Chinhtoa church

Chúa đã sống lại thật! Alleluia!

Sau đêm Vọng Phục sinh là thời khắc Đức Giê-su Kitô hiển thắng trên sự chết và bóng đêm, giờ đây trong buổi sáng Phục Sinh, là giờ phút mà ánh sáng hiển trị, như Tin mừng vừa thuật lại, việc xẩy ra là “ngày thứ nhất trong tuần”, Ngày Chúa Phục sinh vinh hiển. Sự kiện này nhắc chúng ta nhớ lại những trang đầu của Kinh Thánh, khi Thiên Chúa chiếu sáng thế giới vào ngày thứ nhất của công trình sáng tạo.

Lễ Phục sinh đối với các Ki-tô hữu là ngày lễ lớn nhất trong năm. Đó là ngày lễ của sự sống, của mùa xuân, của sự đổi mới và của niềm vui.

Lễ Phục sinh mở ra một tiến trình khác trên sự sống và sự chết. Trong thành Roma cổ, người ta thấy có nhiều bia mộ mang những dòng chữ diễn tả nỗi buồn lớn lao như: “Vĩnh biệt, đây là dấu chấm hết của tình yêu chúng ta”; “chúng ta mãi mãi không còn thấy nhau”; “ Tình bạn của chúng ta kết thúc với cái chết”…Ngược lại trên những nấm mồ của các Ki-tô hữu tại các hang toại đạo, ta lại thấy những dòng chữ đầy tràn niềm hy vọng như: “Chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau”; “bạn đang sống trong Chúa”; “Bạn về Nhà Cha”; “Bình an ở với bạn”…

Có những người cho rằng chết là hết. Nhưng các ki-tô hữu thì lại tin rằng cái chết là một cuộc vượt qua để đạt tới một sự sống khác và nó mang đến một ý nghĩa không chỉ đối với sự chết mà còn đối với điều mà chúng ta đang sống hằng ngày. Các văn sỹ ki-tô giáo đã dùng rất nhiều hình ảnh để minh họa cho sự sống mới này như: một đứa trẻ sinh ra khỏi lòng mẹ, một con tằm trở nên con bướm, một hạt lúa gieo vào lòng đất chết đi để trở nên một cây to…

Điều phân biệt các tín hữu với các người vô thần là sự sống lại, đó là niềm tin vào một Thiên Chúa, Đấng không giới hạn sự sống và không chấp nhận rằng mọi sự kết thúc nơi nấm mồ. Mặt khác, danh từ mà các tín hữu dùng để chỉ nơi chôn cất những người đã qua đời là vườn thánh, có nghĩa là nơi an nghỉ của những lữ khách, hay là nơi ở tạm mà thôi.

Phụng vụ chúa nhật phục sinh diễn tả sự bình an và thanh bình. Chúa đã sống lại; Vào lúc bình mình ló rạng: một tin vui được loan báo: “ đừng tìm người sống giữa những kẻ chết”. Đức Giê-su đã mở ra cánh cửa của sự chết. Ngài đã nói với chị Maria, chị của Lazagiô: Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy sẽ không chết bao giờ”.

Sự sống lại là câu trả lời của Thiên Chúa là Cha trước những bạo lực, bất công của đòn vọt và thập giá. Những ai kết án Chúa Giê-su đã tin rằng họ có thể làm Ngài câm lặng và khử trừ được Ngài. Nhưng không, Thiên Chúa Cha đã cho Ngài sống lại, để minh chứng những giá trị mà Ngài muốn thực hiện trong đời sống của Đức Giê-su, như lời thiên thần nói với các phụ nữ vào sáng Chúa nhật Phục sinh: “ Tại sao các bà lại đi tìm người sống giữa những kẻ chết”?

Niềm tin ki-tô giáo không ngừng nói với chúng ta rằng Đức Ki-tô đã sống lại và sự sống của chúng ta không kết thúc bởi cái chết. Lễ Phục sinh và sự sống lại đưa chúng ta vào một mùa xuân mới sau một mùa đông lạnh giá mang màu sức của sự chết, nhờ đó thúc đẩy chúng ta đưa ra lời cam kết ngay từ lúc này để thực sự đạt được sự sống. Đức Ki-tô mời gọi mỗi chúng ta sống sự sống viên mãn ngày từ bây giờ, bằng việc đi ra khỏi những nấm mồ, những chán nản, sợ hãi đang bủa vây chúng ta. Vâng, hãy ra khỏi mồ, khỏi những gì làm cho không còn hy vọng, vì chính Chúa Giê-su đã nói với chúng ta rằng: Ta đến để các ngươi được sống và sống dồi dào. Chúa muốn chúng ta được sống sự sống dồi dào của Chúa.

