Chinhtoa church

Tôi cũng không kết án chị

Tự nhiên chúng ta thường dễ xét đoán và kết án người khác. Tuy nhiên với ánh mắt của Chúa Giê-su dành cho người phụ nữ ngoại tình bị mọi người kết án, Tin mừng hôm nay  mời gọi chúng ta biến đổi cái nhìn đối với những anh chị em xung quanh.

Chúa Giê-su nhìn người phụ nữ ngoại tình như ngài đã nhìn Gia-kêu, Maria Madalena, người phụ nữ thành Samaria và Phê-rô khi ông chối Ngài. Chúa nhìn mọi người với ánh mắt nhân từ và bao dung. Cái nhìn của Chúa mang đến sự cứu vớt và trao ban sự sống. Một cái nhìn chan hòa tình yêu.

Đối với người phụ nữ ngoại tình, cho đến lúc gặp Chúa Giê-su, bà chỉ thấy hai ánh nhìn. Ánh nhìn thèm muốn nhục dục của những người đàn ông và ánh nhìn chết chóc do hận thù và oán ghét. Ngược lại khi gặp Đức Giê-su, ngài đã ngước nhìn bà với ánh mắt tôn trọng, cảm thông và chia sẻ. Ngài không chỉ tay kết án bà mặc dù Ngài không thỏa hiệp với tội lỗi của bà. Ngài nâng bà lên khỏi vũng bùn tội lỗi và trả lại cho bà phẩm giá làm người. Ngài kêu mời bà quên đi quá khứ và bắt đầu lại một cuộc sống mới.

Câu chuyện kinh thánh hôm nay là một minh họa cụ thể về thái độ của Thiên Chúa đối với tội nhân, cụ thể là một tội nhân đáng thương mà chính Chúa Giê-su gặp gỡ và bảo vệ để chống lại sự độc ác của con người. Đây không phải là một câu chuyện về việc ngoại tình, nhưng là một mạc khải về Chúa Giê-su và về cái nhìn của Ngài đối với người phụ nữ bị kết án ném đá này.

Lòng thương xót của Thiên Chúa thật phong nhiêu và nó mở ra cho chúng ta một tương lai tràn đầy hy vọng, như là ngôn sứ Isaia đã nói trong bài đọc thứ nhất rằng: “Các ngươi đừng nhớ lại những chuyện ngày xưa, chớ quan tâm về những việc thuở trước”. Chúa Giê-su đã cứu người phụ nữ này khi mạc khải cho chị khuôn mặt của lòng từ bi  và đầy lòng thương xót của Thiên Chúa. “ Tôi không kết án chị”, sự tha thứ đã giải thoát chị khỏi tội lỗi  và quên đi quá khứ đau thương. Chúa Giê-su không kể tội chị nhưng chỉ quan tâm đến tương lai của chị “ chị hãy đi và đừng phạm tội nữa”.

Khi trao cho chị phụ nữ ngoại tình ánh nhìn đầy nhân từ, thì đồng thời Thiên Chúa đã vén mở cái mặt nạ của những kẻ muốn kết án chị. Thực tế thì con người dễ bị kích động thể hiện những lời giận dữ và hành động tàn ác với địch thù khi là thành phần của một đám đông hung dữ, chắc hẳn ai đã từng chứng kiến cảnh những kẻ trộm chó bị đánh chết bởi đám đông thì sẽ cảm nhận rõ điều này. Quang cảnh đám đông xung quanh Chúa Giê-su cũng thế. Họ bừng bừng sát khí, muốn Chúa cùng với họ ném đá chết người phụ nữ đáng thương này. Nhưng Chúa Giê-su đã giúp họ thoát ra khỏi cái khí thế hừng hực đầy tàn nhẫn này khi ngài mời gọi họ nhìn vào bên trong con người họ thay vì chỉ nhìn vào chị phụ nữ ngoại tình mà họ coi như là một phương tiện để gài bẫy và kết án Đức Giê-su. Những con người này sẵn sàng ném đá chết người phụ nữ vì họ bị xúi bẩy bởi những người lãnh đạo có quyền kết án người khác nhưng lại quên lên án chính bản thân mình.

