Chinhtoa church

Tỉnh thức và cầu nguyện

Mùa Vọng là thời gian trông đợi ngày Chúa đến. Xét về ý nghĩa của sự trông đợi của Mùa Vọng thì chúng ta cử hành ba biến cố của việc Chúa đến: trước hết là biến cố Chúa đến trong thời gian và hằng năm biến cố này được cử hành long trọng vào ngày đại lễ Giáng Sinh 25.12; tiếp đến là biến cố Chúa đến trong đời sống của mỗi người qua việc họ sẵn sàng đón tiếp Chúa; và cuối cùng là biến cố Chúa đến trong vinh quang của ngày cánh chung. Nói chung ý nghĩa của ba biến cố này là tâm tình tràn đầy niềm hy vọng mừng Chúa đến viếng thăm, đó cũng là chủ đề mà các bài đọc kinh thánh mà chúng ta vừa nghe.

Bài đọc Cựu ước cho thấy: việc Thiên Chúa đến là để làm thỏa mãn khát vọng của loài người.

Ngôn sứ Giêrêmia đã chứng kiến những trang lịch sử đau buồn nhất của đất nước Israen và khát vọng lớn lao đối với họ là được giải thoát khỏi kiếp lưu đày. Trước tình cảnh tang thương đó, ngôn sứ đã loan báo cho dân biết rằng cảnh lưu đày sẽ không kéo dài lâu, vì sẽ tới những ngày Thiên Chúa sẽ gởi đến Một Đấng cứu thoát họ.

Còn trong bài đọc Tân ước, thì thánh Phaolô lại cho thấy:  việc Chúa đến mời gọi mọi người sống niềm hy vọng bằng tình yêu thương, qua thực tế đời sống của các tín hữu Thêxalonica.

Chuyện xẩy ra là vì nghĩ rằng Chúa sắp đến rồi, nên các tín hữu Thêxalônica sống buông thả, lười biếng. Từ đó sinh ra nhiều tệ nạn. Thánh Phaolô cho rằng đó không phải là thái độ đúng đắn. Thái độ đúng đắn là phải bồi dưỡng tình thương như trong thư ngài nhấn mạnh : “Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết… Có như thế thì… anh em mới được bền tâm vững chí không có gì đáng chê trách… trong ngày Chúa Giêsu quang lâm”.

Như vậy, lời Chúa hôm nay là mời gọi chúng ta cần sẵn sàng đón Chúa bằng việc tỉnh thức, cầu nguyện liên lỉ và kiên trì sống đức tin bằng một đời sống xứng đáng. 

Chúa Giê-su trong bài Tin mừng của Thánh Luca đã mô tả cách cụ thể những dấu chỉ cụ thể báo hiệu về Ngày Cánh Chung để mời gọi người môn đệ phải chú ý tới ngày Chúa đến bằng hai thái độ:

  • Thái độ thứ nhất là chú ý đón Chúa: vì thế không nên để mình xao lãng vì những ảnh hưởng bên ngoài như lo chè chén say sưa hoặc chỉ lo chuyện sống chết, chỉ lo chuyện thế gian… Nếu bất cứ lúc nào cũng nghĩ đến việc Chúa đến thì dù cho có thình lình, đột ngột, họ cũng không ngỡ ngàng.
  •  Thái độ thứ hai là kiên trì trong việc cầu nguyện liên lỉ : cầu nguyện để xin Ngài mau đến, cầu nguyện để xin ơn đứng vững trước những trào lưu thế gian lôi cuốn.

Chúng ta xác tín về sự hiện diện của Chúa trong đời sống mỗi ngày. Niềm xác tín này sẽ là trợ lực lớn lao để chúng ta hân hoan sống tâm tình mùa vọng hôm nay bằng một đời sống cầu nguyện liên lỉ và biết xa lánh những lôi cuốn của thế gian để có thể trở nên những ngọn đèn luôn cháy sáng của niềm tin yêu và hy vọng. 

