Chinhtoa church

Cha ngươi thấu suốt mọi bí ẩn

Mùa Chay bắt nguồn từ thế kỷ thứ IV với ý nghĩa là thời gian chuẩn bị đón mừng đại lễ Phục Sinh. Trong ý nghĩa này mà Mùa Chay nhắm tới 2 mục tiêu:

  • chuẩn bị cho anh chị em dự tòng đón nhận bí tích thánh tẩy trong đêm vọng phục sinh
  • và là thời gian để các ki-tô hữu làm mới lại lời hứa khi chịu phép thanh tẩy.

Bắt đầu từ thế kỷ thứ 8, việc xức tro mới được đưa vào cử hành phụng vụ như là dấu chỉ thống hối cộng đồng. Đây là biểu tượng đến từ trong Cựu Ước. Khi đó vào đầu Mùa Chay, các ki-tô hữu nhìn nhận những tỗi lỗi mình khi xức tro lên đầu và cách tượng trưng họ bị trục xuất khỏi nhà thờ. Hành vi này trong một ý nghĩa nào đó, là hành vi mà Thiên Chúa đã đuổi ông bà nguyên tổ Adam và Eva ra khỏi vườn địa đàng, sau khi mà hai ông bà đã bất tuân phục Thiên Chúa ăn trái cây Chúa cấm. Nhưng tín hữu này sau một thời gian cầu nguyện, ăn chay và hối cải sẽ được gia nhập lại với cộng đoàn ki-tô hữu.

Vào thời Trung cổ, việc xức tro lại mang một ý nghĩa khác: nó nói lên thân phận mỏng dòn và ngắn ngủi của phận người, như lời ca: “người ơi hãy nhớ người là bụi tro, ngày mai người sẽ trở về bụi tro.” Vậy hình ảnh bụi tro nối kết với sự chết và nấm mồ. Đó cũng là hình ảnh quen thuộc đối với mỗi chúng ta hôm nay.

Ý nghĩa ban đầu của Mùa Chay là thời gian sám hối và đền tội, đã có vào thế kỷ thứ 8, bây giờ vẫn còn hiệu lực. Con người là tro bụi, là hình ảnh của thân phận con người xa cách Thiên Chúa, từ chối mối liên hệ với Ngài và bước vào con đường của sự chết. Thân phận tro bụi là thân phận của những ai đối lập với Chúa, quay lưng lại với Chúa như Adam và Eva, như đứa con bỏ nhà đi hoang.

Tuy nhiên, trong con đường thảm thương của sự xa cách như thế, người ta vẫn có cơ hội quay trở về cội nguồn của mình. Vậy mỗi chúng ta được mời gọi trở về với Chúa vì Ngài luôn giang rộng vòng tay đón tất cả những ai trở về. Trong ý nghĩa đó mà mỗi chúng ta được mời gọi trong Mùa Chay này xây dựng đời sống mình trên ba trụ cột của đời sống thiêng liêng do thái giáo: đó là cầu nguyện, chay tịnh và bố thí.

Cầu nguyện: đối với người do thái thời Chúa Giê-su là ba lần mỗi ngày: 9h00, 12h00 và 15h00. Như trong kinh phụng vụ, vẫn có các giờ kinh theo thời khắc như thế. Cầu nguyện với thời khắc các giờ trong ngày giúp cho cầu nguyện đi vào hoạt động thường ngày. Nó cho phép người ta tiếp xúc đều đặn với Chúa và khám phá ra thánh ý của Ngài. Vậy Mùa chay là thời gian mời gọi chúng ta tái khám phá thói quen cầu nguyện qua những thời khắc trong ngày như thế.

Ăn chay: như cầu nguyện, ăn chay giữ một vị trí trong đời sống thiêng liêng, không phải giúp chúng ta giảm ki-lô-gam, nhưng là để giải phóng chúng ta khỏi bản năng chiếm hữu và thu tích vô ích. Ăn chay cũng nhắc chúng ta rằng sinh ra trần trụi thì ra đi cũng trần trụi chẳng có gì. Chúng ta chẳng mang theo xuống nấm mồ tất cả những của cải mà chúng ta cố gắng thu tích.