Sau bữa Tiệc ly, khi trở về núi Cây dầu, Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ: “ khi thầy sống lại, Thầy sẽ hẹn gặp anh em ở Gallilé”. Đó cũng chính là lời mời mà Chúa Giê-su gửi đến cho các phụ nữ sau khi Chúa sống lại: “ các bà hãy đi báo cho anh em thầy rằng họ hãy đến Gallilé và thầy sẽ hẹn gặp lại họ ở đó. Các môn đệ được thúc giục đến Gallile là quê hương bản quán, là gia đình của các ông, với lưới và thuyền.

Ki-tô giáo là một tôn giáo của sự phục sinh. Chúng ta không không hiểu hết những đau khổ trong thế giới nhưng chúng ta không tin sự khổ đau là tiếng nói cuối cùng, và chúng ta sẽ làm tất cả để chinh phục sự chết.

Thực vậy, chúng ta đang sống trong một thế giới mà cái chết đang diễn ra xung quanh. Hàng triệu người đã chết vì nhiều lý do: chiến tranh, nghèo đói, bạo lực, khủng bố, tự sát, nghiện ngập ma túy và rượu, thực phẩm ô nhiễm, môi trường ô nhiềm làm nên bao nhiêu tật bệnh, và ngay lúc này là nạn dịch Covid 19 đã gặp ra hang tram ngìn cái chết trên toàn thế giới.  Và chúng ta muốn chiến đấu để chống lại nó.

Vậy nên khi cử hành ngày Chúa Phục Sinh, mỗi Chúa nhật chúng ta xum họp bên Chúa. Ngày thứ Sabbat là ngày kết thúc tuần lễ, thì ngày Chúa nhật lại là ngày để tạ ơn và mở ra một tuần mới. Chúa Ki-tô phục sinh đang ở giữa chúng ta, như chính Ngài đã hứa: ở đâu có hai hay ba người họp nhau vì danh ta thì ta sẽ ở giữa họ. Ngài mời chúng ta lắng nghe Lời Ngài, chia sẻ sự sống của Ngài và được mạnh sức trong đời sống là nơi mà Ngài vẫn đồng hành với mỗi chúng ta vì Ngài hứa ở ‘cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế”.

Hôm nay, chúng ta mừng đại lễ Phục sinh, ngày lễ quan trong nhất với mọi ki-tô hữu. Đức Ki-tô sống lại trao ban cho mỗi chúng ta ơn can đảm để trở về Gallilê đời mình, là gia đình, là môi trường làm việc, và sống mùa xuân của Thiên Chúa. Trong ngày thứ nhất trong tuần, ngày Chúa Phục sinh, nguyện chúc cộng đoàn tràn đầy niềm vui phục sinh. Chúa đã sống lại thật. Allleluia. Amen.

Tình yêu Thiên Chúa

Hàn Mặc Tử, một nhà thơ tài hoa công giáo, khuyên chúng ta – qua bài “Đà Lạt trăng mờ” – như sau:
“Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,
để nghe dưới đáy, nước hồ reo
để nghe tơ liễu run trong gió
và để xem Trời giải nghĩa yêu.”

= Thiên Chúa là Tình yêu, tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa.

1.Tình yêu Thiên Chúa

– Thiên Chúa là Tình yêu

+ Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban con một người để tất cả những ai tin vào con của người thì không phải hư mất nhưng được sống đời đời. (Ga 3,16)

– Tình yêu Thiên Chúa nơi Đức Giê-su Ki-tô

+Không có tình yêu nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình. (Ga 15, 13)

+“Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.. Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.” (Ga 13, 1.4-5).

+  “Các con hãy lãnh nhận mà ăn, này là Mình Ta, sẽ bị nộp vì các con: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta. Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối, Người cầm lấy chén, và phán: “Chén này là Tân ước trong Máu Ta; mỗi khi các con uống, các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”.

+ Bữa tiệc Thánh Thể mà Chúa Giê-su đã lập trong đêm thứ Năm Thánh là bằng chứng rõ rệt nhất của tình yêu. Và cho đến hôm nay, hơn 2000 năm đã qua đi, bữa tiệc ấy vẫn luôn hiện thực trên các bàn thờ trong các thánh lễ.

2. Sống tình yêu Thiên Chúa

 – Tình yêu con người: ích kỷ, chiếm hữu…

 – Yêu như Thầy yêu

+ “Thầy ban cho các con một giới răn mới, là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con”.