Xin cùng với quý ông bà và anh chị em đọc lại lời Tin mừng như là một tâm tình tóm kết rất chí lý thúc đẩy chúng ta trong ngày khởi đầu của Mùa Vọng này: ” Các con hãy giữ mình, kẻo lòng các con ra nặng nề, vì chè chén say sưa và lo lắng việc đời, mà ngày đó thình lình đến với các con, như chiếc lưới chụp xuống mọi người sống trên mặt đất. Vậy các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người!“. Amen.

Nước tôi không thuộc về thế gian này

Chuyện kể rằng, có một ông lão lang thang dựng lều trú ngụ trước hoàng cung. Nhà vua triệu vào chất vấn ông lão: Nhà người nghe cho rõ đây đâu phải là trạm nghỉ chân của Ngươi? Ông lão liền hỏi: Tâu bệ hạ, trước hoàng thượng, ai sở hữu hoàng cung này ạ? Đức vua trả lời: phụ vương của trẫm, người đã băng hà. Thế vậy, ai đã sở hữu chỗ này trước phụ vương của hoàng thượng? Tiên đế của phụ vương trẫm, ông ấy cũng đã qua đời. Ông lão liền nói: Thế thì đây cũng chỉ là một trạm nghỉ chân; ai cũng chỉ ở chỗ này một thời gian ngắn rồi đi mà thôi.

Câu chuyện giả tưởng trên cho ta thấy Vua chúa trần gian là thế, dù có trị vì đến “muôn tuổi” thì rồi cũng có lúc ra đi. Còn Chúa Giê-su thì khác, Ngài mới là Vua muôn đời, là Vua vũ trụ vì Ngài không thuộc về thế giới của các vị vua trần thế và vượt quá những gì thuộc về giá trị thế gian.

Vua Giê-su đã được Ngôn sứ Đanien trong bài đọc I loan báo như là một nhân vật rất đặc biệt được gọi là Con Người. Con Người đã phải chịu rất nhiều đau khổ. Tuy nhiên, Đanien thấy Đấng Lão Thành (tức Thiên Chúa) trao cho Con Người quyền thống trị tất cả loài người. Nhân vật Con Người ấy chính là hình ảnh tiên báo Đấng Messia. Và Đức Giêsu chính là Đấng Messia hoàn thành lời tiên tri ấy.

Và như mô tả trong sách Khái huyền ở bài đọc II, thì vua Giê-su đã lấy máu mình rửa sạch mọi tội lỗi của con người vì yêu thương họ. Sau khi chịu nạn chịu chết, Ngài được tôn lên làm Vua mọi loài và làm cho chúng ta trở thành công dân trong vương quốc của Ngài.

Vương quốc của Vua Giê-su là vương quốc mà như Đức Giê-su nói với quan Phi-la-tô là “ không thuộc về thế gian này”, nhưng là vương quốc của sự thật và tình yêu.  Một vương quốc không có biên giới vì vũ trụ này là vương quốc của Chúa và bất cứ nơi đâu có người sống trong chân lý và tình yêu thì ở đó vương quốc của Chúa hiển trị.  Một vương quốc không có quân đội vì bất cứ ai thuộc về chân lý, sống theo lương tâm ngay chính, sống hòa thuận, thương yêu và làm những việc lành thì là người bảo vệ và thuộc về vương quốc này.

Qua ý nghĩa Lời Chúa hôm nay, mỗi người chúng ta sẽ phải làm gì để xứng đáng dự phần vương quốc của Đức Giê-su mỗi ngày một hơn? Mỗi chúng ta đã lãnh nhận bí tích thánh tẩy và nhờ đó trở thành công dân của vương quốc của Đức Giê-su.  Vương quốc mà Chúa Giê-su thiết lập đang khởi đầu ngay tại trần thế này, và được sánh ví như hạt cải và như men trong bột. Hạt cải có trở thành cây lớn, men có làm dậy nở thúng bột hay không cần phải nhờ vào sự tăng trưởng của mỗi người chúng ta trong đời sống đạo mỗi ngày.  

Để mỗi người chúng ta tự trả lời với Chúa trong ngày cuối cùng của năm phụng vụ, xin chia sẻ câu chuyện sau:

Vừa khi cuộc thế chiến thứ hai kết thúc, một toán lính đồng minh đã tình nguyện đến giúp đỡ người dân ở một làng nhỏ ở miền Bắc nước Ba-lan tái thiết lại những gì đã bị chiến tranh tàn phá.

