Chinhtoa church

Chạnh lòng thương

“Đức Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt” (Mc 6, 34)

Mục tử và đàn chiên là những hình ảnh ẩn dụ được gợi lên cách đặc biệt trọng Kinh Thánh để nói về sứ vụ truyền giáo.

Mục tử và đàn chiên là hình ảnh đẹp và rất quen thuộc với chúng ta cũng như là đối với Chúa Giê-su và các người thời đó.  Tuy nhiên hình ảnh này luôn mang nhiều ý nghĩa.

Hình ảnh đàn chiên mà không có chủ chiên là hình ảnh của thế giới trong mọi thời đại, đó cũng hình ảnh của thời đại chúng ta. Phải chăng hình ảnh này là để nói tới thế giới hỗn loạn và vô chính phủ?

Rõ ràng là các nguyên thủ quốc gia, các nhà lãnh đạo luôn tồn tại để mưu cầu lãnh đạo dân chúng. Người dân luôn mong muốn tìm kiếm những con người tài năng, nhưng trong thực tế thì không phải là luôn có những người lãnh đạo kiệt xuất. Không ít các nguyên thủ, các nhà lãnh đạo hứa hẹn rất nhiều nhưng lại làm người dân thất vọng vì họ áp dụng chế độ đàn áp và tham nhũng.

Hình ảnh đàn chiên không có chủ chiên cũng là hình ảnh  những con người không có định hướng, không có sự đoàn kết, không có ý tưởng chủ đạo, không có người thầy thực sự. Đó là hình ảnh của một nhân loại mất phương hướng, không biết tìm thấy ở đâu ý nghĩa đích thực cho sự hiện hữu của mình.

Trong Cựu ước, chúng ta thấy trường hợp của ông Maisen. Ông đã tập hợp những người bị phân tán lại với nhau để cùng họ tham gia vào cuộc phưu lưu vĩ đại và khó khăn, đó là cuộc Xuất Hành đưa đến sự tồn tại của dân tộc Do Thái trên một vùng đất mới, chính là Đất Hứa. Nhưng bất hạnh thay, các vị vua Israen được đặt lên sau đó lại là những mục tử xấu, chỉ biết khai thác và bóc lột các thần dân được trao phó cho họ.

Chính vì thế mà ngôn sứ Giêrêmia trong bài đọc thứ nhất đã loan báo rằng Thiên Chúa lo liệu thu thập những con chiên bị bỏ rơi hoặc bị phân tán trên thế giới, bằng cách ban cho chúng một người hướng dẫn, một chủ chăn mới.

Như là một Maisen mới, Chúa Giê-su qua đoạn Tin mừng hôm nay, tự giới thiệu mình là vị chủ chăn mới đến để điều khiển đàn chiên, thu thập đàn chiên tản mác và dẫn đưa họ tới đồng cỏ xanh tươi. Trước một đám đông đang sẵn sàng lắng nghe như Tin mừng thuật lại, Chúa Giê-su ngỏ lời với họ. Chúa đã nói gì với họ?

Thưa, dụ ngôn Chúa Chiên Lành mà thánh Gioan thuật lại trong Tin mừng của Ngài đã cho thấy những gì mà Chúa ngỏ lời với dân chúng: Ngài mời gọi nhưng ai đến với Ngài hãy lắng nghe Lời Ngài để nhận biết Ngài. Ngài hứa ban cho họ một sự sống mới, một sự sống dồi dào…

Một sự sống dồi dào, đó là một sự sống giải thoát mọi người khỏi sự ích kỷ, giải thoát khỏi sự xấu xa, thù hận, và được biến đổi bởi tình yêu thương quảng đại.

Nhưng để đạt được sự sống ấy, cẩn phải chấp nhận cho đi sự sống đó, như vị mục tử dám hiến mình vì đoàn chiên. Như Chúa Giê-su đã nói: Tôi hiến mình vì đàn chiên” và Ngài còn nói thêm rằng: “ Tôi không đến để được phục vụ nhưng là để phục vụ và trao ban chính mạng sống”.

“ Cho đi sự sống”, chúng ta nghĩ ngay rằng đó là hiến thân mình cho đến chết, nhưng trước hết đó là cho đi sự sống mỗi ngày trong sự phục vụ, trong sự chia sẻ và tượng trợ lẫn nhau.

Chúa Giê-su cũng đã tuyên bố rằng: không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người dám chết cho người mình yêu”. Điều này có nghĩa là người mục tử thật sự, là người yêu thương chiên, biết chiên và gọi tên từng con chiên; người mục tử đích thật cũng sẵn sàng chết vì chiên, để kéo họ khỏi nanh vuốt của những kẻ tìm cách làm hại và đẩy họ vào trong cảnh bất hạnh.

Các tông đồ dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần đã trở nên những chứng tá đích thật của Chúa Giê-su. Các Ngài đã hiến thân mình trong việc loan báo không ngơi nghỉ Tin mừng, cho đến nỗi hy sinh mạng sống mình để làm chứng tá cho Thiên Chúa.