+ tình yêu đúng nghĩa là hy sinh, là quên mình để phục vụ, là cống hiến không ngừng cho tha nhân được hạnh phúc

+ Cuộc đời mình không ngừng là tấm bánh bẻ ra vì anh chị em. Khi mời gọi “các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy”, Chúa tha thiết kêu mời chúng con hãy yêu nhau theo cách yêu của Chúa

+ Ở cuối văn kiện Tòa Thánh, các Ðức Giáo Hoàng thường ghi dòng chữ này cùng với chữ ký của mình: “Tôi tớ của các tôi tớ”. Ðây là tinh thần mà Chúa Giêsu muốn tất cả các vị lãnh đạo trong Giáo Hội phải có, như được đề cập đến trong bài Tin Mừng hôm nay: “Ai muốn làm đầu thì phải làm người rốt hết, và làm tôi tớ mọi người”.

+ Mẹ Têrêsa Calcutta nói:” Đừng thỏa mãn với việc cho đi tiền bạc. Tiền bạc mà thôi chưa đủ, còn cần tấm lòng yêu thương nữa”. Tập thực hành đức yêu thương và phục vụ trong những việc nhỏ nhặt nhất trong đời sống thường ngày để dâng những công việc bác ái đó làm của lễ mỗi khi bạn tham dự bàn tiệc Thánh Thể.

+ Chứng từ: Ý tình cờ nhặt được một chiếc ví trong con hẻm nhỏ. Khi mở ra, trong ví gồm có một chiếc điện thoại iPhone 5S, 15,5 triệu đồng tiền mặt cùng 2 quyển sổ tiết kiệm trị giá hơn 1,3 tỷ đồng. “Tôi chỉ muốn nhanh chóng trả lại chiếc ví. Tôi nhặt được ví khi đang trên đường đến nhà bạn. Thấy trong đó là tài sản lớn, tôi nghĩ ngay người mất sẽ rất đau khổ nên muốn nhanh chóng trả lại họ. Do điện thoại của chủ nhân có mật khẩu nên tôi không thể liên lạc ngay với người thân của họ. Chỉ đến khi có người gọi đến điện thoại của người mất ví, tôi mới có số điện thoại trao đổi để tìm chủ nhân chiếc ví. Lúc gặp được chị Thư qua điện thoại đã gần 17g, tôi vội đi lễ nhà thờ nên mới hẹn đến chỗ tôi làm ở nhà nghỉ Sao Mai để trả ví. Do quá vội nên tôi không có thời gian báo công an, vả lại lúc đó tôi chỉ nghĩ làm sao trả lại tài sản cho người mất nhanh nhất là được. Khi công an tới, thật sự tôi rất bất ngờ nhưng nghĩ mình không làm gì sai nên không lo sợ”.

Kết luận: Lạy Chúa Ki-tô, Mẹ Hội Thánh muốn chúng con quay về với tình yêu của Chúa để trước hết được thánh hóa, hầu có thể yêu tha nhân như Chúa đã hiến thân mình để yêu thương chúng con.

Đối với con, Ta là ai?

“ Chúa Giê-su chịu hấp hối cho đến tận thế”, câu nói của một triết gia công giáo cho thấy sự thương khó của Chúa vẫn tiếp diễn. Cho đến hôm nay, người ta vẫn chế nhạo Chúa và những ai tin vào Ngài. Người ta kết án tử Ngài và làm cho ngài biến mất để chứng minh rằng ngài là một tên bịp bợm không còn tồn tại.

Từ hơn 2000 năm qua, vụ kết án của Chúa Giê-su vẫn tiếp tục được nhắc lại năm này qua năm khác, thế kỷ này qua thế kỷ khác. Hôm nay cũng thế, Đức Ki-tô đang nhìn chúng ta với lòng nhân từ và đặt cho chúng ta câu hỏi: Đối với con, ta là ai?

Trong bài thương khó theo thánh Luca mà chúng ta vừa nghe, Chúa Giê-su bị vây quanh bởi nhiều gương mặt khác nhau: các biệt phái và luật sỹ, quan Phi-la-tô, thượng tế Caipha, ông Giu đa, Phê rô và các môn đệ, ông Simon thành Cy-rê-nê, người trộm lành, ông Giu-se thành Arimathia, các phụ nữ theo Chúa, viên bách quan và những người lính…

Qua đám đông những người tin hoặc không tin theo Đức Giê-su đó, Thánh Luca làm nổi bật lên khuôn mặt Thiên Chúa đầy lòng thương xót, nhân từ và bao dung. Đó chính là điểm nhấn của Tin mừng Luca, muốn diễn tả tình yêu của Thiên Chúa Cha biểu lộ qua Đức Giê-su, dành cho những người nghèo, những người đau khổ những người bên lề xã hội.

Điểm lưu ý trong bài thương khó theo Thánh Luca mà các phúc âm khác không nói đến, là ba lần Chúa lên tiếng để mạc khải căn tính của Thiên Chúa. Chúng ta cùng suy gẫm ba lời này của Chúa Giê-su.