Chúa Giê-su không chỉ vạch mặt sự thánh thiện giả hình của họ mà còn buộc họ phải ngượng ngùng thả rơi những hòn đá khỏi bàn tay  mà im lặng rút lui. Chúa đã vén mở lương tâm của họ và chỉ cho họ thấy lòng họ chẳng tốt đẹp là bao, họ cần phải lấy cái xà ra khỏi mắt họ trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt những người anh em.

Khi im lặng, cúi xuống viết trên đất mà không nhìn ai, Chúa Giê-su dường như để họ tự kết án bản thân và quang cảnh diễn ra khá hài hước khi thánh sử Gioan mô tả rằng “họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi”. Vâng,  họ đã thật sự xấu hổ trước lời chất vấn của Chúa: Ai trong các ông sạch tội, hãy ném đã người phụ nữ này trước đi”, và kết quả là những người lớn tuổi là những người rút lui trước hết.

Câu chuyện trong bài Tin mừng hôm nay là một thông điệp gửi đến cho mỗi chúng ta. Thông điệp chính là:  nếu nơi đâu một người bị ném đá, nơi đâu người ta ném đá giết hại người khác, nơi đâu người ta bôi nhọ thanh danh người khác bởi sự gian dối, nói xấu và vu khống, thì Chúa Giê-su đang mời chúng ta hãy rút lui và đừng bao giờ gia nhập và chung tay cổ võ.

Chúng ta cần xác tín rằng thế giới này sẽ trở nên hoàn thiện hơn nếu con người đổi thay, nếu mỗi chúng ta bắt đầu biến đổi và canh tân chính đời sống của mình.

Những ngày chay thánh là thời gian thuận tiện để mỗi chúng ta biết mở rộng con tim mình để cho Chúa đặt nơi chúng ta một ánh nhìn đầy lòng nhân từ và thương xót của Ngài và nói với chúng ta rằng: Cha cũng không kết án con, con hãy đi và đừng phạm tội nữa. Amen.

Cha nhân hậu

Dụ ngôn người Cha nhân hậu mà cộng đoàn vừa nghe cho  thấy đâu là hình ảnh người Cha mà chúng ta có về Thiên Chúa và đâu là hình ảnh người Cha của Chúa Giê-su mà Ngài chỉ cho chúng ta.

Thật vây, mục đích đầu tiên của dụ ngôn là mạc khải  Thiên Chúa là ai. Một văn sỹ đã nói rằng nếu có phải hủy bỏ tất cả các bản văn Kinh Thánh thì nên giữ lại ít là trang dụ ngôn người Cha nhân hậu bởi vì nhờ đó mà mọi người hiểu được Thiên Chúa là ai: ngài chính là người Cha đầy lòng yêu thương, kiên nhẫn chờ đợi, sẵn sàng mở rộng vòng tay tha thứ và mở tiệc ăn mừng khi đứa con đi hoang trở về.

Dụ ngôn này vẫn mang ý nghĩa sâu sa và hiện thực hơn bao giờ hết trong cuộc sống hôm nay và điều đáng chú ý trong câu chuyện là người con bỏ nhà ra đi.

Khi yêu cầu Cha mình chia phần gia tài, dường như nó muốn nói với Cha nó rằng: “Tôi coi ông như đã chết”. Chính vì thế mà nó chỉ yêu cầu Cha nó chia cho nó phần gia tài mà nó có quyền hưởng sau khi Cha nó chết.