Kinh nghiệm của các Tông đồ cũng luôn luôn hiện thực nơi cộng đoàn Giáo Hội. Hàng năm Tòa Thánh vẫn công bố danh sách các linh mục, nam nữ tu sỹ và các tĩn hữu bị giết hại khắp nơi trên thế giới vì họ đã can trường làm chứng cho Đức Tin. Họ đã trao ban mạng sống của mình để tình yêu và bình an hiển thắng.

Một câu hỏi được đặt ra cho mỗi chúng ta hôm nay là chúng ta hôm nay có thể đối đầu với sự bách hại hay không?  Thưa, không nên lo âu về điều đó bởi vì thánh Phaolô bảo đảm với chúng ta rằng Thiên Chúa không thử thách ai vượt quá sức mình. Và Chúa Thánh Thần luôn hoạt động trong lòng chúng ta không phải là để an ủi chúng ta trong sự an toàn giả tạo nhưng để dẫn chúng ta đạt tới sự thiện mỗi ngày, trong khiêm nhường, kiên trì và nhẫn nại. Amen.

Lịch phụng vụ trong tuần từ 18 đến 25 tháng 7 năm 2021

LỊCH PHỤNG VỤ TRONG TUẦN

Từ 18 đến 25 tháng 7 năm 2021

18  09  X  CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN.

Chúa Nhật III trong tháng. Ngày truyền giáo của giáo phận. 

Xứ Đại Phú, họ Hoà Mục và họ Khánh Thôn chầu Mình Thánh.

19  10  X  Thứ Hai Tuần XVI Thường Niên. 

20  11  X  Thứ Ba Tuần XVI Thường Niên.

21  12  X  Thứ Tư Tuần XVI Thường Niên.

22  13  Tr  Thứ Năm Tuần XVI Thường Niên.

THÁNH MA-RI-A MA-ĐA-LÊ-NA, lễ kính.

23  14  X  Thứ Sáu Tuần XVI Thường Niên. 

24  15  X  Thứ Bảy Tuần XVI Thường Niên.

25  16  X  CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN.

Xứ Đồng Trì, Lỗ Xá, họ Quan Nha và họ Phú Lão chầu Mình Thánh.

THÔNG BÁO

Vì dịch bệnh Covid 19 đang gia tăng, nên tại Nhà thờ Chính Tòa Hà Nội chỉ có các Thánh lễ chúa nhật được phát trực tuyến vào các giờ sau: 18h00 thứ Bẩy; 7h00, 18h00 và 20h00 chúa nhật. Xin cám ơn quý ông bà và anh chị em.

Lệnh truyền giáo

Khi bắt đầu rao giảng Tin mừng công khai, Chúa Giê-su đã chọn những người cộng tác với Chúa vì Chúa tin tưởng  và mời gọi mọi người làm việc với Chúa. Trong Cựu ước cũng như Tân ước, các người được Chúa kêu gọi đều là những con người bình dân: Ngôn sứ Amos là một nông dân, ông Phêrô làm nghề đánh cá, ông Mát-thêu là người thu thuế và ông Phaolô làm nghề dệt vải.

Trước hết Chúa Giê-su kêu gọi họ ở lại với Chúa trong một thời gian để lãnh hội việc đào tạo nền tảng. Ngay ở đầu các sách Tin mừng, chúng ta thấy các tông đồ đã đồng hành với Chúa Giê-su trong các hành trình rao giảng. Họ xem Chúa hành động và nhận nơi Chúa một sự dạy dỗ quan trọng, một cách sống mới để chuẩn bị cho sứ vụ mà Chúa sẽ trao phó cho họ.

Đây chính là phương pháp sư phạm mà các tín hữu đã nhận được qua các giai đoạn lịch sử. Vào ngày chúa nhật, các tín hữu tụ họp nhau xung quanh bàn tiệc Thánh thể để lắng nghe Lời Chúa, để chia sẻ sự sống của Chúa. Sau đó họ được sai đi vào trong các môi trường sống, trong gia đình, nơi làm việc với lệnh truyền: Anh chị em ra đi để đem bình an của Chúa Giê-su đến với mọi người cách vô vị lợi.

Khi đọc Tin mừng, chúng ta nhận thấy Chúa Giê-su không ban những huấn thị lý thuyết về sứ vụ truyền giáo. Ngài không nói với các tông đồ “cái mà họ phải rao giảng”. Nhưng Ngài đi vào chi tiết để nói với họ “cái mà họ phải là”: như những người bộ hành với ít trang bị, đón nhận lòng quảng đại của mọi người; họ là những người kiến tạo bình an và hòa giải; họ đồng hành với những người đau yếu và bệnh tật…Đối với Chúa Giê-su, chứng tá đời sống thì quan trọng hơn là lời nói. Chúa tin vào các môn đệ, tin vào con người, tin vào chúng ta, dù chúng ta có nghi ngờ Ngài. Ngài tin chúng ta đến nỗi mà Ngài để cho chúng ta tự do hành động khi chúng ta thấy phù hợp với việc rao giảng Tin mừng.

Chúa Giê-su nói với các Tông đồ khi xưa cũng là nói với chúng ta hôm nay rằng, nhờ vào mỗi người chúng ta mà thế giới này có thể trở nên tốt đẹp hơn, chính Chúa khẳng định: “ các tông đồ sẽ trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh”. Vậy ma quỷ trong thời đại chúng ta là thế nào? Làm thế nào mà chúng ta cải tạo thế giới này?