Lời thứ nhất: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”. Lời này là tiếng kêu sâu thẳm của tình yêu chỉ có nơi Thiên Chúa. Tiếng kêu của sự tha thứ đáp lại những lời nguyền rủa, những lời chế nhạo của đám đông vây quanh, của các luật sỹ và biệt phái, của những người lính canh.

Trong suốt cuộc đời, Chúa Giê-su rao giảng sự tha thứ. Ngài đã yêu cầu các môn đệ tha thứ không chỉ cho nhưng người thân cận mà cả những kẻ thù những kẻ làm hại mình. Ngài đã yêu cầu Phê-rô phải tha thứ không chỉ bẩy lần nhưng là bẩy mươi lần bẩy; trong dụ ngôn người con hoang đàng, ngài cho thấy hình ảnh Thiên Chúa như một người Cha đã mở tiệc ăn mừng khi đứa con đi hoang trở về. Bị đối xử như một kẻ gian ác, bị kết án tử nhục nhã và bất công, bị đóng đinh giữa hai tên trộm cướp, nhưng Chúa Giê-su vẫn vượt thắng tất cả để thốt lên lời tha thứ: Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”.

Lời thứ hai: “Ngày hôm nay, người ở trên thiên đàng với ta”. Đó chính là lời Chúa dành cho tên trộm đã tin vào Ngài. Vâng, Chúa đã biểu lộ tình yêu và lòng nhân trong suốt những năm tháng trong cuộc đời: Maria Madalena, Gia-kêu, người phụ nữ Samaria, người đàn bà ngoại tình, Phê-rô,  những người què quặt đui mù, đau yếu, quỷ ám v.v. đều nhận được lòng thương xót của Chúa. Và ngay cả lúc hấp hối, Chúa vẫn đón nhận người tử tội cùng chịu đóng đinh với Chúa: Ngay hôm nay, người sẽ ở trên thiên đàng với ta. Ngay ở ngưỡng của sự chết, Chúa Giê-su mở ra cho người bất hạnh này niềm hy vọng và sự sống. Trải qua các thế kỷ, Chúa Ki-tô vẫn luôn luôn là niềm hy vọng cho biết bao nhiêu tâm hồn và Ngài tiếp tục làm điều đó hôm nay.

Lời thứ ba: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha”. Thánh sử Luca cho thấy cái chết của Chúa Giê-su không phải là một biến cố vô nghĩa nhưng là một sự biểu lộ tình yêu, là một cuộc vượt qua về với Chúa Cha: Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha. Dù Chúa Giê-su vẫn luôn sống mối tương quan mật thiết với Chúa Cha nhưng trong lúc thử thách này, trong nỗi sợ hãi của thân phận con người trước cái chết, Ngài vẫn cần đặt niềm tin tưởng trong vòng tay yêu thương của Chúa Cha.

Bản văn của Thánh Luca giúp chúng ta khám phá ra một Thiên Chúa đầy tràn tình yêu và nhân từ, một Thiên Chúa đã cho đi tất cả mà không tiếc chúng ta điều gì. Đó chính là nguồn hy vọng lớn lao cho đời sống đức tin của người tín hữu chúng ta. Vậy ước gì trong tuần thánh này, tuần lễ quan trọng nhất đối với mọi tín hữu, đỉnh cao của năm phụng vụ, không qua đi vô ích nhưng là thời khắc tuyệt hảo nuôi sống niềm tin và niềm hy vọng cho mỗi người chúng ta. Amen.

Tôi cũng không kết án chị

Tự nhiên chúng ta thường dễ xét đoán và kết án người khác. Tuy nhiên với ánh mắt của Chúa Giê-su dành cho người phụ nữ ngoại tình bị mọi người kết án, Tin mừng hôm nay  mời gọi chúng ta biến đổi cái nhìn đối với những anh chị em xung quanh.

Chúa Giê-su nhìn người phụ nữ ngoại tình như ngài đã nhìn Gia-kêu, Maria Madalena, người phụ nữ thành Samaria và Phê-rô khi ông chối Ngài. Chúa nhìn mọi người với ánh mắt nhân từ và bao dung. Cái nhìn của Chúa mang đến sự cứu vớt và trao ban sự sống. Một cái nhìn chan hòa tình yêu.

Đối với người phụ nữ ngoại tình, cho đến lúc gặp Chúa Giê-su, bà chỉ thấy hai ánh nhìn. Ánh nhìn thèm muốn nhục dục của những người đàn ông và ánh nhìn chết chóc do hận thù và oán ghét. Ngược lại khi gặp Đức Giê-su, ngài đã ngước nhìn bà với ánh mắt tôn trọng, cảm thông và chia sẻ. Ngài không chỉ tay kết án bà mặc dù Ngài không thỏa hiệp với tội lỗi của bà. Ngài nâng bà lên khỏi vũng bùn tội lỗi và trả lại cho bà phẩm giá làm người. Ngài kêu mời bà quên đi quá khứ và bắt đầu lại một cuộc sống mới.