Dân làng không yêu cầu họ làm công tác gì, cũng không xin giúp đỡ thuốc men, thực phẩm hay nông cụ. Họ chỉ xin các binh sĩ đồng minh giúp họ tái thiết một pho tượng đã bị bể nát tan tành. Từ nhiều thế kỷ qua, pho tượng này là niềm tự hào của người dân trong làng. Giờ đây pho tượng chỉ còn là những mảnh vụn nằm vung vãi dưới đất. Liệu những người lính đồng minh có thể làm được công tác khó khăn này không?

Quả thực, công tác khó khăn. Nhưng cuối cùng các binh sĩ cũng nhặt lại được từng mảnh vỡ và dựng lại được pho tượng. Chỉ có điều là có hai phần chi thể trong pho tượng là họ không thể tìm thấy.

Họ dựng pho tượng giữa quảng trường của ngôi làng và phủ lên đó một tấm vải lụa. Tấm vải này chỉ được mở ra bằng một nghi thức do ông xã trưởng chủ tọa.

Khi dân chúng trong làng tề tựu đông đủ trước quảng trường. Ông xã trưởng đọc diễn văn cám ơn các binh sĩ đồng minh và cho mở tấm vải lụa ra. Mọi người kêu lên với tất cả kinh ngạc. Pho tượng tuyệt đẹp nhưng lại không có đôi tay. Dưới chân pho tượng Chúa Kitô Vua không có đôi tay này, mọi người đọc được hàng chữ viết thật lớn sau đây: “Ta không có tay. Các con có thể cho Ta mượn đôi tay của các con được không?”

“Ta không có tay, các con có thể cho Ta mượn đôi tay của các con được không?” Vâng, câu nói  cảm động này cho thấy Chúa Ki-tô đang rất cần những  đôi tay của chúng ta để xây dựng vương quốc của Ngài. Trong cuộc sống hôm nay, vẫn còn đó những bất công xã hội, những thù hằn ghen ghét, những mảnh đời đau khổ vì nghèo đói, bệnh tật và bị bỏ rơi… Hơn lúc nào hết, Vua Ki-tô cần đến đôi tay tương trợ của những thần dân là chúng ta để xây dựng một xã hội biết tôn trọng sự thật, sự sống và môi trường sống, trong sự hiệp nhất và yêu thương. Cách đây hai ngàn năm, Chúa Giê-su đã đi lại, đã nói và đã làm biết bao nhiêu điều tốt đẹp, ngày nay hơn bao giờ hết, Ngài cũng muốn cho các hoạt động yêu thương của Ngài được tiếp tục thực hiện nơi cuộc sống chứng tá của mỗi người chúng ta.

Lạy Chúa,  xin cho chúng con nhận ra sự hiện diện sống động của Chúa trong phụng vụ thánh thể mà chúng con đang cử hành. Xin soi sáng cho chúng con để chúng con nhận ra Chúa nơi anh chị em xung quanh mà hết tình yêu thương họ bằng chính tình yêu chúng con thể hiện nơi Chúa bởi vì chính vì họ mà chúng con được mời gọi để sống tình yêu liên kết mật thiết với Chúa mỗi ngày. Amen.

Tình yêu Đức Ki-tô thúc bách

Ngày 1.11, chúng ta cùng với Giáo Hội hoàn vũ suy tôn cách chung tất cả các thánh nam nữ trên nước trời, hôm nay cùng với Giáo hội tại Việt Nam chúng ta tôn vinh các riêng các vị thánh tử đạo Việt Nam là cha ông chúng ta.

1,. Tử đạo là gì?

Các vị thánh tử đạo Việt Nam là ai? Thưa các Ngài là những người làm chứng tá cho lòng trung tín với Đức Ki-tô, đấng mà các ngài chọn để làm lẽ sống cho cuộc đời mình.