Các từ ngữ mà Chúa Giê-su dùng trong Tin mừng là từ ngữ của thời đại cách đây hơn 2000 năm. Nhưng chúng ta dễ dàng hiểu được rằng các môn đệ được sai đi để thực thi điều mà chính Chúa Giê-su đã làm. Nội dung sứ vụ của các ông được tóm lại trong ba câu sau:

  1. Loan báo Nước trời, điều này yêu cầu một sự hoán cải, một sự thay đổi lối sống
  2. Chiến đấu chống lại sự dữ và xua trừ ma quỷ là những thế lực ngăn cản chúng ta sống tự do.
  3. Hành động vì lợi ích cho những người đau khổ và bị bỏ rơi, để cải thiện chất lượng sống của họ.

Trước hết, việc hoán cải là việc cần thiết để chúng ta thay đổi lối sống đôi khi quá ích kỷ. Điều này cần phải biết lãnh nhận trách nhiệm và cố gắng cải thiện môi trường sống bằng cách tránh gieo rắc thêm những điều xấu và giúp đỡ những ai đang cần đến sự trợ giúp.

Tiếp đến việc xua trừ ma quỷ hôm nay có nghĩa là giúp đỡ những người cô đơn, không tự bảo vệ mình, để họ thoát ra khỏi sự cô độc, sợ hãi, bất công, và bệnh tật…Xua trừ ma quỷ cũng có nghĩa là giải thoát mọi người khỏi các tệ nạn như nghiện rượu, nghiện ma túy, cờ bạc, và mọi thứ vật chất đang giết chết đời sống các gia đình…Xua trừ ma quỷ cũng có nghĩa là chống lại tất cả những gì làm cho chúng ta bị nô lệ vào chúng.

Cuối cùng là chữa lành các tật bệnh. Có nhiều phương thế để thực hiện việc này: như hãy biết yêu thương, đồng hành, khuyến khích, giúp đỡ và tha thứ cho người khác. Chúng ta có thể kể đến các tình nguyện viên trong các bệnh viện, các người hằng ngày đi thăm viếng các bệnh nhân, mang Mình Thánh Chúa đến cho người bệnh và phân phát đồ ăn thức uống cho những người nghèo khó…

Chúa Giê-su sai các môn đệ từng hai người một bởi vì sứ vụ truyền giáo là một hành trình có tính cộng đoàn. Đức tin của chúng ta được phong phú nhờ vào đức tin của những người khác, đó là đức tin của cha mẹ, của ông bà, của các người bạn, và đức tin của tôi hay của anh chị em cũng góp phần gia tăng đức tin cho những người khác. Quy tắc đầu tiên của sứ vụ tông đồ, đó là “ làm việc có tính tập thể”: đời sống huynh đệ là biểu tượng của tình yêu như trong sách Tông đồ công vụ thuật lại, các lương dân đã phải thốt lên: “ kìa xem họ thương yêu nhau biết dường nào” khi thấy các tín hữu sống tình huynh đệ yêu thương nhau.

Hôm nay Chúa Giê-su kêu gọi chúng ta như các tông đồ khi xưa. Ngài mời chúng ta đi rao giảng Tin mừng, loan báo hồng ân cứu độ, chống lại sự sữ và đi giúp đỡ những người đau khổ. Phúc âm hóa tức là chiến thắng bạo lực, bất công, là chiến thắng sự cô độc và nản chí. Chúa Giê-su cần đến chúng ta để sai chúng ta đi. Ngài tin tưởng mỗi người chúng ta. Vậy chúng ta hãy trở nên cánh tay và con tim của Chúa trong thế giới hôm nay, đang cần đến tình yêu và lòng thương xót cúa Chúa. Amen.

Lịch phụng vụ trong tuần từ 11 đến 18 tháng 7 năm 2021

LỊCH PHỤNG VỤ TRONG TUẦN

Từ 11 đến 18 tháng 7 năm 2021

11  02  X  CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN.

Xứ An Lộc, Đàn Giản và họ Hạ Đoạn chầu Mình Thánh.

12  03  X  Thứ Hai Tuần XV Thường Niên.

Thánh Anê Lê Thị Thành (Bà Đê), giáo dân, Tử đạo

  • 18h30: Thánh lễ cầu cho Hội Bà Thánh Đê trong Giáo xứ.

13  04  X  Thứ Ba Tuần XV Thường Niên.

14  05  X  Thứ Tư Tuần XV Thường Niên.

15  06  Tr  Thứ Năm Tuần XV Thường Niên.

Thánh Bô-na-ven-tu-ra, Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh, lễ nhớ.

16  07  X  Thứ Sáu Tuần XV Thường Niên.

17  08  X  Thứ Bảy Tuần XV Thường Niên.

18  09  X  CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN.

Chúa Nhật III trong tháng. Ngày truyền giáo của giáo phận. 

Xứ Đại Phú, họ Hoà Mục và họ Khánh Thôn chầu Mình Thánh.

THÔNG BÁO

Vì dịch bệnh Covid 19 đang gia tăng, nên tại Nhà thờ Chính Tòa Hà Nội chỉ có các Thánh lễ chúa nhật được phát trực tuyến vào các giờ sau: 18h00 thứ Bẩy; 7h00, 18h00 và 20h00 chúa nhật. Xin cám ơn quý ông bà và anh chị em.