Câu chuyện kinh thánh hôm nay là một minh họa cụ thể về thái độ của Thiên Chúa đối với tội nhân, cụ thể là một tội nhân đáng thương mà chính Chúa Giê-su gặp gỡ và bảo vệ để chống lại sự độc ác của con người. Đây không phải là một câu chuyện về việc ngoại tình, nhưng là một mạc khải về Chúa Giê-su và về cái nhìn của Ngài đối với người phụ nữ bị kết án ném đá này.

Lòng thương xót của Thiên Chúa thật phong nhiêu và nó mở ra cho chúng ta một tương lai tràn đầy hy vọng, như là ngôn sứ Isaia đã nói trong bài đọc thứ nhất rằng: “Các ngươi đừng nhớ lại những chuyện ngày xưa, chớ quan tâm về những việc thuở trước”. Chúa Giê-su đã cứu người phụ nữ này khi mạc khải cho chị khuôn mặt của lòng từ bi  và đầy lòng thương xót của Thiên Chúa. “ Tôi không kết án chị”, sự tha thứ đã giải thoát chị khỏi tội lỗi  và quên đi quá khứ đau thương. Chúa Giê-su không kể tội chị nhưng chỉ quan tâm đến tương lai của chị “ chị hãy đi và đừng phạm tội nữa”.

Khi trao cho chị phụ nữ ngoại tình ánh nhìn đầy nhân từ, thì đồng thời Thiên Chúa đã vén mở cái mặt nạ của những kẻ muốn kết án chị. Thực tế thì con người dễ bị kích động thể hiện những lời giận dữ và hành động tàn ác với địch thù khi là thành phần của một đám đông hung dữ, chắc hẳn ai đã từng chứng kiến cảnh những kẻ trộm chó bị đánh chết bởi đám đông thì sẽ cảm nhận rõ điều này. Quang cảnh đám đông xung quanh Chúa Giê-su cũng thế. Họ bừng bừng sát khí, muốn Chúa cùng với họ ném đá chết người phụ nữ đáng thương này. Nhưng Chúa Giê-su đã giúp họ thoát ra khỏi cái khí thế hừng hực đầy tàn nhẫn này khi ngài mời gọi họ nhìn vào bên trong con người họ thay vì chỉ nhìn vào chị phụ nữ ngoại tình mà họ coi như là một phương tiện để gài bẫy và kết án Đức Giê-su. Những con người này sẵn sàng ném đá chết người phụ nữ vì họ bị xúi bẩy bởi những người lãnh đạo có quyền kết án người khác nhưng lại quên lên án chính bản thân mình.

Chúa Giê-su không chỉ vạch mặt sự thánh thiện giả hình của họ mà còn buộc họ phải ngượng ngùng thả rơi những hòn đá khỏi bàn tay  mà im lặng rút lui. Chúa đã vén mở lương tâm của họ và chỉ cho họ thấy lòng họ chẳng tốt đẹp là bao, họ cần phải lấy cái xà ra khỏi mắt họ trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt những người anh em.

Khi im lặng, cúi xuống viết trên đất mà không nhìn ai, Chúa Giê-su dường như để họ tự kết án bản thân và quang cảnh diễn ra khá hài hước khi thánh sử Gioan mô tả rằng “họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi”. Vâng,  họ đã thật sự xấu hổ trước lời chất vấn của Chúa: Ai trong các ông sạch tội, hãy ném đã người phụ nữ này trước đi”, và kết quả là những người lớn tuổi là những người rút lui trước hết.

Câu chuyện trong bài Tin mừng hôm nay là một thông điệp gửi đến cho mỗi chúng ta. Thông điệp chính là:  nếu nơi đâu một người bị ném đá, nơi đâu người ta ném đá giết hại người khác, nơi đâu người ta bôi nhọ thanh danh người khác bởi sự gian dối, nói xấu và vu khống, thì Chúa Giê-su đang mời chúng ta hãy rút lui và đừng bao giờ gia nhập và chung tay cổ võ.

Chúng ta cần xác tín rằng thế giới này sẽ trở nên hoàn thiện hơn nếu con người đổi thay, nếu mỗi chúng ta bắt đầu biến đổi và canh tân chính đời sống của mình.