Như Thánh linh mục Phêrô Lê Tùy, khi bị bắt, biết ngài là Đạo Trưởng Gia-tô nên viên quan dụ dỗ: “Ông nghe ta đi, ai thấy ông bị bắt cũng động lòng trắc ẩn. Không ai muốn ông phải án tử hình, ta đây cũng vậy. Bây giờ ông nghe ta, làm một tờ khai nói mình là lang y chữa bệnh, có thế ta mới cứu ông được“. Cha Tùy trả lời: “Tôi không sợ chết, vì chết cách nào tôi cũng không ngại. Ai cũng phải chết. Dù chết trên chăn êm nệm ấm, dầu bị cọp tha cá rỉa, dầu bị lột da hay xé xác làm trăm mảnh cũng đều là chết thôi; cho nên tôi không sợ chết“.  Còn Thánh Anê Thành, một người mẹ của 6 đứa con. Trong cơn đau đớn vì bị tra tấn đã nhắn nhủ cô con gái đến thăm người trong tù rằng: “Con chuyển lời mẹ nói với các anh chị em con : Hãy coi sóc việc nhà, giữ đạo sốt sắng, đọc kinh sáng tối, dâng lễ mỗi ngày, cầu nguyện cho mẹ vác thánh giá Chúa đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta sẽ đoàn tụ trên Nước Thiên Đàng“. Lời sau cùng của bà là: “Giêsu Maria Giuse, con phó thác hồn con và thân xác con trong tay Chúa, xin ban cho con trọn niềm tin ở Chúa.”

Gương hai vị thánh trên đây đã cho thấy các vị tử đạo đã can trường giữ vững đức tin trước mọi thử thách gian lao. Các ngài đã sẵn sàng liều đánh đổi cả cái quý giá nhất của mình là mạng sống là để được chết vì Chúa Ki-tô, đấng đã chết cho toàn thể nhân loại. Và như thế tử đạo vì Chúa Ki-tô đối với các ngài là niềm hạnh phúc như lời Chúa Giê-su nói : “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. (Mt 5,10-12).

Sự trung tín, vâng phục và tình yêu với Đức Ki-tô đã phác họa lên bức chân dung Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, và đã biểu lộ được sức sống mãnh liệt kín múc từ Chúa Giê-su tử nạn và phục sinh. Nếu sức sống này sánh ví như hạt lúa miến phải mục nát đi mới trổ sinh hoa trái, thì chính cái chết của các ngài lại trở nên những hạt giống đức tin trổ sinh nhiều bông trái là các tín hữu.  Đó cũng chính là chân lý mà ông Tertuliano rút ra từ sự tử đạo của các Ngài khi ông nói : Máu các thánh tử đạo là hạt giống trổ sinh các ki-tô hữu.

2. Sống tử đạo bằng sự trung tín và vâng phục

Như thế, là những hoa quả trổ sinh từ hạt giống các thánh tử đạo anh hùng, chúng ta bày tỏ biết ơn các ngài đã gây dựng gia tài đức tin trên quê hương việt nam từ mấy trăm năm nay. Đồng thời, trong vinh dự là những người con cháu đang kế thừa truyền thống cao đẹp này, chúng ta cần phải sống theo gương cha ông.

Đó là chúng ta hãy thực thi một đời sống đạo cách cụ thể bằng những hy sinh từ nhỏ cho đến lớn qua sự trung thành với đức tin, vâng phục lề luật của Chúa và những đòi hỏi của bậc sống mình. Tất cả đòi buộc mỗi chúng ta phải chết đi mỗi ngày để có thể chiến thắng những cám dỗ và chiến thắng cái tôi ích kỷ của bản thân mình.

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta luôn ý thức địa vị cao quý là con cháu của các vị tử đạo anh hùng, để bằng sự trung tín và vâng phục trong niềm tin, không bao giờ để mất di sản đức tin quý báu đã được mua bằng giá máu các thánh tử đạo và không ngừng trao ban di sản vô giá này cho anh chị em xung quanh chúng ta. Amen.

Tấm lòng

Người đời thường đánh giá theo bề ngoài, còn Thiên Chúa thì đánh giá theo tấm lòng. Tấm lòng thành này phản chiếu qua gương sống của hai người phụ nữ được thuật lại trong hai bài đọc Kinh thánh mà chúng ta vừa nghe.

Mang thân phận là những bà góa, không được mọi người chú ý và coi trọng trong xã hội thời đó, hơn nữa lại là những bà góa nghèo, nhưng các bà góa nghèo này đã biểu lộ một tình yêu với Chúa và tha nhân không chỉ bằng tình cảm xuông nhưng còn bằng những hành động cụ thể.