Rời bỏ nhà Cha để sống trong một môi trường tục hóa, tôn thờ hưởng thụ vật chất thì cũng đồng nghĩa với việc  thiếu chỗ cho sự hiện diện của Cha trong cuộc đời của đứa con đi hoang và như thế nó trở nên nô lệ cho các thần tượng của thời đại. Đánh mất niềm tin vì cắt đứt liên lạc với Cha, nó đánh mất chính bản thân mình, đánh mất  địa vị làm con và “ không còn đáng được gọi là con Cha nữa”.

Từ hình ảnh người con đi hoang, chúng ta cũng nhận ra có nhiều cuộc ra đi của nhiều người con Chúa trong gia đình Giáo Hội hôm nay.

Thực tế là tại nhiều nơi trên thế giới và ngay cả xung quanh chúng ta, nhiều người trẻ mang danh là có đạo nhưng lại không sống đạo, chỉ cần quan sát thấy họ không đến nhà thờ, không học giáo lý, không tham dự thánh lễ và lãnh nhận các bí tích cũng đủ thấy đời sống của họ có ở trong nhà của Thiên Chúa hay không.

Hiện tượng thờ ơ này cho thấy nhiều người trẻ càng ngày càng muốn sống xa niềm tin, xa tôn giáo truyền thống của cha ông để khẳng định sự độc lập, sự tự do không bị giới hạn, không bị cản trở. Họ cũng giống như đứa con thứ muốn giành lấy gia tài để trẩy đi phương xa, tách khỏi gia đình, khỏi cộng đoàn. Họ muốn rời bỏ cái bầu khí mà họ cho là buồn tẻ, đơn điệu với những nghi lễ nhàm chán và ràng buộc để phưu lưu trong một thế giới cổ võ sự thành công, tự do và hợp thời đại.

Hậu quả là nhiều cộng đoàn giáo xứ già nua vì chỉ có người già đi thờ đi lễ, thậm chí có nhiều nhà thờ phải đóng cửa. Nhiều cha mẹ trẻ không còn sức sống để truyền lại niềm tin ki-tô giáo cho thế hệ con cháu. Có những cha mẹ bất lực với những đứa con của mình và chỉ biết than phiền trong nước mắt rằng: Chúng tôi không thể khuyên bảo được chúng nó.  Chúng nó chẳng cầu nguyện, chẳng đi thờ đi lễ nữa,  suốt ngày chúng chỉ lo kiếm tiền và vui chơi mà thôi”.

Tuy nhiên Dụ ngôn mà thánh sử Luca vừa thuật lại cho chúng ta lại mang đến cho chúng ta niềm hy vọng lớn lao.

Niềm hy vọng  thứ nhất  cho chúng ta thấy rằng chính khi đứa con bỏ nhà đi hoang thì hình ảnh của người Cha lại càng nổi bật.  Thiên Chúa chính là người Cha đầy lòng thương xót, nên Ngài luôn luôn tôn trọng sự chọn lựa của chúng ta, ngay cả khi sự lựa chọn này gạt bỏ Chúa ra khỏi đời sống. Như trong dụ ngôn, khi đứa con quyết định  bỏ nhà đi hoang, mặc dù Cha nó ước mong nó suy nghĩ lại nhưng ngài không ép buộc. Và khi nó quyết định trở về, Người Cha đã vui mừng khôn xiết, mở tiệc ăn mừng và tất mọi người cũng được mời chia sẻ niềm vui của người Cha. Trong sách Khải Huyền,  có đoạn đã mô tả hình ảnh rất đẹp về sự tôn trọng của Thiên Chúa đối với chúng ta như sau: Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta (Ap 3,20). Chúa chỉ gõ và đứng đợi trước cửa, chứ không bao giờ tự đẩy cửa vào vì Ngài tôn trọng tự do của chúng ta. Cho dù chúng ta có ích kỷ và thiếu tôn trọng thì Chúa vẫn luôn là người Cha đầy tràn tình thương, Ngài vẫn làm cho “mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương”; ngài vẫn trả một đồng cho những người làm công từ giờ thứ nhất và những người làm công vào giờ cuối cùng trong ngày. Ngài kiên nhẫn đợi chờ cho lúa và cỏ lùng cùng mọc lên cho tới vụ gặt. Vâng, ngài vẫn đứng đó chờ đón những đứa con đi hoang trở về.

