Hà Nội, tôi được biết có 20 chiến sĩ nam nữ trẻ học tiếng Latinh với một cựu tu sĩ, để có thể đọc các tài liệu của Giáo hội. Trong số mấy anh gác tôi có hai anh trong nhóm học Latinh. Trông thấy bài vở, tôi nhận thấy họ học tốt. Một hôm, một trong hai anh ấy hỏi tôi:

– Ông có thể dạy tôi một bài hát tiếng Latinh không?

– Có nhiều bài hay tuyệt, nhưng biết anh thích bài nào?

– Ông hát cho tôi nghe, tôi sẽ chọn.

Tôi đã hát Salve Regina, Veni Creator, Ave Maris Stella… Các bạn biết anh ta chọn bài nào không? Anh ta chọn bài Veni Creator (Xin Chúa Ngôi Ba đoái thương viếng thăm…).

Tôi đã chép trọn cả bài cho anh ta và anh ta học thuộc lòng. Mỗi sáng quãng 7 giờ, tôi nghe anh ta chạy xuống thang gỗ, ra sân tập thể dục, rồi múc nước vừa tắm vừa hát: Veni Creator Spiritus… Tôi rất cảm động, làm sao mỗi sáng trong nhà tù cộng sản lại có một cán bộ hát kinh “Veni Creator” cho mình nghe!

Anh thứ hai lại chọn một bài hát tiếng Việt: “Ngày vinh phước hôm nay, hát mừng Tôma Thiện” kính thánh tử đạo chủng sinh. Anh rất thích nên thuộc lòng cả bài. Tiếng anh ngân nga, như nhắc tôi can đảm chịu khó: Ôi! cái chết đẹp thay! Trên cổ một vòng dây, Cái vòng dây yêu mến, Buộc lòng tớ theo Thầy.

Qua chứng từ của Đức Hồng Y Phanxicô, mọi người sẽ thắc mắc: đâu là động lực giúp cho ĐHY vượt qua đau khổ để vui sống, và có thể đem niềm vui đến cho người khác, thậm chí là những người làm hại mình. Thưa đó là sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Chính ĐHY đã làm theo tác động của Chúa Thánh Thần và hiệu quả là cuộc đời của ĐHY đã trổ hoa trái của Chúa Thánh Thần đó là  niềm vui và nhân từ, nhẫn nại và  bao dung và trên tất cả là niềm tin và tình yêu.

Chúa Thánh Thần đang hiện diện giữa chúng ta, đang hiện diện trong Giáo Hội và đang hiện diện giữa thế giới hôm nay. Ngài không bỏ chúng ta, ngay cả trong những hoàn cảnh đáng thất vọng nhất. Quả vậy, không có gì ngăn cản Ngài tác động để đời sống chứng tá của các tín hữu trổ sinh hoa trái.Amen.

Xin cho chúng nên một

Tinh thần nào giúp cho Giáo Hội hôm nay trở nên chứng tqư đích thực của Chúa Ki-tô?

Một người kia có ba người con trai, trước khi qua đời, ông muốn dạy các con bài học hiệp nhất: “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”, ông gọi các con đến và nói: “Vàng bạc thì cha không có, cha có một gia tài quý giá hơn cả vàng và muốn để lại cho các con”. Nói xong ông lấy ra ba chiếc đũa tre trao cho ba người con mỗi người một chiếc và bảo: “Các con hãy bẻ gãy chiếc đũa cho cha coi”. Ba người con vâng lời cha bẻ gãy chiếc đũa dễ dàng.

Sau đó người cha trao cho ba người con mỗi người một bó đũa và nói: “Các con hãy bẻ gãy bó đũa này cho cha xem”. Lúc này ba người con dùng hết sức vẫn không sao bẻ gãy được. Bấy giờ người cha mới nói: “Nếu các con biết đoàn kết thương yêu nhau, thì các con giống như bó đũa kia sẽ không có sức mạnh nào làm gãy được các con. Ngược lại nếu các con không đoàn kết thương yêu nhau mỗi người một nơi, thì các con sẽ như chiếc đũa kia bị bẻ gãy một cách dễ dàng, hiệp nhất: Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”.

Nói xong, người cha ra đi trong vòng tay yêu thương của các con.