Quả vậy, nếu yêu là hành động, thì tình yêu được diễn tả bằng sự cho đi mà không hề tính toán. Bà góa nghèo Sarepta trong bài đọc I đã trao tặng ngôn sứ Ê-li-a không phải những cái bà dư thừa, mà là chính chiếc bánh cuối cùng của mẹ con bà. Sở dĩ bà làm như thế vì bà có lòng tin tưởng phó thác vào lời hứa của Thiên Chúa. Cũng thế bà góa nghèo trong Tin mừng đã bỏ 2 đồng bạc và trong hòm tiền của Đền Thờ, không đáng giá trị bao nhiêu. Bà góa nghèo tiền nhưng đã làm một nghĩa cử đẹp vì bà là người giàu lòng. Đức Giê-su quan sát và thấy được đây là hình ảnh đẹp nên gọi các môn đệ đến chỉ cho họ thấy và dạy họ noi gương.

Cũng vậy, Mẹ Têrexa kể rằng một hôm Mẹ đang đi trên đường phố thì gặp một người ăn xin. Người này nói : “Thưa Mẹ Têrêxa, ai nấy cũng cho Mẹ hết. Hôm nay tôi cũng xin được cho mẹ. Trọn ngày hôm nay tôi chỉ xin được 30 xu. Tôi muốn cho mẹ hết”. Mẹ Têrêxa suy nghĩ một lúc : “Nếu tôi lấy 30 xu này thì người ăn xin này sẽ không có gì để ăn đêm nay, nhưng nếu tôi không lấy thì ông sẽ đau lòng. Vì thế tôi đưa tay ra nhận số tiền. Quả thực tôi chưa từng thấy một khuôn mặt nào rạng rỡ niềm vui như gương mặt người ăn xin này khi ông nghĩ rằng ông cũng có cái gì đó cho Mẹ Têrêxa”.

Và Mẹ Têrêxa kể tiếp : “Thật là một hy sinh lớn đối với người nghèo này. Ông đã phải ngồi ngoài nắng suốt ngày mới kiếm được 30 xu. 30 xu chẳng là bao và cũng chẳng làm được gì cho đáng. Nhưng khi ông đưa cho tôi và tôi nhận lấy thì nó trở thành hàng ngàn bởi vì nó được cho với biết bao tình. Thiên Chúa không nhìn đến tầm vóc lớn lao của việc ta làm, Ngài nhìn tấm lòng của ta khi làm việc đó.”

Những hình ảnh đẹp như trên giúp cho chúng ta suy tư về ý nghĩa cao quý của tình yêu: đó là tình yêu luôn được diễn tả bằng hành động. Tấm lòng thành của người đàn bà góa làm cho hành động bỏ tiền vào hòm tiền đền thờ của bà trở nên cao đẹp. Vậy,  hành động chỉ đẹp khi nó diễn tả bằng một tâm tình thật của một tình yêu được đón nhận từ chính Thiên Chúa. Nếu không thì những gì thể hiện ra bên ngoài chỉ là sự giả hình và khoe khoang như hình ảnh của các luật sỹ và Pha-ri-sêu trong bài Tin mừng. Họ rất cao sang, vinh dự với áo thụng, chức quyền, được người ta bái chào ngoài đường, được ngồi chỗ nhất. Thế nhưng đó chỉ là cái vỏ, che đậy bên trong là những tâm hồn kiêu căng, tham lam, ức hiếp những kẻ yếu đuối.

Hình ảnh đẹp của người đàn bà góa nghèo là lý do tốt nhất để mỗi người chúng ta học được bài học của tình yêu, của sự cho đi. Thánh Vi-cen-te Phao-lô rất có lý khi nói: Hạnh phúc thay cho những người nghèo vì có những người nghèo biết cho đi.

Yêu là không tính toán. Người đàn bà góa nghèo đã cho đi tất cả mà không hề toan tính là biểu tượng sống động của một Thiên Chúa là Đấng giàu lòng xót thương, Ngài đã cho chúng ta tất cả qua chính người con yêu dấu của Ngài là Đức Giê-su Ki-tô.

“ Cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm”,  xin cho mỗi người chúng ta cảm nghiệm được lời của thánh Augustino để  luôn biết yêu thương tha nhân như Chúa yêu thương chúng ta bằng sự trợ giúp tha nhân cách quảng đại mỗi ngày một hơn. Amen.

Niềm hạnh phúc

Bài giảng trên núi mở ra với các Mối Phúc Thật. Thật là tuyệt vời khi chương trình đời sống này được gửi tới các con cái Nước Trời, không khởi đi từ những đòi buộc như: bạn phải làm điều này, phải làm điều kia…” nhưng là bởi sự lặp đi lặp lại: phúc thay cho bạn”. Chúa Giê-su mở ra một lời mời gọi cho hạnh phúc, cho niềm vui. Ơn gọi của các tín hữu, chính là tìm kiếm hạnh phúc.

Từ  ngữ “ Phúc thay”,  được nói tới 55 lần trong Tân Ước. Đạo của Chúa Giê-su không phải là đạo buồn sầu, hướng về những gì là tiêu cực, nhưng là một con đường giúp cho mọi người được hạnh phúc.

Các mối phúc không phải là một loại thuốc an thần thiêng liêng,  giúp chấp nhận các khó khăn của đời sống để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn. Các mối phúc đây là một lời mời gọi và là một sứ mạng được trao phó cho chúng ta là những người đón nhận Tin mừng.

Ngay sau các mối phúc, Chúa Giê-su giải thích điều mà ta phải làm mỗi ngày để được hạnh phúc: như “ người ta nói với anh: đừng giết người. Còn ta, ta nói với anh là đừng nguyền rủa, cũng đừng làm cho anh chị em mình phiền lòng. Người ta nói với anh là đừng ngoại tình, còn ta, ta nói với anh là hãy giữ đôi mắt và tầm hồn trong sạch. Người ta nói với anh: mắt đền mắt, răng đền răng. Còn ta, ta nói với anh là đừng để mình nuôi lòng hận thù; nhưng hãy là người kiến tạo bình an. Người ta nói với anh: hãy yêu thương người thận cận và ghét kẻ thù. Còn ta, ta nói với anh là hãy yêu thương kẻ thù và làm những điều tốt cho những kẻ ghét anh em. Người ta nói với anh: của lễ dâng trên bàn thờ phải là ưu tiên. Còn ta, ta nói với anh: khi anh dâng của lễ trên bàn thờ mà chợt nhớ có người anh em đang lỗi phạm đến anh, thì hãy để của lễ trước bàn thờ và đi làm hòa với người anh em đó trước đã rồi mới về dâng của lễ”.

Vâng, Chúa Giê-su nói về hạnh phúc khi tình yêu được trao ban cho người khác. Đó chính là điều làm nên các mối phúc cũng như là sự phán xét trong ngày chung thẩm: khi ta đói các người đã cho ta ăn; khi ta khát các người đã cho ta uống, khi ta mình trần các người đã cho mặc và khi ta đâu yếu, các người đã đến viếng thăm ta…

Chúa Giê-su chính là chìa khóa để hiểu các mối phúc. Ngài là Đấng không nỡ bẻ cây lau bị dập, không nỡ dập tắt tim đèn còn khói. Ngài nếu gương cho chúng ta: hãy học cùng ta vì ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.

Tin mừng về các mối phúc thật giới thiệu cho chúng ta về Chúa Giê-su là Đấng đã xoay mình về những người đau ốm, tàn tật, liệt lào, và đau khổ. “ Ngài thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ bơ vơ, vất vưởng, như đàn chiên không người chăn dắt”. Chúa Giê-su tự đồng hóa với những người đau khổ, khi Ngài nói: điều mà anh em làm cho một trong những người bé mọn đây…là làm cho chính Ta vậy”.

Trong bài giảng trên núi, Chúa Giê-su biểu lộ như là một Mai sen mới đến để quy tụ dân Thiên Chúa. Ngài ban bố lề luật Nước trời và mời gọi người nghe thay đổi đời sống, hoán cải, và có cái nhìn mới đối với mọi sự.