Những ngày chay thánh là thời gian thuận tiện để mỗi chúng ta biết mở rộng con tim mình để cho Chúa đặt nơi chúng ta một ánh nhìn đầy lòng nhân từ và thương xót của Ngài và nói với chúng ta rằng: Cha cũng không kết án con, con hãy đi và đừng phạm tội nữa. Amen.

Cha nhân hậu

Dụ ngôn người Cha nhân hậu mà cộng đoàn vừa nghe cho  thấy đâu là hình ảnh người Cha mà chúng ta có về Thiên Chúa và đâu là hình ảnh người Cha của Chúa Giê-su mà Ngài chỉ cho chúng ta.

Thật vây, mục đích đầu tiên của dụ ngôn là mạc khải  Thiên Chúa là ai. Một văn sỹ đã nói rằng nếu có phải hủy bỏ tất cả các bản văn Kinh Thánh thì nên giữ lại ít là trang dụ ngôn người Cha nhân hậu bởi vì nhờ đó mà mọi người hiểu được Thiên Chúa là ai: ngài chính là người Cha đầy lòng yêu thương, kiên nhẫn chờ đợi, sẵn sàng mở rộng vòng tay tha thứ và mở tiệc ăn mừng khi đứa con đi hoang trở về.

Dụ ngôn này vẫn mang ý nghĩa sâu sa và hiện thực hơn bao giờ hết trong cuộc sống hôm nay và điều đáng chú ý trong câu chuyện là người con bỏ nhà ra đi.

Khi yêu cầu Cha mình chia phần gia tài, dường như nó muốn nói với Cha nó rằng: “Tôi coi ông như đã chết”. Chính vì thế mà nó chỉ yêu cầu Cha nó chia cho nó phần gia tài mà nó có quyền hưởng sau khi Cha nó chết.

Rời bỏ nhà Cha để sống trong một môi trường tục hóa, tôn thờ hưởng thụ vật chất thì cũng đồng nghĩa với việc  thiếu chỗ cho sự hiện diện của Cha trong cuộc đời của đứa con đi hoang và như thế nó trở nên nô lệ cho các thần tượng của thời đại. Đánh mất niềm tin vì cắt đứt liên lạc với Cha, nó đánh mất chính bản thân mình, đánh mất  địa vị làm con và “ không còn đáng được gọi là con Cha nữa”.

Từ hình ảnh người con đi hoang, chúng ta cũng nhận ra có nhiều cuộc ra đi của nhiều người con Chúa trong gia đình Giáo Hội hôm nay.

Thực tế là tại nhiều nơi trên thế giới và ngay cả xung quanh chúng ta, nhiều người trẻ mang danh là có đạo nhưng lại không sống đạo, chỉ cần quan sát thấy họ không đến nhà thờ, không học giáo lý, không tham dự thánh lễ và lãnh nhận các bí tích cũng đủ thấy đời sống của họ có ở trong nhà của Thiên Chúa hay không.

Hiện tượng thờ ơ này cho thấy nhiều người trẻ càng ngày càng muốn sống xa niềm tin, xa tôn giáo truyền thống của cha ông để khẳng định sự độc lập, sự tự do không bị giới hạn, không bị cản trở. Họ cũng giống như đứa con thứ muốn giành lấy gia tài để trẩy đi phương xa, tách khỏi gia đình, khỏi cộng đoàn. Họ muốn rời bỏ cái bầu khí mà họ cho là buồn tẻ, đơn điệu với những nghi lễ nhàm chán và ràng buộc để phưu lưu trong một thế giới cổ võ sự thành công, tự do và hợp thời đại.

Hậu quả là nhiều cộng đoàn giáo xứ già nua vì chỉ có người già đi thờ đi lễ, thậm chí có nhiều nhà thờ phải đóng cửa. Nhiều cha mẹ trẻ không còn sức sống để truyền lại niềm tin ki-tô giáo cho thế hệ con cháu. Có những cha mẹ bất lực với những đứa con của mình và chỉ biết than phiền trong nước mắt rằng: Chúng tôi không thể khuyên bảo được chúng nó.  Chúng nó chẳng cầu nguyện, chẳng đi thờ đi lễ nữa,  suốt ngày chúng chỉ lo kiếm tiền và vui chơi mà thôi”.

Tuy nhiên Dụ ngôn mà thánh sử Luca vừa thuật lại cho chúng ta lại mang đến cho chúng ta niềm hy vọng lớn lao.