Câu truyện trên mình chứng cho chúng ta một điều cốt yếu cho việc rao truyền tin mừng là sự hiệp nhất của Giáo Hội được đặt nền tảng bởi lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trong bài Tin mừng. Chúng ta đã lắng nghe lời cầu nguyện lâu giờ của Đức Giê-su trong những giây phút chuẩn bị từ bỏ đời này mà về cùng Chúa Cha. Mối bận tâm lớn nhất của Chúa không phải là Giáo Hội sẽ được tổ chức quy mô, cũng không phải là các bí tích được cử hành long trọng hay hoàn hảo cho bằng những người tin hiệp nhất nên một như lời thân thưa của Ngài với Chúa Cha: lạy Cha, xin cho chúng nên một như chúng ta là một. Vậy sự hiệp nhất trở nên nền tảng cho sứ mạng tiếp nối công cuộc rao giảng Tin mừng của Giáo Hội.

Từ kho tàng vô giá của Kinh thánh mà chúng ta vừa cùng nhau suy niêm, hệ luận cho việc rao truyền tin mừng nước Chúa, là chúng ta cần hiệp nhất trong yêu thương. Sự hiệp nhất trong yêu thương được mở rộng tới cả những kẻ bé mọn, những người nghèo khó, bị loại trừ và tất cả những người nam và người nữ bị khước từ do quá khứ lỗi lầm của họ.

Tuy nhiên chính Thiên Chúa mới là Đấng đang có đó để liên kết  những anh chị em này với Giáo Hội  và loan báo cho họ tin vui của tình yêu cũng như trao tặng lại cho họ niềm vui mừng và hy vọng. Noi gương Đức Giê-su, chúng ta phải biết tha thứ cho nhau để làm chứng cho lòng thương xót của Chúa đối với toàn thể nhân loại. Sứ mạng này chỉ có thể được hoàn thành nếu  các tín hữu Chúa sống tinh thần hiệp nhất yêu thương.

Trong cuốn 5 chiếc bánh và 2 con cá, vị tôi tớ Chúa là ĐHY Phanxicô đã chia sẻ lúc bị giam ở trại tù Phú Khánh rằng: Một đêm đông lạnh quá, không ngủ được, tôi nghe một tiếng nhắc nhủ tôi:  “Tại sao con dại thế?  Con còn giàu lắm:  Con mang tình thương Chúa Giêsu trong tim con.  Hãy yêu thương họ như  Chúa Giêsu đã yêu con”.  Sáng hôm sau, tôi bắt đầu mến những người lính gác, yêu mến Chúa Giêsu trong họ, tươi cười với họ, trao đổi đôi ba câu nói…  Tôi thuật lại những chuyến đi ra nước ngoài, cuộc sống, văn hóa, kinh tế, khoa học kỹ thuật, tự do dân chủ ở Canada, Nhật Bản, Philippines, Singapore, Pháp, Đức, Úc, Áo, v.v…  Những câu chuyện đó kích thích tính tò mò của họ, giục họ đặt nhiều câu hỏi.  Tôi luôn luôn trả lời…  Dần dần chúng tôi trở thành bạn.  Họ muốn học sinh ngữ Anh, Pháp… tôi giúp họ.  Từ từ mấy chiến sĩ gác tôi trở thành học trò của tôi!  Bầu khí nhà giam đổi nhiều, quan hệ giữa họ với tôi tốt đẹp hơn.  Thậm chí cả những ông xếp công an, thấy tôi đối xử chân thành, không những họ xin tôi giúp các chiến sĩ học hành ngoại ngữ, nhưng họ còn gửi anh khác đến học”.

Qua chứng từ trên, ta thấy để đạt được sự hiệp nhất  này, vấn đề không phải là tìm kiếm những sự đồng nhất của các ý tưởng giữa người này với người khác, mà điều quan trọng là ĐHY chia sẻ tình thương của Đức Ki-tô cho những người anh em để đổi thù thành bạn. Đối với con cái Giáo Hội là chúng ta cũng thế, điều quan trọng là tập họp với nhau xung quanh Chúa Giê-su và hiệp nhất với nhau trong lời cầu nguyện. Vậy đừng chờ đợi cho đến lúc hoàn hảo mới có thế hướng lòng về với Chúa bởi vì chính Ngài đang mời gọi chúng ta cùng nhau nối kết với lời cầu nguyện của Ngài cho sự hiệp nhất các môn đệ: lạy Cha, xin cho chúng nên một.