Ơn ta đủ cho con

Ludwig van Beethoven, một nhà soạn nhạc cổ điển người Đức, được nhiều người coi là một trong những nhà soạn nhạc xuất sắc nhất trong lịch sử âm nhạc. Trước khi bắt đầu sự nghiệp của mình, ông đã trải qua những thử thách, có thể nói là thất bại. Giáo viên âm nhạc của Beethoven từng nói về ông “nếu ông theo nghề soạn nhạc, thì ông ta chẳng mang lại hi vọng gì”. Và trong suốt sự nghiệp của mình, ông bị mất thính giác và với thể chất ốm yếu, nhưng ông đã sáng tạo ra được âm nhạc tuyệt vời – một người khiếm thính lại sáng tác nhạc! Thật là kỳ diệu!

Ba bài đọc chúa nhật hôm nay nói về chiều kích thiêng liêng của sự thất bại: ngôn sứ Ezekiel đón nhận lệnh truyền của Thiên Chúa để đến với một dân dám chống lại sứ điệp của Chúa. Còn thánh Phaolô trong bài đọc II lại tâm sự về “một cái dằm trong thân xác”, là một thất bại vì biết bao khó khăn thử thách. Và chính Chúa Giê-su trong bài Tin mừng vừa thuật lại đã trải qua một thất bại tại chính quê hương mình, khi bà con đồng hương chối từ ngài. Quả vậy thất bại luôn thuộc về đời sống của chúng ta, tuy nhiên Thiên Chúa vẫn yêu thương chúng ta mặc dù chúng ta có những thất bại.

“Cái dằm”  mà thánh Phaolô nói tới là một ví dụ điển hình về tất cả những gì mà chúng ta không thành công trong đời sống và cũng là sự yếu đuối của phận người. Tuy vậy Chúa vẫn nói với Phaolô: “ ơn ta đủ cho con, vì sức mạnh của ta tỏ bày trong sự yếu đuối”. Thánh Phaolô đã được kêu gọi chấp nhận trong thân phận con người, để hoàn thành hình ảnh của Chúa nơi chính mình.  Thiên Chúa không cần những khả năng suất sắc của chúng ta nhưng Ngài yêu thương chúng ta như những gì chúng ta là.

Thiên Chúa thực hiện chương trình của Ngài bằng những bất toàn của con người, cho dù đối với lý lẽ con người thì lại trái ngược. Trong thế giới hôm nay, người ta lại chỉ ca ngợi những gì là tuyệt hảo, số một…trong mọi lãnh vực chính trị, kinh tế, giải trí và thể thao. Ta gọi là luật của sức mạnh. Tin mừng của Chúa thì ngược lại, đó là tin mừng cho mọi người, và đặc biệt là cho những người không phải là tuyệt vời nhất, họ là đại diện cho những hạng người với đủ khó khăn: như  bệnh tật, đau yếu, bị bỏ rơi, bị loại trừ.

Trong đời sống của chúng ta, có biết bao nhiêu là những thất bại trong nghề nghiệp, học tập, trong hôn nhân gia đình, trong việc giáo dục con cái. Sức khỏe chúng ta cũng rất mong manh; có những hạn chế và yếu đuối.

Thất bại đến từ nhiều hướng khác nhau. Trong bài Tin mừng hôm nay, thất bại của Chúa Giê-su đến từ việc rao giảng những giá trị đích thực của Nước trời. Một sứ điệp của chân lý, tình yêu, công lý và bình an lại thường khơi lên sự chống đối, hận thù và bạo lực. Trong giáo hội chúng ta có thể thấy biết bao nhiêu nhân chứng. Cụ thể như Đức TGM Romeo, tại đất nước Elsanvador vào thập niên 80 của thế kỷ trước, vì đấu tranh tố cáo sự bóc lột những người nghèo mà đã bị ám sát khi đang dâng thánh lễ. Mẹ Têrêsa thánh Calcutta cũng thế, mẹ  đã quảng đại chăm sóc nhưng người cùng khổ trong xã hội và cũng bị không ít những lời thắc mắc và ganh tỵ của nhiều người không có lòng ngay.

Có biết bao nhiêu nhân chứng tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy lòng quảng đại của con người trong mọi lãnh vực cho dù có bị chống đối hay thất bại. Các chứng nhân đó không chỉ là để chúng ta chiêm ngưỡng mà thôi nhưng còn thúc đẩy mỗi chúng ta cố gắng bắt chước.

Đôi khi chúng ta thấy có nhiều lý do để từ chối giúp đỡ tha nhân, như không có ơn sủng đặc biệt, không thuộc về hội đoàn này hội đoàn kia, hoặc là quá bận rộn với công việc và gia đình…Phục vụ không dành cho các tu sỹ hay linh mục, hoặc các tổ chức trong giáo hội và xã hội. Có biết bao tấm gương cho thấy họ đều là các tín hữu, nhưng đã có can đảm để dấn thân và giúp đỡ mọi người dù có những bất toàn. Để phục vụ tha nhân, chúng ta không cần phải trở nên những con người có khả năng đặc biệt.

Tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta suy tư về những thất bại của chúng ta, điều có thể cho chúng ta cơ hội chấp nhận chính bản thân mình, để gia tăng giá trị bản thân và tăng trưởng đức tin của chúng ta. Vậy chúng ta hãy hành động để phục vụ những ai đang cần đến sự trợ giúp của chúng ta. Amen.

Lịch phụng vụ trong tuần từ 4 đến 11 tháng 7 năm 2021

04  25   X  CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN.

Xứ Xuy Xá và Bến Cuối (Đồng Vàng) chầu Mình Thánh.

05  26  X    Thứ Hai Tuần XIV Thường Niên.

06  27  X  Thứ Ba Tuần XIV Thường Niên.

07  28  X    Thứ Tư Tuần XIV Thường Niên.

Thứ Tư đầu tháng. Kính Thánh Cả Giuse.

08  29  X  Thứ Năm Tuần XIV Thường Niên.

09  30  X  Thứ Sáu Tuần XIV Thường Niên.

10  01/6  X  Thứ Bảy Tuần XIV Thường Niên.

11  02  X  CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN.

Xứ An Lộc, Đàn Giản và họ Hạ Đoạn chầu Mình Thánh.

Ơn gọi làm ngôn sứ

Các bài đọc Kinh Thánh chúa nhật hôm nay nói về những ai được Thiên Chúa kêu gọi. Trước hết là chứng tá của ngôn sứ Ézékiel; ngài được sai đến với một dân đang nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Ngài biết dân này sẽ không lắng nghe sứ điệp của của Thiên Chúa vì sự cứng lòng của họ. Nhưng không có gì ngăn cản được sứ điệp của Chúa dù họ có nghe hay không, thì Lời Chúa vẫn được loan báo. Chị Bernadette được Đức Mẹ hiện ra tại Lỗ Đức đã nói: tôi không có bổn phận làm cho mọi người tin nhưng có bổn phận nói cho mọi người biết”. Điều đó cho thấy Thiên Chúa kêu gọi nhưng người bé mọn để mang đến cho chúng ta những sứ điệp quan trọng nhất. Ngài ban ơn để chúng ta hoán cải và tìm lại tình bằng hữu với Chúa.

Trong thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô cho thấy chứng tá của thánh Phaolô. Ngài cho thấy ơn gọi tông đồ của Ngài: ngài đã nhận được những mạc khải đặc biệt, nhưng cũng đã phải chịu những thử thách và sỉ nhục. Ngài cũng phải đón nhận những vấn đề về sức khỏe và đã nài xin Chúa giải thoát cho Ngài. Nhưng Thiên Chúa đã trả lời Ngài: “ Ơn ta đủ cho con”. Thánh Phaolô khám phá được rằng Thiên Chúa hành động trong sự yếu đuối của Ngài. Vị tông đồ đã không cô đơn trọng sứ vụ. Chính Thiên Chúa làm công việc đó trong tâm hồn những người mà Ngài trao phó cho vị tông đồ.

Trong bài Tin mừng, chúng ta gặp Chúa Giê-su về thăm quê hương Nagiarét. Việc rao giảng của Chúa đã gặt hái được những thành công. Khắp nơi trong miền Galilêa, mọi người đều vui mừng về những lời rao giảng và các phép lạ Chúa làm. Nhưng những người Nagiarét lại chỉ thấy nơi Chúa hình ảnh của bác thợ mộc năm xưa. Họ coi thường Chúa vì nguồn gốc tầm thường của Chúa, xuất thân chỉ là một bác thợ mộc, bà con với những người dân làng bình thường. Và họ không tin Ngài.

Vậy là Chúa Giê-su không được đón nhận như là một Đấng Messia: “ Ngài đã đến nhà mình nhưng những người nhà lại không đón tiếp…”. Chúng ta cũng không có quyền xét đoán những người bà con quê hương Chúa vì chính chúng ta cũng thường nổi điên lên khi ai đó đến nói với chúng ta những gì thuộc về Thiên Chúa. Nhưng không có ai có thể ngăn cản việc loan báo Tin mừng. Trước sự từ chối này, Chúa Giê-su đã đến với các làng mạc xung quanh. Các thừa sai truyền giảng Tin mừng không nàn lòng dù người ta có từ chối đón tiếp họ; như Chúa Giê-su, họ phải ra đi loan báo Tin mừng bởi vì tất cả mọi người đều phải lắng nghe Chúa.

Vấn đề đối với những người nghe Chúa Giê-su, đó là họ đã bị đóng khung trong các định kiến và truyền thống. Thực sự là như thế đối với mỗi chúng ta; chúng ta thường cho là biết nhiều điều về Chúa. Nhưng điều mà chúng ta có thể nói về Chúa lại luôn luôn vô nghĩa so với những gì là hiện thực. Chúng ta chưa bao giờ ngừng khi đặt ra cho mình câu hỏi: đối với tôi Chúa Giê-su là ai? Câu hỏi này chúng ta chỉ tìm thấy trong trọn vẹn cuốn Tin mừng của thánh Mác-cô. Và câu trả lời đối với chúng ta sẽ là câu nói của viên bách quan dưới chân cây thập giá: “ Người này chính là Con Thiên Chúa”.