Bố thí: là cột trụ thứ ba của đời sống thiêng liêng do thái giáo. Bố thí là một phương thế bắt chước lòng quảng đại của Thiên Chúa, đặc biệt là dành ưu tiên cho những người túng thiếu. Như Thánh Mát-thêu nói trong Tin mừng, chúng ta sẽ bị xét xử về việc chia sẻ cho tha nhân của cải, thời gian và tài năng: khi ta đói các người đã cho ta ăn, khi ta mình trần, các người đã cho mặc, khi ta đau yếu và ở tù các người đã đến viếng thăm ta…Mỗi chúng ta được mời gọi chia sẻ không chỉ tiền bạc, nhưng còn chia sẻ điều quý hơn mà chúng ta có: như tình yêu, lòng bao dung, sự cảm thông và tha thứ.

Trong Kinh thánh, bố thí luôn luôn gắn kết chặt chẽ với ăn chay, như ngôn sứ Isaia nói rõ, chay tịnh “Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục?”

Thời gian mùa chay là thời gian lý tưởng để nuôi dưỡng đức tin bằng nguồn mạch là ba trụ cột thiêng liêng: cầu nguyện, chay tịnh và bố thí.

Trong lịch sử Giáo Hội, Mùa chay luôn được trình bày như là một mùa xuân mới, như một thời kỳ đổi mới. Đó không phải là thời gian của buồn sầu nhưng là của niềm vui sâu sa vì chúng ta được Thiên Chúa đón nhận, tha thứ và yêu thương. Mùa chay mang lại cho chúng ta niềm hy vọng mà nhiều khi niềm hy vọng này bị che lấp bởi bệnh tật, những điều không may mắn, hay những bất hạnh đủ loại. Vâng, mỗi chúng ta hôm nay được mời gọi tái khám phá tình thương của Thiên Chúa trong cuộc đời mình. Và như thế Mùa Chay chính là Mùa Xuân của Chúa gửi đến cho tất cả chúng ta. Amen.

Cây tốt sinh trái tốt

Chúng ta vừa nghe những lời khuyên răn mà Chúa Giêsu gửi đến cho đám đông, bằng các dụ ngôn, khuyến cáo, phản ảnh và tiên báo.

Và ngay lập tức chúng ta bị đánh động bởi cách thức đa dạng bên ngoài cũng như là những chủ đề mà Chúa Giêsu đề cập trong suốt tường thuật. Mỗi đoạn tường thuật lại cho thấy sự khai triển phong phú, nhưng phải chăng không có một lời dạy chung làm nền tảng để mà đón nhận hay sao? Thưa lời dạy chung đó là:

  • Người muốn là chứng nhân Tin mừng và chia sẻ nó cho người khác thì cần phải tự mình nhận biết Tin mừng. Người đó cần phải có ánh sáng soi dẫn, không đi trong tăm tối, để không đẩy người khác vào trong vực sâu tăm tối.
  • Người tuyên bố mình là thầy thì phải có một uy quyền và một kinh nghiệm tương ứng cho phép ông đáp ứng nhu cầu của các môn sinh và những ai khao khát sự thật sẽ đến với ông.

Tuy nhiên, điều tiên là nếu ông không thanh lọc những điều tuyệt vời nhất mà ông có thể nói, những hành động anh hùng nhất và ông có thể thực hiện, thì những điều đó sẽ là vô bổ, thậm chí là đáng bị nguyền rủa. Cũng như là hoa trái của một cây bị sâu, ông sẽ làm hư hỏng những người lắng nghe ông.

Nhưng làm sao để trở thành một cây tốt? Đó là câu hỏi cần được trả lời. Có phải là giống như một loại mô hình mà người ta đã đục đẽo sẵn hay như một tiến trình đã được thiết lập cẩn thận không? Thưa không giống như thế.

Các môn đệ chân chính như chính Chúa Giêsu nói đó là những người biết “ trước hết biết kiếm tìm Nước Trời và sự công chính của Ngài”, có nghĩa là phải từ bỏ mình như là trung tâm và điều khiển hết mọi sự. Các môn đệ này phải trở nên những người bắt chước Chúa, như Chúa nói với chúng ta trong Tin mừng Chúa nhật tuần trước: “ Anh em đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán…Anh em hãy tha thứ để được tha thứ…Anh em hay cho để được cho lại”.