Niềm hy vọng thứ hai là niềm hy vọng ngày của niềm vui mừng vì đứa con đi hoang trở về. Dù chúng ta có lo lắng vì có nhiều người trẻ “rời bỏ nhà Cha” thì dụ ngôn lại mở ra cho chúng ta cánh cửa của niềm vui vì một ngày kia những anh chị em vì lầm lạc bỏ nhà Cha sẽ trở về, và cả chúng ta nữa, chúng ta cũng trở về trong niềm mong đợi của Cha trên trời. 

Trở về Nhà Cha như người con thứ, đồng thời Cha chúng ta trên trời mời gọi chúng ta đừng cứng lòng như đứa con cả đã phản ứng và chối bỏ người em đi hoang trở về, nhờ đó chúng ta có thể quảng đại đón mừng những anh chị em có lòng hoán cải để tất cả chúng ta cùng xây dựng đời sống gia đình và đời sống cộng đoàn hiệp nhất và yêu thương trong tình thương của Thiên Chúa là Cha mỗi ngày một hơn. Amen.

Kiên nhẫn

Thực tế đời sống cho thấy khi một bất hạnh xẩy đến cho mình  hay cho một ai đó, thường người ta muốn tìm ra thủ phạm để quy án. Bản tính tự nhiên thúc đẩy con người thích kết án kẻ khác hơn là chính mình và an tâm về điều đó. Khi đổ lỗi và kết án người khác người ta tự cho mình ở trong thế giới của  những người tốt hơn họ.

Khi gợi nêu lên hai biến cố nóng hổi có tính thời sự, một do sự tàn ác của Philatô, một do tai nạn lao động, dẫn đến cái chết của mấy chục người Galilêa, người ta cũng muốn Chúa Giê-su kết luận rằng những người bị nạn này là những người tội lỗi nên bị Chúa phạt nhãn tiền. Nghĩ như thế người ta dễ nghĩ mình vô tội, vì còn được bình yên.

Vậy mạc khải của Lời Chúa hôm nay làm sáng tỏ những quan niệm lệch lạc của con người.

Trước hết là quan niệm về một Thiên Chúa thích trừng phạt và là tác giả của những thảm họa xẩy ra trong thế giới loài người. Thực tế thì niềm tin sai lạc này vẫn còn tồn tại trong lòng chúng ta. Cụ thể là mỗi khi có điều bất hạnh xẩy đến, nhiều người vẫn quy cho Thiên Chúa là tác giả, dường như là ngài can thiệp vào mọi chuyện đến nỗi người ta luôn thắc mắc: tôi đã làm gì sai mà Thiên Chúa để điều đó xẩy đến với tôi? Hay Thiên Chúa ở đâu mà lại để cho thảm họa động đất xẩy đến kinh khủng như thế?…

Khi tạo dựng vũ trụ, Thiên Chúa đã trao ban cho con người thế giới này, để quản trị,  làm chủ thiên nhiên và để thiết lập mối tương quan hài hòa với tạo vật. Tuy nhiên tội lỗi đi vào thế giới loài người đã làm mất đi trật tự ban đầu, gây nên những đổ vỡ và phá hủy. Nếu như vẫn còn những thiên tai, vẫn còn những bất hạnh trong đời sống con người và xã hội thì đó không phải là lỗi của Thiên Chúa bởi vì từ thủa ban đầu Thiên Chúa tạo dựng nên mọi sự đều tốt đẹp nên Ngài không phải là nguyên nhân của sự ác được.  Khi quân lính Philato tàn sát những người chống đối, khi 18 người lao động bị tháp Siloe đổ đè chết, thật là bất công khi người ta cho rằng đó là án phạt của Thiên Chúa.  Thực ra đó là kết quả tàn ác do con người gây ra, hay việc thi công ngọn tháp vì không đảm bảo an toàn tối thiểu đã gây ra tai nạn đau thương như thế. Tất nhiên đau khổ và sự ác vẫn là một màu nhiệm mà chúng ta chỉ có thể hiểu được qua Đức Giê-su, ngài đã biến đau khổ và sự ác thành niềm vui phục sinh.