Như ngôn sứ Ezekiel và như thánh Phaolô, chúng ta ý thức  về sự mỏng dòn và yếu đuối của mình. Nhưng Thiên Chúa tin tưởng nơi chúng ta để trở thành những thừa tác viên của Ngài. Bí tích rửa tội làm cho chúng ta trở thành một dân ngôn sứ, đóng ấn bởi Chúa Thánh Thần, được kêu gọi và sai đi. Thiên Chúa biết rõ những hoàn cảnh của sứ mạng. Ngài biết rõ hơn chúng ta về những gánh nặng làm chúng ta nản chí. Đối với những người được kêu gọi, Ngài đã hứa ở với họ và nâng đỡ họ.

Chắc chắn như tất cả các ngôn sứ khi xưa, chúng ta có thể thấy những khó khăn. Chúng ta sẽ bị chống đối bởi những người vô tín, kém tin và dửng dưng. Trong thế giới hôm nay, có rất đông tín hữu đã bị bách hại và bị kết án tử. Và ở trong lòng Giáo hội, có nhiều gương xấu làm chúng ta đau lòng. Giáo Hội của Đức Giê-su vẫn còn là một đoàn dân của những tội nhân. Và sẽ là cơ hội cho chính chúng ta có những lời chỉ trích và phê phán. Nhưng một đứa trẻ không thể cắt đứt mối dây sống động mà mẹ nó đang liên kết với nó.

Vậy việc gắn bó với Chúa Giê-su phải mạnh mẽ hơn sự cám dỗ xa lìa Chúa. Thiên Chúa không chọn những người tuyệt vời để sai đi nhưng thường là những con người hèn yếu và tội lỗi. Chúng ta đừng quên các chứng nhân vĩ đại của đức tin, họ là những tội nhân được tha thứ. Như tông đồ Phêrô đã chối Chúa vì sợ hãi. Nhưng khi đón nhận sự tha thứ của Chúa Giê-su, Ngài đã nhận được từ nơi Ngài sứ vụ của người chủ chăn đoàn dân Chúa.

Cử hành thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì Ngài luôn tin yêu mỗi chúng ta và nối kết chúng ta với sứ mạng của Chúa. Là các môn đệ mang sứ mạng truyền giáo, chúng ta hãy tín thác nới Chúa và trao phó cho Ngài những bất toàn mòn dòn của mỗi chúng ta. Ước gì lời Chúa: “ơn ta đủ cho con” được thành toàn nơi mỗi chúng ta hôm nay. Amen.

Không ngừng biểu lộ sự hiện diện của Đấng Phục Sinh

Có nhiều bức tượng và tranh vẽ về hai thánh tông đồ cả của Giáo Hội, tuy nhiên có một bức icone rất độc đáo mô tả hai thánh Phê rô và Phao lô áp má vào nhau với ý nghĩa diễn tả hai vị tuy khác biệt về nhiều mặt nhưng lại gặp nhau ở một điểm chung là tình yêu mà ngài dành cho Đức Ki-tô. Tuy nhiên nếu chúng ta nhìn kỹ bức họa thì sẽ thấy khuôn mặt của hai ngài được họa sỹ vẽ những nếp nhăn để diễn tả  sự khác biệt và thẳng thắn trong sứ mạng rao giảng Tin mừng (Gal 2,11).

Điểm thứ nhất giúp chúng ta  nhìn vào đời sống của hai vị thánh,  để thấy được những khác biệt về thân phận của hai ngài. Thánh Phêrô xuất thân chỉ là một ngư phủ, không được học hành tới nơi tới chốn, một con người cởi mở, đơn sơ và chất phác của một người sống ở miền quê. Trong khi đó thánh Phao-lô lại là một nhà trí thức, năng động và uyên bác với kiến thức văn chương và kinh thánh vì ngài là học trò của vị thầy trứ danh Gamariel thời đó. Một người xuất thân từ nông thôn, còn một người sinh ra và lớn lên ỏ thành thị và là công dân Roma thế giá, một người nhút nhát,  còn một người kiêu hãnh nên trong sứ vụ, hai vị vẫn có nơi mình những tính cách cho thấy các ngài cần phải vượt qua: ví dụ thánh Phêrô khi đến thăm giáo đoàn ở An-ti-o-ki-a vì tính nhút nhát vốn có đã sợ những người ki-tô hữu cắt bì gốc Do thái mà tách ra không dám ngồi ăn chung với những anh chị em gốc dân ngoại không cắt bì nên thánh Phao lô, một người thẳng thắn đã mạnh dạn phê bình Phê rô về thái độ phân biệt đối xử này. Sự khác biệt còn ở hoàn cảnh sống khi Phêrô là người đã có gia đình, còn Phao-lô là người độc thân. Ngoài sự khác biệt về thân thế,  ta còn thấy sự khác biệt về sứ mạng rao giảng giữa hai vị thánh: Thánh Phêrô truyền giáo cho các cộng đoàn do thái tại Giê-ru-sa-lem và Roma còn thánh Phao lô lại đi truyền giáo cho các cộng đoàn dân ngoại.