Vậy ngay từ lúc này, mỗi chúng ta cần  mang lấy một lối sống mới, và điều đó là nền tảng của niềm vui của các mối phúc thật. Vấn đề là biết chọn lựa những giá trị có thể làm biến đổi chúng ta, và mang đến nhiệt huyết cho mọi người xung quanh. Các mối phúc muốn biến con tim bằng đá của chúng ta thành con tìm bằng thịt.

Trong một xã hội có nhiều biến động, mỗi chúng ta cần thiết trở nên những con người của hòa bình, sẻ chia và tương trợ lẫn nhau. Cần phải thay đổi cái tâm tính ích kỷ của mỗi chúng ta thành một tâm tính huynh đệ, đượm tình hiệp thông.

Xung quanh chúng ta đã có biết bao nhiều vị thánh của hòa bình, như Mẹ thánh Têrêsa thành Calcutta, thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II, hay các con người kiến tạo hòa bình như các bậc vĩ nhân của các thời đại…Nhưng chứng nhân như thế cũng đang tiếp tục xuất hiện trong mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn mà chúng ta đang sống. Họ làm cho chúng ta hiểu rằng một người mà thôi cũng có thể làm nên một sự khác biệt quan trọng trong đời sống của mọi người.

Chuyện kể rằng tại một ngôi làng kia, đang chịu cảnh nghèo đói bởi đất đai thì khô hạn và cằn cỗi, bà con giáo dân đến xưng tội với cha xứ. Để ra việc đền tội, vị linh mục trẻ đã trao cho mỗi người một hạt cây và họ phải trồng nó để được tha thứ. Có thể nói là những tín hữu này đã phạm nhiều tội lắm bởi vì sau ba mươi năm, số cây mà họ trồng đã tăng trưởng và làm cho cả làng trở nên mát mẻ, làm cho cảnh hạn hán không còn và làm cho đời sống của làng này trở nên xanh tươi. Vâng, kính thưa…với sự sáng suốt đó mà vị linh mục trẻ đã thay đổi đời sống của mọi người trong cả làng quê đó.

Quả vậy, Chúa Giê-su hôm nay mời gọi chúng ta hãy thực hiện đồng thời bằng việc hoán cải và thay đổi thế giới: Phúc cho những ai kiến tạo hòa bình, họ sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Amen.

Mến Chúa yêu người

Trong cuốn tự thuật của thánh nữ Têrêsa, thánh nhân ghi lại cảm nhận của mình như sau: Tình Thương Bác Ái là chìa khóa của ơn gọi tôi”. Nhờ đó mà Thánh Têrêsa đã trở nên vị thánh tiến sỹ của Tình yêu.

Vâng, cuộc đời nên thánh của thánh Têrêsa được dệt bằng con đường thơ ấu không có gì khác ngoài việc thực thi điều mà Chúa Giê-su tóm kết trong bài Tin mừng hôm nay khi một người thông luật hỏi: « Thưa thầy,  điều răn nào là điều răn trọng nhất » và ngài đã không ngần ngại trả lời : « Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của người hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình ».

Tại sao nhà thông luật lại hỏi Chúa như thế, Thưa vì trong luật Do thái có tất cả 613 điều luật khác nhau, trong đó có 365 điều luật cấm và 248 luật phải giữ. Trong một rừng luật như thế, đâu là điều cốt yếu phải giữ ?  Chúa Giêsu đã chọn lọc ra hai điều luật quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người và liên kết hai điều đó lại: mến Chúa thì phải yêu người, yêu người thì phải mến Chúa. Cả hai điều ấy có thể tóm lại thành một điều duy nhất là yêu thương. Yêu thương là cốt lõi của tất cả mọi khoản luật khác.

Khi tóm kết mọi khoản luật bằng luật tình yêu, Chúa Giêsu không chỉ giảng dạy mà đã làm chứng điều mình dạy bằng cả cuộc sống và cái chết của mình. Và không chỉ là thánh Têrêsa hay tất cả các vị thánh đã học theo gương Chúa mà sống điều cốt lõi của ơn gọi làm con Chúa là Yêu Thương, mà còn là lời mời gọi cho tất cả những ai tin theo Ngài trong mọi thời đại.