Tiếp theo là quan niệm về án phạt khi cho rằng những người bị nạn là vì họ tội lỗi. Chúa Giê-su đã loại bỏ quan niệm sai lầm này và ngược lại lấy cái chết của những con người bất hạnh này làm chất liệu cho mọi người phải suy nghĩ về thân phận của chính mình, đi ra khỏi sự tự hào và an toàn giả tạo để luôn biết hoán cải tận căn: “nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy”.

Như trong câu chuyện người phụ nữ ngoại tình, Chúa Giê-su luôn luôn gửi tới thông điệp riêng của Ngài: “ai trong các ông sạch tội hãy ném đá người phụ nữ này trước đi”. Hôm nay, Chúa cũng gửi đến cho chúng ta thông điệp như thế. Trước khi kết án người khác, trước khi đổ tội cho Thiên Chúa, chúng ta hãy bắt đầu bằng việc nhìn lại chính bản thân chúng ta như lời Chúa Giê-su đã nói: bạn hãy lấy cái cái xà ra khỏi mắt bạn trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em.

Lời Chúa trong bài Tin mừng hôm nay soi sáng tâm hồn chúng ta như thế, thì sự đáp trả của tất cả chúng ta bây giờ là phải hoán cải  đời sống. Mỗi chúng ta cũng giống như cây vả trong dụ ngôn. Giả như hiện tại chúng ta đang trổ sinh ít hoa trái thì cũng thật là phúc cho chúng ta vì Thiên Chúa luôn kiên nhẫn và rủ lòng xót thương chưa cắt bỏ chúng ta đi mà quăng vào lửa. Thiên Chúa  như ông chủ vườn trong dụ ngôn đã kiên nhẫn chờ đợi tới ba năm để trông mong cây vả sinh trái.

Tuy nhiên điều quan trọng là chúng ta đừng lạm dụng sự kiên nhẫn và lòng thương xót của Thiên Chúa,  nhưng hãy lo biết làm sao cho cuộc đời mình trổ sinh  nhiều công phúc. Tuy Thiên Chúa là đấng có lòng kiên nhẫn nhưng một ngày kia thời gian chờ đợi sẽ kết thúc và chúng ta sẽ phải trả lẻ cho lối sống sa đọa của mình. Có thể cũng vào ngày này năm sau, sẽ có người trong chúng ta không còn nữa. Và có thể đối với một số người năm nay sẽ là năm cuối cùng của cuộc đời.

Như trong dụ ngôn cây vả, câu chuyện dường như chưa có kết luận. Chúng ta không biết điều gì sẽ xẩy đến với cây vả không sinh trái này: bị cắt bỏ hay tiếp tục để nó tồn tại. Số phận chúng ta cũng thế. Tương lai đang mở ra và cái gì xẩy đến với chúng ta đều tùy thuộc vào mỗi chúng ta.

Thiên Chúa đang trao ban cho chúng ta sự kiên nhẫn và tình thương của ngài, không phải là để chúng ta lười biếng, ỉ lại và không lo lắng, nhưng là thổi bừng lên niềm hy vọng và thúc đẩy chúng ta canh tân đời sống ngày từ bây giờ để có thể trổ sinh nhiều hoa trái của ơn phúc.

Mùa Chay là thời gian lý tưởng để chăm sóc cho cây sự sống tăng trưởng trong đời chúng ta. Cầu nguyện, chay tịnh và làm việc bác ái, đó là những phương thế có thể làm cho mảnh đất của đời mình thêm màu mỡ làm cho cây sự sống lớn lên mỗi ngày.

“Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó.  May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi”. Lời dụ ngôn  hôm nay, như là một lời nhắn nhủ chúng ta rằng Chúa Giê-su Ki-tô đang mời gọi tôi, mời gọi anh chị em biết tận dụng thời gian thuận tiện này,  thời gian mà Thiên Chúa ban cho chúng ta như là một quà tặng vô giá để biến đổi cuộc đời mình trong tình thương bao la của Thiên Chúa. Amen.

Biến đổi

Câu chuyện biến hình của Chúa Giê-su được kể vào chúa nhật II mùa chay hàng năm.

Việc Chúa Giê-su đã biến hình trước mắt ba môn đệ là Phêrô, Giacôbê và Gioan là để nhằm tới lợi ích cho các ông trong hành trình theo Chúa. Ba người môn đệ thân tín này cũng đã có mặt trong lúc Chúa cầu nguyện trong vườn Cây Dầu trước khi bị bắt.

Thực tế là ông Phêrô lúc đó cũng muốn dựng lên 3 cái lều, như muốn kéo dài giây phút cảm nghiệm ngất ngây thay vì lại bắt đầu hành trình xuống núi bước theo Chúa Giê-su. Phản ứng nhất thời của Phêrô muốn tận dụng lâu hơn khoảng khắc yên bình trên núi thực ra là một cám dỗ trốn tránh ơn gọi của niềm tin để sống trong cái tầm thường của bản thân. Điều này trái ngược với quyết định của Abraham, khi đó đã 75 tuổi, theo tiếng gọi của Chúa, ông đã rời bỏ quê hương, cha mẹ và nhà cửa để hành trình đến nơi mà Chúa chỉ định cho ông như nội dung bài đọc 1 mà chúng ta vừa nghe.

Trên chặng đường của Mùa Chay thánh, hay trên hành trình của đời sống mỗi ngày, chúng ta cũng cần trải qua những kinh nghiệm của sự kiện biến hình trước những khó khăn và thử thách, để theo Chúa Giê-su trong những lúc vui hay những lúc lao nhọc, và góp phần mình làm biến đổi thế giới xung quanh chúng ta.

Mỗi Thánh lễ chúa nhật có thể là một trạm dừng dễ chịu  với Chúa Giê-su trên núi. Nhưng mỗi lần thánh lễ kết thúc, mỗi chúng ta cần quay lại với cuộc sống thường ngày. Chúa Giê-su ban cho chúng ta sự can đảm cần thiết khi nói với chúng ta cũng như khi xưa nói với các tông đồ rằng: “ hãy trỗi dậy, và đừng sợ”. Hãy tin vào thầy vì thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế. Nhờ đó mà chúng ta yên tâm xuống núi để thực thi ơn gọi và công việc bổn phận của mình.

Hôm nay chúng ta đang sống trong thời đại mà mọi người tìm kiếm những gì là hoàn hảo trong thế giới vật chất với những quảng cáo mang lại hạnh phúc: với những đồ ăn thức uống hảo hạng, các loại thuốc bổ, các loại sơn hào hải vị, các siêu xe, du thuyền, nhà đẹp… Còn Đức Ki-tô lại đề nghị với chúng ta điều hoàn thiện trong tiến trình của những con người sống đức tin. Để đạt được sự hoàn thiện trong đời sống, chúng ta cần làm việc chuyên cần, sống kỷ luật và ý thức. Các sinh viên học sinh, các nghệ nhân, các nhà vô địch thể thao biết rõ điều này. Đó cũng là điều đối với những ai muốn trở nên tốt hơn. Mỗi chúng ta phải xuống núi, trở về với những đòi buộc thường ngày và làm việc không ngơi nghỉ để đáp lại đòi hỏi của thời đại hôm nay.