Vậy chủ đề mà chúng ta quan tâm lúc này, là chúng ta hiểu được những lời khuyên bảo của Chúa có giá trị đến mức nào.

Lời chúng ta nói sẽ được dùng để liên lạc với những người khác. Thông qua những lời nói này mà người ta biết chúng ta có thực sự là những chứng nhân của Nước trời hay không, hay chúng ta chỉ là những con vẹt lặp đi lặp lại các nguyên tắc lôi cuốn.

Do đó chính chất lượng của lời nói với sự bình an nội tâm, với tình yêu thương thực sự của mọi người mà lời nói phản ảnh chính chúng ta, và chúng ta sẽ có thể biết chúng ta đã trở nên cây tốt sinh trái tốt, cũng như chúng ta đã để cho Thiên Chúa tự do thanh lọc và làm cho chúng ta trở nên những người con cái Nước Trời, giúp cho anh em vào được Nước Chúa.

Nguyện xin Thiên Chúa hằng sống trong Bí tích Thánh Thể củng cố đức tin của mỗi chúng ta qua Lời của Ngài và làm cho chúng ta biết sống Niềm Vui Nước Trời và sử dụng chúng ta trở nên khí cụ đưa các anh em chúng ta đến với Chúa. Amen.

Yên thương kẻ thù

Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy một hình ảnh tuyệt đẹp về Thiên Chúa, một Thiên Chúa đầy lòng thương xót, dịu hiền, bao dung. Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta khuôn mặt của Chúa Cha, Đấng đã không sai con mình xuống để phán xét nhưng là để tha thứ. Chúa Giêsu đã tha thứ cho Maria Mađalena, cho ông Gia kêu, cho người phụ nữ ngoại tình, cho đứa con hoang đàng, cho người phụ nữ Samaria, cho ông Phêrô, cho tên trộm lành trên thập giá, cho các người làm công lúc cuối ngày, cho những người kết án tử Chúa.

Sau khi mạc khải về tình thương cao vời như thế, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta cũng hãy biết biết hành động như Ngài: “ Anh em hãy có lòng thương xót như Cha trên trời là đấng đầy lòng thương xót”.

Điều làm nên luân lý kitô giáo không phải là yêu, bởi vì luân lý tự nhiên cũng yêu cầu điều đó, nhưng còn ở bậc cao hơn, đó là yêu thương kẻ thù của mình. Một tình yêu ‘tứ hải giai huynh đệ” không miễn trừ cho bất cứ ai. Thực tế là đối với các ki tô hữu chúng ta, không luôn hoàn hảo hơn những người khác. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đề nghị chúng ta khác với mọi người khi mà “yêu thương những người không thương yêu mình”.

Phản ứng đầu tiên đối với đoạn Tin mừng hôm nay có thể sẽ là: “ Nhưng tôi lại không có kẻ thù”. Thực tế trong đời sống có nhiều điều làm cho tôi khó chập nhận được họ. Đó là có nhiều người làm cho tôi lo lắng, làm cho tôi khó chịu… khi mà họ có những lối sống khác trong sinh hoạt hằng ngày như cách ăn mặc, các giải trí hoặc những điều khác. Thế rồi trong đời sống, có không ít người không cùng chủng tộc, không cùng tầng lớp xã hội, không cùng văn hóa, tôn giáo…Nhưng Chúa Giêsu lại yêu cầu chúng ta yêu mến những người chỉ trích mình, những người không cùng quan điểm với mình. Điều quan trọng là đừng bao giờ để xẩy ra tình trạng đối đầu với nhau cũng như là hận thù với nhau.

Trong dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu, Chúa Giêsu dạy phải yêu thương người thân cận nhưng Ngài không cho thấy người bị thương thuộc tầng lớp xã hội nào, thuộc quốc gia nào, thuộc tôn giáo nào…Lòng thương xót và dịu hiền phải được dành cho mọi người không phân biệt bạn hay thù.