Khi xác tín được điều cốt lõi của ơn gọi làm con Chúa là yêu thương, chúng ta hôm nay phải thực hiện giới luật mến Chúa và yêu người như thế nào ?

Trước hết , nếu yêu mến Chúa hết lòng hết linh hồn hết trí khôn, thì khi tuân giữ mọi giới luật giúp ta bày tỏ tình yêu này với Thiên Chúa.  Quả vậy ta có thể nói ngược lại rằng nếu đã yêu mến Chúa thì đương nhiên phải chu toàn lề luật mà Chúa dạy. Chính Chúa Giêsu đã nói : «  Ai yêu mến Thầy thì hãy tuân giữ lời Thầy ».

Yêu thương là chu toàn lề luật, lề luật của Chúa đòi buộc ta phải yêu thương tha nhân như chính mình. Để có thể yêu tha nhân như chính bản thân mình, ta cần phải yêu mến Chúa hết lòng để có thể yêu tha nhân bằng tình yêu của Thiên Chúa như Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ khi xưa : Anh em hãy yêu thương nhau như thầy yêu thương anh em.

Yêu như Thầy Giê-su yêu được gọi là bác ái Kitô giáo. Tình yêu này vượt trên tình yêu nhân loại như Thánh Phaolô đã viết cho anh chị em ở Corinto: « “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.”

Tất cả những thực hành của Đức Mến này được đặt vào trong những cấp độ của tình yêu : người  ta không chỉ buộc yêu thương mình nhưng còn buộc phải «  thương người như thể thương thân » nữa. Yêu thương tha nhân không chỉ dừng lại ở những người ruột thịt, những người ta quen biết, những người ta mang ơn, những người ta có bổn phận chăm sóc…mà còn yêu thương những người xa lạ và hơn thế nữa tình yêu này còn được mở rộng đến cả những kẻ bất lương và địch thù của mình. Người ta không chỉ buộc không làm cho người khác điều mà mình không muốn người khác làm cho mình, mà còn buộc phải làm cho người khác điều mà mình muốn người khác làm cho mình nữa. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II mà chúng ta vừa kính nhớ tuần qua là một chứng tá hùng hồn cho chúng ta thấy nét đẹp của tình yêu kitô giáo khi ngài đã không nuôi thù hận nhưng quảng đại tha thứ vô điều kiện cho địch thù của mình. Bằng chứng là ngài đã đến nhà tù thăm, chúc lành và tha thứ cho anh Ali Agca, người đã bắn 3 phát đạn để ám sát ngài tại Roma vào năm 1981.

Lời Chúa hôm nay một lần nữa nhắc nhớ mỗi người chúng ta về sứ mạng và ơn gọi của mỗi kitô hữu là Yêu thương. Mến Chúa và yêu người là hai thực hành cốt lõi của Tình yêu kitô giáo này. Yêu Thiên Chúa chắc chắn dẫn đến yêu tha nhân. Tình yêu tha nhân cần đặt nền trên lòng yêu mến Thiên Chúa. Người tín hữu chúng ta tới nhà thờ vì lòng yêu mến Chúa thì sẽ tỏ bày lòng mến này với tha nhân trong cuộc sống ngoài đời. Nếu ngoài cuộc đời, ta gặp Chúa nơi anh chị em, thì trong nhà thờ, ta gặp anh chị em nơi Chúa. Thánh Gioan đã nói: Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy (1Ga 4,20). Do đó, “ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng phải yêu thương anh em mình” (Ga 4,21).

Chính vì lẽ đó, để kết luận bài chia sẻ hôm nay, xin quý ông bà và anh chị em cùng với tôi cất lên tâm tình của thánh Phanxicô At-xi qua lời Kinh Hòa Bình để cùng quyết tâm thực hành giới luật yêu thương mà Thiên Chúa muốn chúng ta trao tặng cho anh chị em xung quanh:  

    Lạy Chúa từ nhân,

    Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.

    Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa

    Ðể con đem yêu thương vào nơi oán thù,

    Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục

    Ðem an hoà vào nơi tranh chấp,

    Ðem chân lý vào chốn lỗi lầm.

    Ðể con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng,

    Ðể con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.Amen.

Scroll to Top