Lời cầu nguyện này còn nối kết với chúng ta hôm nay trong một thế giới đang đau đớn vì bạo lực và chiến tranh. Có biết bao nhiều người nam và nữ, cùng với các trẻ em đã bị bách hại và tàn sát đẫm máu vì niềm tin vào Đức Ki-tô. Kính thưa…trong ngày Chúa nhật hôm nay,  chúng ta cùng cầu xin Chúa cho công cuộc hòa giải các dân tộc và cho tiến trình thực thi công lý trên toàn thế giới. Xin Chúa cho chúng ta sự can đảm và sức mạnh để sẵn sàng chung tay xây dựng một thế giới mỗi ngày một công bằng, huynh đệ hơn và cho một thế giới đầy tràn tình yêu thương và hiệp nhất trong Đức Ki-tô Chúa chúng ta. Amen

Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế

Trong ngày lễ Chúa Lên Trời, chúng ta không cử hành sự ra đi của Chúa Giê-su Ki-tô phục sinh nhưng là sự hiện diện rõ hơn của Chúa trong đời sống mỗi ngày. Chúa Giê-su đã hoàn thành sứ vụ nơi trần thế và Ngài tiếp tục đồng hành và ở cùng chúng ta theo một cách thức mới như lời Chúa nói: “ Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.

Ngài sẽ hiện diện bởi Lời Chúa, bởi các Bí tích, bởi Thánh lễ và bởi những ai cần đến chúng ta, vì “ mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25). 

Để hiểu rõ sứ điệp của ngày lễ Chúa Lên Trời hôm nay, chúng ta đã được các bài đọc và bài Tin mừng soi sáng.

Như chúng ta thấy, vào buối tối bữa Tiệc Ly, Chúa Giê-su đã nói với các Tông Đồ: “ Thầy không để anh em mồ côi” và Ngài hứa ban Chúa Thánh Thần: “ Anh em hãy nhận lấy một sức mạnh, là Chúa Thánh Thần sẽ xuống trên anh em.  Vậy anh em hãy trở nên chứng tá của Thầy ở Giêrusalem, trong cả miền Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất”.

Vâng, sứ vụ mà Chúa Giê-su tửi đến cho chúng ta là làm chứng tá cho một Thiên Chúa luôn gần gũi mọi người như chính Chúa Giê-su đã trở nên gương mẫu. Trước những chống đối của các luật sỹ và biệt phái, Chúa Giêsu đã đứng về phía các người ngoại Samaria, những đứa con hoang đàng, các cô gái điếm, ngoại tình, những người làm công cuối ngày, các người thu thuế, các người tội lỗi. Ngài luôn bảo vệ những người bị xã hội loại trừ: họ là những người thấp cổ bé miệng, những người cùi hủi, các phụ nữ và trẻ con. Ngài không loại trừ ai. Trong đường phố, trong các hội đường, hay ở bờ biển, nơi các gia đình, đền thờ, bên bờ giếng Gia-cóp, hay trên núi cao, “ Ngài đều rảo qua để thi ân giáng phúc”.

Người ta thường kết án Ki-tô giáo là “thuốc phiện mê dân”, một dạng ma túy làm cho con người quên đi những vẫn đề của đời sống hiện tại, khi đưa ra những lời hứa về hạnh phúc sau cái chết. Quan niệm này hoàn toàn ngược lại với điều mà Thiên thần hiện ra nói với các tông đồ khi xưa: “ Hỡi người Galillê, sao các ông còn ở đó hướng nhìn lên trời?”. Nói thế có nghĩa là đừng để đầu óc trên mây nữa, nhưng là hãy nhìn xuống đất để thấy được những gì đang xẩy trong thế giới này, hãy quay trở lại quê hương Gallilê của các ông, có nghĩa là trở về với môi trường sống hiện tại, trong làng trong phố, trong gia đình mình.

Quả vậy, không phải chúng ta chỉ thấy Chúa khi ở trên trời nhưng là trong đời sống hàng ngày của mỗi chúng ta. Chính mỗi chúng ta có nhiệm vụ hoàn thành chương trình của Thiên Chúa trong môi trường sống hiện tại với tình liên đới với tất cả mọi người xung quanh. Thiên Chúa trao nhiệm vụ cho những người tin mà chúng ta là “những người tin vào Đức Ki-tô thì có nhiệm vụ chu toàn những công việc mà Chúa trao phó. Trong đoạn tường thuật biến cố lên trời, thánh sử Maccô còn nói thêm: “ Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ.” Vâng, mang niềm vui và hạnh phúc đến cho người khác là sứ mạng mà Chúa trao phó mỗi chúng ta trong đời sống hiện tại này.