Từ những khác biệt về thân thế sự nghiệp cũng như là sứ mạng của hai vị tông đồ cả, điểm thứ hai cho chúng ta thấy, nơi hai vị thánh cột trụ của Giáo Hội những điểm chung, mà ở đây điểm chung quan trọng nhất đó là một tình yêu lớn lao mà hai vị dành cho Đức Giê-su Ki-tô. Quả vậy, nếu hiểu theo câu nói “ ân sủng không phá hủy tự nhiên” thì tình khí của hai vị sẽ làm cho Đức Giê-su nhiều phen phải phiền lòng. Cụ thể đối với Phêrô, trong thời gian theo Chúa, đã không ít lần ngài đã bị Chúa khiển trách và cao điểm là đã chối Chúa ba lần vì tình nông nổi và nhút nhát của ngài; và điểm chín muồi của tình yêu chỉ đạt được lúc ngài thân thưa với Chúa bên bờ biển hồ Ti-bê-ri-a sau khi Chúa Phục Sinh rằng: Lạy thầy, thầy biết tất cả, thầy biết con yêu mến thầy”. Còn đối với Phao-lô, với tính kiêu ngạo của một người thông luật đã hăng hái nhận lệnh lên đường đi thành Đa-mát để bắt các ki-tô hữu và ngài chỉ nhận ra Đức Ki-tô sau biến cố ngã ngựa để dành trọn tình yêu cho Đức Ki-tô khi xác tín trong thư gửi tín hữu Ga-lát: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi”. Như vậy, chúng ta thấy chính tình yêu của Đức Ki-tô đã dẫn đưa hai ông một cách cụ thể trong đời sống để bước theo người Thầy Chí Thánh của họ trên đường thương khó và trong chính cái chết.

Điểm thứ ba mà chúng ta chia sẻ cùng nhau đó là dù hai vị có khác biệt về tính cách bên ngoài thì cuộc sống của hai vị lại không ngừng biểu lộ sự hiện diện của Đấng Phục Sinh. Đọc sách tông đồ công vụ, chúng ta thấy rõ chính Đức Ki-tô, đấng đã hành động để thánh Phêrô được giải thoát khỏi ngục tù, hay chính Đức Ki-tô đã hành động lúc mà Phêrô nhân danh Ngài chữa lãnh người bị bại liệt ở cửa đền thờ Giê-ru-sa-lem. Cũng thế, chính Đức Ki-tô đã hoạt động trong hành trình truyền giáo tại vùng Tiểu Á và Hy Lạp mà thánh Phao-lô thực hiện, để rồi từ đó nảy sinh ra các cộng đoàn tín hữu dân ngoại.

Thánh Phêrô với nguồn gốc và văn hóa của mình đã mang đến cho anh chị em gốc Do thái niềm tin ki-tô giáo và đã gắn bó đời mình trong việc tổ chức và liên kết những cộng đoàn này. Ngài chính là đá tảng để Giáo Hội được dựng lên. Còn thánh Phao-lô thì ngược lại, ngài đã trở nên nhà truyền giáo quả cảm cho dân ngoại nhờ vào sự quan phòng của Thiên Chúa, giúp cho Giáo Hội đến với muôn dân trên toàn thế giới. Cả hai vị trong sứ mạng của mình có những đặc thù riêng nhưng lại hoàn toàn bổ túc cho nhau, điều này cho thấy việc tổ chức các cộng đoàn và đặc sủng truyền giáo là hai yếu tố thật cần thiết cho việc xây dựng Giáo Hội của Đức Ki-tô.

Qua suy niệm về hai thánh Tông đồ Phêrô và Phao lô nhân ngày lễ hôm nay, chúng ta rút ra được bài học gì cho đời sống đức tin hôm nay? Bài học cho chúng ta thật phong phú vì mẫu gương của hai vị thánh cho thấy trong đời sống giáo xứ, trong các hội đoàn, các gia đình,  sự đối lập có thể được giải quyết trong sự hiệp thông huynh đệ. Mặc dù trong cộng đoàn giáo xứ, có nhiều anh chị em đến từ các giáo phận, giáo xứ khác nhau, với đời sống và nền văn hóa khác nhau, với tình cách khác nhau, quan điểm khác nhau, nhưng những khác biệt này thay vì gây ảnh hưởng tiêu cực lại hun đúc sự hiệp nhất thực sự, tạo nên bức tranh sinh động của Giáo Hội của Chúa: điều quan trọng là sự hiệp nhất này chỉ có được khi chúng ta biết đón nhận nhau trong tình yêu của Đức Ki-tô. Chính từ sự đa dạng và ngay cả từ sự mỏng dòn của thân phận con người nhưng trong sự khiêm tốn và tin tưởng của chúng ta, mà Thiên Chúa tạo nên những vị thánh nam và nữ theo như ý Ngài muốn.

Vậy cuối cùng trong niềm tin tưởng và cậy trông, chúng ta hãy đón nhận không ngừng sức mạnh làm cho chúng ta yêu mến Đức Giê-su Ki-tô cho đến cùng nhờ vào sự kiên trì cầu nguyện và việc lãnh nhận bí tích Thánh Thể mỗi ngày của mỗi chúng ta. Amen.