Niềm hy vọng  thứ nhất  cho chúng ta thấy rằng chính khi đứa con bỏ nhà đi hoang thì hình ảnh của người Cha lại càng nổi bật.  Thiên Chúa chính là người Cha đầy lòng thương xót, nên Ngài luôn luôn tôn trọng sự chọn lựa của chúng ta, ngay cả khi sự lựa chọn này gạt bỏ Chúa ra khỏi đời sống. Như trong dụ ngôn, khi đứa con quyết định  bỏ nhà đi hoang, mặc dù Cha nó ước mong nó suy nghĩ lại nhưng ngài không ép buộc. Và khi nó quyết định trở về, Người Cha đã vui mừng khôn xiết, mở tiệc ăn mừng và tất mọi người cũng được mời chia sẻ niềm vui của người Cha. Trong sách Khải Huyền,  có đoạn đã mô tả hình ảnh rất đẹp về sự tôn trọng của Thiên Chúa đối với chúng ta như sau: Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta (Ap 3,20). Chúa chỉ gõ và đứng đợi trước cửa, chứ không bao giờ tự đẩy cửa vào vì Ngài tôn trọng tự do của chúng ta. Cho dù chúng ta có ích kỷ và thiếu tôn trọng thì Chúa vẫn luôn là người Cha đầy tràn tình thương, Ngài vẫn làm cho “mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương”; ngài vẫn trả một đồng cho những người làm công từ giờ thứ nhất và những người làm công vào giờ cuối cùng trong ngày. Ngài kiên nhẫn đợi chờ cho lúa và cỏ lùng cùng mọc lên cho tới vụ gặt. Vâng, ngài vẫn đứng đó chờ đón những đứa con đi hoang trở về.

Niềm hy vọng thứ hai là niềm hy vọng ngày của niềm vui mừng vì đứa con đi hoang trở về. Dù chúng ta có lo lắng vì có nhiều người trẻ “rời bỏ nhà Cha” thì dụ ngôn lại mở ra cho chúng ta cánh cửa của niềm vui vì một ngày kia những anh chị em vì lầm lạc bỏ nhà Cha sẽ trở về, và cả chúng ta nữa, chúng ta cũng trở về trong niềm mong đợi của Cha trên trời. 

Trở về Nhà Cha như người con thứ, đồng thời Cha chúng ta trên trời mời gọi chúng ta đừng cứng lòng như đứa con cả đã phản ứng và chối bỏ người em đi hoang trở về, nhờ đó chúng ta có thể quảng đại đón mừng những anh chị em có lòng hoán cải để tất cả chúng ta cùng xây dựng đời sống gia đình và đời sống cộng đoàn hiệp nhất và yêu thương trong tình thương của Thiên Chúa là Cha mỗi ngày một hơn. Amen.

Kiên nhẫn

Thực tế đời sống cho thấy khi một bất hạnh xẩy đến cho mình  hay cho một ai đó, thường người ta muốn tìm ra thủ phạm để quy án. Bản tính tự nhiên thúc đẩy con người thích kết án kẻ khác hơn là chính mình và an tâm về điều đó. Khi đổ lỗi và kết án người khác người ta tự cho mình ở trong thế giới của  những người tốt hơn họ.

Khi gợi nêu lên hai biến cố nóng hổi có tính thời sự, một do sự tàn ác của Philatô, một do tai nạn lao động, dẫn đến cái chết của mấy chục người Galilêa, người ta cũng muốn Chúa Giê-su kết luận rằng những người bị nạn này là những người tội lỗi nên bị Chúa phạt nhãn tiền. Nghĩ như thế người ta dễ nghĩ mình vô tội, vì còn được bình yên.

Vậy mạc khải của Lời Chúa hôm nay làm sáng tỏ những quan niệm lệch lạc của con người.

Trước hết là quan niệm về một Thiên Chúa thích trừng phạt và là tác giả của những thảm họa xẩy ra trong thế giới loài người. Thực tế thì niềm tin sai lạc này vẫn còn tồn tại trong lòng chúng ta. Cụ thể là mỗi khi có điều bất hạnh xẩy đến, nhiều người vẫn quy cho Thiên Chúa là tác giả, dường như là ngài can thiệp vào mọi chuyện đến nỗi người ta luôn thắc mắc: tôi đã làm gì sai mà Thiên Chúa để điều đó xẩy đến với tôi? Hay Thiên Chúa ở đâu mà lại để cho thảm họa động đất xẩy đến kinh khủng như thế?…

Khi tạo dựng vũ trụ, Thiên Chúa đã trao ban cho con người thế giới này, để quản trị,  làm chủ thiên nhiên và để thiết lập mối tương quan hài hòa với tạo vật. Tuy nhiên tội lỗi đi vào thế giới loài người đã làm mất đi trật tự ban đầu, gây nên những đổ vỡ và phá hủy. Nếu như vẫn còn những thiên tai, vẫn còn những bất hạnh trong đời sống con người và xã hội thì đó không phải là lỗi của Thiên Chúa bởi vì từ thủa ban đầu Thiên Chúa tạo dựng nên mọi sự đều tốt đẹp nên Ngài không phải là nguyên nhân của sự ác được.  Khi quân lính Philato tàn sát những người chống đối, khi 18 người lao động bị tháp Siloe đổ đè chết, thật là bất công khi người ta cho rằng đó là án phạt của Thiên Chúa.  Thực ra đó là kết quả tàn ác do con người gây ra, hay việc thi công ngọn tháp vì không đảm bảo an toàn tối thiểu đã gây ra tai nạn đau thương như thế. Tất nhiên đau khổ và sự ác vẫn là một màu nhiệm mà chúng ta chỉ có thể hiểu được qua Đức Giê-su, ngài đã biến đau khổ và sự ác thành niềm vui phục sinh.