Ngày 13.05, kỷ niệm Đức Mẹ hiện ra  ở Fatima năm 1917, chúng ta nhắc lại biến cố Đức Mẹ hiện ra với 3 em Luxia, Phanxicô và Giaxinta. Khi đó 3 em đó cũng đơn sơ hỏi Đức mẹ “Thưa Bà, Bà ở đâu đến vậy ?” Đức Mẹ đưa tay lên cao và nói “Từ trời xuống”. 3 em liền xin “Vậy xin Bà cho chúng con cũng được lên trời đi”. Đức Mẹ mỉm cười đáp “Phanxicô và Giaxinta thì Ta sẽ cho về trời trong một ngày gần đây ; còn Luxia thì hãy chịu khó ở lại trần thế này một khoảng thời gian nữa. Kể từ ngày đó 2 em kia lúc nào cũng mơ ước tới ngày được lên trời. Dù sắp chết 2 em cũng chẳng chút lo sợ, lại còn mừng vì mình sắp được lên trời.

Trong niềm tin tưởng như hai em nhỏ Phan xicô và Gianxita là sẽ được lên Trời với Đức Ki-tô sau khi vượt qua cõi đời này, mỗi chúng ta hãy tiếp bước các tông đồ khi xưa tiếp nối sứ mạng của Chúa ở trần gian qua việc thực hiện lời dạy của Thầy Chí Thánh: “anh em hãy ra đi rao giảng Tin mừng cho muôn dân” để chia sẻ niềm hy vọng lớn lao này cho mọi người xung quanh chúng ta.

Thực vậy, trong mỗi cử hành Thánh lễ, thường được kết thúc bằng lời sai đi gửi tới cộng đoàn là: “ Lễ xong chúc anh chị em đi bình an”…Lời chúc này có ý nghĩa như là lời sai đi làm chứng tá cho Tin mừng, cho những điều kỳ diệu trong thánh lễ đã lãnh nhận. Lời chúc này cũng có ý nghĩa đừng đứng đó mà nhìn lên trời, nhưng hãy trở về nhà, trong môi trường mà ở đó sứ vụ đang chờ đợi mỗi chúng ta. Xin cho mỗi chúng ta tham dự thánh lễ hôm nay mừng Chúa Về Trời cũng trở nên những tông đồ đích thực làm chứng tá cho niềm hy vọng lên trời trong việc chu toàn ơn gọi và những công việc bổn phận hằng ngày của mình. Amen.

Yêu thương nhau

Trình thuật Tin mừng hôm nay thuộc về chương 13 của Tin mừng Thánh Gioan. Phần đầu tiên của chương này cho thấy Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ của mình. Qua đó Ngài cho họ một mẫu gương về tình yêu và sự phục vụ. Yêu thương và phục vụ trở thành dấu hiệu đặc biệt của các môn đệ Chúa Giêsu. “nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.” (Ga 13:14)

Làm thế nào để biết chúng ta là môn đệ thực sự của Chúa Kitô? Câu cuối cùng của Tin Mừng hôm nay cho chúng ta câu trả lời thật rõ ràng: “Căn cứ vào điều này mà mọi người nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là nếu các con yêu thương nhau”. Yêu thương nhau đó chính là dấu chỉ của các Kitô hữu. Thực vậy các nghi lễ, tổ chức, bí tích, đều quy về điều này, cũng như nuôi dưỡng và thể hiện tình yêu mà chúng ta dành cho nhau.

Điều răn yêu thương không phải là điều gì mới mẻ. Đó là một trong những điều cơ bản trong truyền thống Kinh Thánh, như sách luật Lêvi viết rõ: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19:18). Điều mới mẻ ở đây là cách thể hiện tình yêu này, đó là: “yêu nhau như Thầy yêu anh em”. Như vậy điều răn mới về tình yêu ở đây là: yêu như Chúa Giêsu yêu thì vượt trên cả yêu chính bản thân mình.

Tình yêu mà Chúa Kitô nói tới hôm nay là một nguồn nước của sự sống mang lại một mùa xuân mới. Nó là một loại dầu dưỡng chữa lành vết thương. Tình yêu này là một tình yêu sâu sắc, chung thủy, một tình yêu mạnh mẽ hơn sự giận ghét, mạnh hơn bất công và mạnh mẽ hơn cái chết. Tình yêu này là một tình yêu mới bởi vì nó đi tới tận cùng, đó là  “Yêu thương nhau như Thầy yêu anh em”. Giới răn này là đòi buộc duy nhất của giao ước mới được ký kết bằng chính tình yêu trên Thập giá của Đức Giêsu Ki-tô. Tất cả mọi thứ khác là thứ yếu nên sứ mệnh này đã được chính Chúa Kitô giao phó cho tín hữu để nhờ đó mà “người ta sẽ biết anh em là môn đệ thầy nếu anh em yêu thương nhau.”