Để có thể hành động nhưng là những người con cái Chúa, Chúa hứa ban cho chúng ta một quả tim mới: Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt” (Ed 36, 26 – 28).

Vào ngày 30 tháng 1 năm 1956, mục sư Martin Luther King, Jr. trở về nhà sau một cuộc họp và nhìn thấy nhà của mình đã bị đánh bom trong khi vợ và con của ông đang ở trong đó. Đám đông đầy giận dữ đã tràn ra sân trước đi tìm thủ phạm. Sau một lúc, Tiến sĩ King bước ra và phát biểu trước đám đông. Đây là những gì ông ấy nói: “Chúng tôi không ủng hộ bạo lực. Chúng ta phải yêu kẻ thù của mình. Những gì chúng ta đang làm là đúng đắn, và Chúa sẽ ở với chúng ta.” Thực vậy, với cách hành xử đó, Ông mục sự Martin Luther Kinh đã để cho Chúa ban tặng cho ông một quả tim bằng thịt để biết yêu thương và tha thứ.

Chúng ta cùng đọc lại thánh vịnh trong thánh lễ để gợi lên cho mỗi chúng ta sự cảm nhận sâu sa tình thương của Chúa và mời gọi chúng ta noi gương Chúa: CHÚA là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương, chẳng trách cứ luôn luôn, không oán hờn mãi mãi. Người không cứ tội ta mà xét xử, không trả báo ta xứng với lỗi lầm (Tv 102, 8 – 10).

Nhận biết Chúa

Điều gì đã xẩy ra với Chúa Giê-su tại làng Nagiaret cách đây hơn hai nghìn năm?  Theo tường thuật của bài Tin mừng,  thì điều xảy ra với Chúa Giê-su được sánh ví như một cuộc lỡ hẹn giữa  Ngài với dân làng Nagiaret, bởi vì ngay sau khi loan báo sứ mạng của mình, Chúa Giê-su đã bị dân làng chống đối và xua đuổi.

Thực ra thì những gì xẩy ra tại làng Nagiarét cũng là những điều xẩy ra mỗi ngày trong thế giới hôm nay.

Thiên Chúa vẫn đang ngỏ lời với con người nhưng cũng bị con người từ chối và xua đuổi. Chúng ta có thể nói tội lớn nhất của nhân loại hôm nay là đã từ chối Thiên Chúa.

Vậy thì đâu là phương thế để giải thích hiện tượng đau thương này, khi mà người ta lại có thể đang tâm trục xuất Chúa ra khỏi quê hương bản quán, ra khỏi chính cuộc sống của họ? Tại sao Chúa lại xuất hiện giống như là một kẻ gây rối để rồi người ta phải đuổi Chúa đi như thế?

Câu trả lời là vì con người không nhận biết Thiên Chúa, không sống yêu thương để nhận ra sự hiện diện của Ngài. Vậy thì  chúng ta cần phải học nhận biết Chúa, để mọi nơi mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh của đời sống mỗi người không còn vắng bóng Chúa nữa. Xin đề nghị ba sự nhận biết sau:

  1. Nhận biết thứ nhất, đó là sự nhận biết Thiên Chúa đang hiện diện trong cuộc sống mỗi ngày.

Những người đồng hương với Chúa Giê-su không chấp nhận Chúa vì họ mong chờ những điều kỳ diệu Chúa sẽ làm cho họ như đã làm ở toàn cõi Galilea: “ ông hãy làm những phép lạ ngay tại đây như là những phép lạ mà ông đã làm ở Capharnum”, đó chính là điều họ muốn. Họ chờ đợi Chúa biểu lộ vinh quang và uy quyền của Chúa trước mặt họ…

Thế nhưng, Chúa Giê-su lại đang ở trước họ cách tầm thường như lời người dân Nagiaret bàn tán với nhau: ông ta không phải là con bác thợ mộc Giuse sao? Câu nói tỏ vẻ coi thường Ngài, như muốn nói rằng anh Giê-su này chẳng phải là anh thợ mộc, con ông bà Giuse và Maria mà chúng ta gặp hàng ngày đó sao, có gì lạ đâu mà phải bận tâm chứ!