Niềm tin của con đã cứu chữa con

Các loại bệnh mãn tính, các loại bệnh ung thư, hay là việc chết sớm luôn là nỗi ám ảnh và ngăn cản chúng ta kiểm soát đời sống. Càng về già, chúng ta càng nhận ra là mình khó mà làm chủ được sức khỏe thể lý cũng như tinh thần. Dù có cố gắng đến mấy thì tuổi già, bệnh tật và cái chết cũng sẽ đến với bất cứ ai.

Có thể nói bệnh tật và sự chết sẽ đánh thức mỗi chúng ta là đừng có mà gắn bó với của cải vật chất đời này, cũng như mời gọi chúng ta chuẩn bị đối mặt với thực tế của chặng đường cuối cùng mà chúng ta cố quên nó đi. Ai cũng cố gắng không nghĩ tới nó, và cho rằng nó chỉ xẩy ra với những người khác. Tuy nhiên bệnh tật và sự chết thực sự là những điều quan trọng liên quan cách cụ thể tới đời sống mỗi chúng ta.

Hôm nay, Tin mừng kể về người phụ nữ đã chịu một căn bệnh đặc biệt làm cho bà rất khổ sở. Đối với bà không chỉ là một sự đau đớn thể xác nhưng sẽ còn gây ra cho bà sự ghẻ lạnh vì khi mặc bệnh loạn huyết, theo luật do thái thì bị coi là ô uế, không được đụng đến ai và không ai được đụng đến người bệnh. Bà sẽ phải bị cách ly, bị mọi người xa lánh nếu mọi người biết bà mang bệnh. Những điều cấm kỵ như thế, là là do y khoa thời đó chưa phát triển. Cũng như đối với con gái ông Giairô đã chết. Chúa Giê-su biết rõ theo luật do thái thời đó thì việc đụng đến một xác chết là sẽ bị mặc nhơ. Nhưng Ngài không sợ chống lại nhưng điều cấm kỵ, khi Ngài ăn uống với những người cùi hủi và tội lỗi, cũng như không sợ tiếp xúc với họ.

Bài Tin mừng hôm nay nhấn mạnh cách đặc biết tới các động từ “sờ vào” hay “cầm lấy”: người phụ nữ trong câu chuyện sờ vào áo Chúa Giê-su và được khỏi bệnh, hay Chúa Giê-su cầm lấy tay cô bé đã chết để làm cho cô sống lại. Ở đây thánh Mác-cô nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc tiếp xúc với Thiên Chúa. Trong các chương của Tin mừng, thánh sử đã viết rằng tất cả những bệnh nhân đều tuốn  đến với Chúa Giê-su để được Ngài đặt tay. Có chỗ thánh sử còn viết: “ Người đi tới đâu, vào làng mạc, thành thị hay thôn xóm nào, người ta cũng đặt kẻ ốm đau ở ngoài đường ngoài chợ, và xin Người cho họ ít là được chạm đến tua áo choàng của Người; và bất cứ ai chạm đến, thì đều được khỏi”.(Mc 6, 56), hay trong Tin mừng Luca, có viết “ Tất cả đám đông tìm cách sờ vào Người, vì có một năng lực tự nơi Người phát ra, chữa lành hết mọi người” (Lc 6, 19). Đối với các thánh sử, năng lực này không có ma thuật gì. Đó chính là quyền năng của Thiên Chúa hoạt động qua Chúa Giê-su và nếu xảy ra phép lạ là do một sự đáp trả của niềm tin.

Ai trong chúng ta cũng đều mang lấy những đau đớn về thể xác và tinh thần. Đời sống chúng ta thật là mong manh. Nhưng những thiếu thốn, mong manh và yếu đuối của chúng ta lại là những lý do để chúng ta có ước muốn đụng chạm tới Chúa Giê-su, tiếp xúc với Ngài. Đến với Chúa, đụng chạm tới Chúa không cần thiết là để các bệnh tật biến mất khỏi chúng ta nhưng quan trọng là Thiên Chúa có quyền năng làm dịu đi những nỗi sợ hãi và hâm nóng niềm hy vọng cho chúng ta.

Tin mừng hôm nay nhấn mạnh hai điều quan trọng:

  • Trước hết đó là cần phải xem lại những điều kiêng kỵ và định kiến. Ai trong chúng ta cũng có những kiêng kỵ và những định kiến với người khác. Vậy mỗi người được mời gọi noi gương Chúa Giê-su đừng ngại đến gần những anh chị em đang chịu đau khổ vì bệnh tật hay vì một lý do nào đó mà bị xa lánh.
  • Thứ hai là tầm quan trọng của đức tin. Đối với người đàn bà mắc bệnh băng huyết, Chúa Giê-su đã nói với bà: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh”. Còn đối với ông trưởng hội đường thì Ngài nói: “ Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi”.

Mỗi chúng ta hôm nay hãy tự hỏi xem đức tin của mình ở mức độ nào và đã làm gì để đức tin được triển nở và đạt tới một đức tin trưởng thành. Mỗi chúng ta cần gia tăng đức tin bằng việc lắng nghe và suy niệm Lời Chúa, bằng việc cầu nguyện và nhất là luôn biết cầu xin Chúa ban thêm đức tin cho chúng ta. Amen.

Scroll to Top