Điều ưu tiên trong đời sống Giáo hội không phải là luật pháp, thể chế, cơ chế tổ chức, giáo thuyết, truyền thống…. Cũng không phải là phải cầu nguyện, làm phúc, bố thí, hay trang hoàng bàn thờ và nhà thờ hoành tráng. Tất cả những điều này rất quan trọng, nhưng điều hoàn toàn cần thiết là tình yêu chúng ta dành cho nhau. Đây là dấu hiệu duy nhất để mọi người được nhận ra ai là môn đệ của Đức Ki-tô. Đây là điều răn mới mà Chúa Kitô đã để lại cho chúng ta như một di sản vô giá.

Sau phần truyền phép của mỗi thánh lễ, chúng ta thưa lên lời kinh nguyện Thánh thể để tình yêu mới này sẽ được thực hiện trong chúng ta đó là “khi thông phần vào Mình và Máu Thánh Chúa Kitô, chúng con tha thiết nài xin để chúng con được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần.” Tình yêu này là có thể và nó thực sự tồn tại trong thế giới của chúng ta ngày nay.

Chuyện kể một ngày nọ, khi thánh Têrêsa thành Calcutta (Mẹ Têrêsa, 1910-1997) và các Thừa sai Bác ái của bà đang chăm sóc những người nghèo nhất trong số những người nghèo trên đường phố Calcutta, họ tình cờ gặp một người đàn ông nằm trong rãnh nước, sắp chết. Ông ta bẩn thỉu, chỉ cuốn một tấm giẻ rách và ruồi nhặng bâu quanh người. Ngay lập tức, Mẹ Têrêsa ôm lấy ông, nói chuyện nhẹ nhàng với ông và bắt đầu gắp những con giòi đang làm tổ trong da thịt ông. Một người qua đường cảm thấy ghê tởm khi nhìn thấy cảnh tượng đã thốt lên với Mẹ Têrêsa: “Tôi sẽ không làm điều đó dù được cho một triệu đô la.” Phản ứng ngay của Mẹ: “Tôi cũng vậy!” Đích thực, tiền bạc không phải là động lực thúc đẩy người phụ nữ nhỏ bé được mệnh danh là thánh Têrêsa Calcutta; chính tình yêu đã làm.

Không yêu thương được bằng mẹ Têrêsa, nhưng chúng ta có thể thấy trong đời sống thường ngày nhiều chứng tá nhỏ bé phản ảnh tình yêu như Chúa Giêsu yêu thương như: Cha mẹ trong nhiều năm dành tình yêu và tình cảm cho một đứa trẻ khuyết tật không thể tự chăm sóc bản thân; Vợ chồng chăm sóc nhau lúc đau yếu bệnh tật; con cái chăm sóc cha mẹ già, thường xuyên đến thăm và giúp đỡ họ về tài chính; nhưng tình nguyện viên một phần thời gian của họ để tình nguyện, thăm người bệnh, đồng hành với người già, giúp đỡ người khuyết tật…hay các anh chị em Caritas dành thời gian và tiền bạc để giúp đỡ các nạn nhân của các nạn dịch và thảm họa trên toàn thế giới; v.v. Tình yêu thương nhau này được biểu lộ theo hàng ngàn cách thế trong cuộc sống hàng ngày như: lắng nghe, chào đón, chăm sóc người khác, phục vụ những người yếu đuối nhất, lòng trắc ẩn, sự tha thứ, lòng thương xót, v.v. Nó được phản ánh trong các hành động đơn giản của cuộc sống hàng ngày và trong các hoạt động cộng đồng ủng hộ lợi ích chung, nhân quyền, công bằng xã hội, phân phối hàng hóa tốt hơn, môi trường chất lượng cao, cuộc chiến chống phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, phân biệt đối xử, v.v. Bằng cách yêu thương lẫn nhau như Chúa Kitô yêu thương, là chúng ta tham gia vào việc xây dựng Đô Thành mới trên Nước Trời, kính thưa… nơi đó “sẽ không có cái chết, không có tang tóc, không có nước mắt, không đau đớn, không bạo lực, không chiến tranh, không bóc lột”.

Ước gì lời Chúa Giêsu hôm nay luôn vang vọng trong tâm hồn mỗi người chúng ta: “Thầy ban cho các con điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau. “

Scroll to Top