Tiếp theo là quan niệm về án phạt khi cho rằng những người bị nạn là vì họ tội lỗi. Chúa Giê-su đã loại bỏ quan niệm sai lầm này và ngược lại lấy cái chết của những con người bất hạnh này làm chất liệu cho mọi người phải suy nghĩ về thân phận của chính mình, đi ra khỏi sự tự hào và an toàn giả tạo để luôn biết hoán cải tận căn: “nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy”.

Như trong câu chuyện người phụ nữ ngoại tình, Chúa Giê-su luôn luôn gửi tới thông điệp riêng của Ngài: “ai trong các ông sạch tội hãy ném đá người phụ nữ này trước đi”. Hôm nay, Chúa cũng gửi đến cho chúng ta thông điệp như thế. Trước khi kết án người khác, trước khi đổ tội cho Thiên Chúa, chúng ta hãy bắt đầu bằng việc nhìn lại chính bản thân chúng ta như lời Chúa Giê-su đã nói: bạn hãy lấy cái cái xà ra khỏi mắt bạn trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em.

Lời Chúa trong bài Tin mừng hôm nay soi sáng tâm hồn chúng ta như thế, thì sự đáp trả của tất cả chúng ta bây giờ là phải hoán cải  đời sống. Mỗi chúng ta cũng giống như cây vả trong dụ ngôn. Giả như hiện tại chúng ta đang trổ sinh ít hoa trái thì cũng thật là phúc cho chúng ta vì Thiên Chúa luôn kiên nhẫn và rủ lòng xót thương chưa cắt bỏ chúng ta đi mà quăng vào lửa. Thiên Chúa  như ông chủ vườn trong dụ ngôn đã kiên nhẫn chờ đợi tới ba năm để trông mong cây vả sinh trái.

Tuy nhiên điều quan trọng là chúng ta đừng lạm dụng sự kiên nhẫn và lòng thương xót của Thiên Chúa,  nhưng hãy lo biết làm sao cho cuộc đời mình trổ sinh  nhiều công phúc. Tuy Thiên Chúa là đấng có lòng kiên nhẫn nhưng một ngày kia thời gian chờ đợi sẽ kết thúc và chúng ta sẽ phải trả lẻ cho lối sống sa đọa của mình. Có thể cũng vào ngày này năm sau, sẽ có người trong chúng ta không còn nữa. Và có thể đối với một số người năm nay sẽ là năm cuối cùng của cuộc đời.

Như trong dụ ngôn cây vả, câu chuyện dường như chưa có kết luận. Chúng ta không biết điều gì sẽ xẩy đến với cây vả không sinh trái này: bị cắt bỏ hay tiếp tục để nó tồn tại. Số phận chúng ta cũng thế. Tương lai đang mở ra và cái gì xẩy đến với chúng ta đều tùy thuộc vào mỗi chúng ta.

Thiên Chúa đang trao ban cho chúng ta sự kiên nhẫn và tình thương của ngài, không phải là để chúng ta lười biếng, ỉ lại và không lo lắng, nhưng là thổi bừng lên niềm hy vọng và thúc đẩy chúng ta canh tân đời sống ngày từ bây giờ để có thể trổ sinh nhiều hoa trái của ơn phúc.

Mùa Chay là thời gian lý tưởng để chăm sóc cho cây sự sống tăng trưởng trong đời chúng ta. Cầu nguyện, chay tịnh và làm việc bác ái, đó là những phương thế có thể làm cho mảnh đất của đời mình thêm màu mỡ làm cho cây sự sống lớn lên mỗi ngày.

“Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó.  May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi”. Lời dụ ngôn  hôm nay, như là một lời nhắn nhủ chúng ta rằng Chúa Giê-su Ki-tô đang mời gọi tôi, mời gọi anh chị em biết tận dụng thời gian thuận tiện này,  thời gian mà Thiên Chúa ban cho chúng ta như là một quà tặng vô giá để biến đổi cuộc đời mình trong tình thương bao la của Thiên Chúa. Amen.

Scroll to Top