Khi Chúa gọi, ông Abraham đã 75 tuổi (tuổi về hưu, tuổi nghỉ ngơi)! Ở tuổi này, nhiều người nghĩ là họ đã biết rõ, đã  từng trải qua tất cả những kinh nghiệm có thể và họ không cần chờ đợi gì mới. Abraham lại được ví như “ Gừng càng già thì lại càng cay”, vâng,  Ông đã ra đi, tiến về vùng đất mới mà ông không hề biết, đã đi theo một cách thức sống khác biệt, đi về một hướng xa lạ…Hành trình của ông đầy tràn hy vọng và tin tưởng vào Chúa, đấng đã chỉ đường cho ông.

Không nên phân biệt tuổi tác để hoàn thiện mình, nhằm khám phá ra vùng đất mà Chúa chỉ định cho mỗi chúng ta kính thưa… Tuy vậy lại có quá nhiều người hài lòng về một đời sống tầm thường, phản ứng tiêu cực mỗi khi có cơ hội: kiểu như tôi chỉ như vậy thôi và tôi quá già để thay đổi.

Tác giả Antony de Melo kể câu chuyện rằng: Có một nhà giáo dục nổi tiếng người Pháp đã tâm sự về cuộc đời của ông như sau: Khi còn trẻ, tôi có tinh thần cách mạng và mỗi khi cầu nguyện, tôi luôn cầu xin Chúa một điều là: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi thế giới này”.

Khi đã lớn tuổi và nhận thấy gần quá nửa đời người trôi qua mà tôi không thay đổi được một người nào hết, nên tôi đã thay đổi lời cầu nguyện của tôi như sau: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi những người trong gia đình của con.”

Giờ đây tôi đã già và những ngày còn lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay, nên lời cầu nguyện của tôi lại được thay đổi một lần nữa như sau: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi chính mình con.”

Và ông kết luận: “Nếu tôi biết cầu nguyện như thế này từ ngày còn trẻ thì tôi đã không uổng phí cả cuộc đời.”

Với Thiên Chúa, không quá muộn để thay đổi lối sống, để trở nên tốt hơn. Trong Tin mừng, chúng ta gặp nhiều gương mặt cho thấy họ đã tạo nên câu chuyện biến đổi cho chính cuộc đời mình. Đó là câu chuyện của các người làm công giờ cuối cùng trong ngày, câu chuyện của ông Gia kêu, của tên trộm lành, của bà Maria Madalena, của ông Nicođêmô mà chúng ta đọc trong Tin mừng.

Sự chiêm ngưỡng vinh quang thoáng qua mà Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan có trên núi Thabor đã để lại một kỷ niệm luôn mãi trong đời sống các ông. Và các ông sẽ kể lại trong nhiều dịp sau biến cố phục sinh như tông đồ Phêrô sau này làm chứng rằng: “không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là vì chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Đức Ki-tô”.

Vậy yếu tố nền tảng của bài Tin mừng hôm nay là lời Chúa Cha nói: Đây là Con Ta yêu dấu, các người hãy vâng nghe lời Người”. Hành trình đời sống ki-tô hữu hệ tại ở việc lắng nghe Lời Chúa Giêsu, và để cho Lời Ngài vang vọng trong tâm hồn, nhờ đó mà được biến đổi. Mỗi tín hữu chúng ta là những người đang để mình lắng nghe, bằng việc chú ý nghe Lời Chúa Ki-tô, với sự nghiêm túc và để cho lời Chúa trở nên hiện thực trong đời sống mỗi chúng ta.

Mỗi Chúa nhật, qua bí tích Thánh Thể, chúng ta cùng hội họp  để lắng nghe Lời Chúa Cha vang vọng thêm một lần nữa: Đây là Con Ta yêu dấu, các người hãy vâng nghe Lời Người.  Xin cho Lời Đức Ki-tô thấm nhập vào tâm hồn chúng ta và biến đổi chúng ta nên những người con yếu dấu của Cha trên trời. Amen.

Scroll to Top