Tuy nhiên, chính từ cái bình thường của bác thợ mộc Giê-su mà sức mạnh Thánh Thần được biểu lộ.  Và thật thế quyền năng của Thiên Chúa đang thể hiện qua những gì là tầm thường của đời sống mỗi ngày.  Nên chúng ta không ngạc nhiên khi vẫn có nhiều người chẳng coi trọng thánh lễ ngày Chúa nhật, chẳng màng chi tới các bí tích, chẳng để ý gì đến sự hiện diện của Chúa trong đời sống, mặc dù  Chúa vẫn có đó trong nhà ngoài phố, trong các sinh hoạt tại các công sở làm việc, trường học hay tại mỗi gia đình giống như gia đình thánh gia tại Nagiaret khi xưa…và họ chẳng nhận ra Ngài.

  • Nhận biết thứ hai là nhận ra Thiên Chúa là Tình yêu cứu độ

Qua các đoạn văn Tin mừng, chúng ta biết rõ  Thiên Chúa không muốn tỏ hiện ra như là một vị thần của chiến tranh đánh đông dẹp bắc, chiến thắng kẻ xấu bằng sức mạnh vũ lực. Ngài chỉ muốn là một Thiên Chúa của những người nghèo đến cứu vớt những tội nhân. Và như thế Ngài không phải là hình ảnh mà con người trần thế mong đợi tý nào nhưng chương trình của Ngài là như thế.

Thực tế là Chúa không muốn dùng sức mạnh của phép lạ để bắt những người vô thần tin theo Ngài. Nhưng một cách khiêm nhường, ngài đến để đem Tin mừng cho những kẻ nghèo khó, giải phóng những kẻ bị tù đày, chữa lành những người bệnh tật v.v…đó chính là sứ mạng của Chúa Giê-su, là sự tỏ hiện của Ngài.

Chính vì thế mà nếu chúng ta không  nhận ra Ngài trong các hoạt động như vậy thì chúng ta sẽ không thể đón nhận được Chúa và chính chúng ta cũng giống như dân làng Nagiaret khi xưa chối bỏ và xua đuổi Chúa mà thôi.

  • Nhận biết thứ ba là nhận ra Tình yêu Thiên Chúa chính là Tình yêu có tính phổ quát.

Khi yêu cầu Chúa Giê-su: “ Vậy ông hãy làm những phép lạ tại đây”, tức là bà con đồng hương của Chúa Giê-su muốn giới hạn sứ mạng của Ngài, muốn giữ riêng Ngài cho họ.  Nhưng Chúa Giê-su lại hướng tới toàn thể nhân loại. Ngài nói với họ rằng hồng ân của Chúa không chỉ dành riêng cho dân Israel mà thôi nhưng là cho toàn thể thế giới. Để chứng mình tình yêu phổ quát của Thiên Chúa, Ngài đã trưng dẫn cho họ những câu chuyện trong Kinh Thánh cho thấy ân sủng của Thiên Chúa được dành cho cả dân ngoại như bà góa thành Sarepta ở Siđôn đã được ngôn sứ Elia trợ giúp, hay viên sỹ quan ngoại giáo Naaman được Chúa lành bệnh cùi…

Nếu Chúa Giê-su bị chối bỏ ở Nagiaret, chẳng qua là vì những người ở đây chờ đợi những điều lạ lùng và không chấp nhận một Thiên Chúa khiêm nhường và ẩn mình, hay một Thiên Chúa dành cho tất cả mọi người. Họ muốn một Thiên Chúa thỏa mãn ý riêng của họ và chỉ dành riêng cho họ mà thôi.

Ngày xưa có người chối bỏ Chúa và hôm nay cũng vậy, vẫn có nhiều người không đón nhận Chúa chỉ vì Ngài hiện diện quá tầm thường và không thỏa mãn ước vọng ích kỷ của họ để chỉ thuộc về họ.

Chúa Giê – su đã bị xua đuổi và chống đối ở Nagiaret là hình ảnh của những ai lựa chọn Ngài, đi theo Ngài và trở nên môn đệ của Ngài bởi vì chính Ngài đã báo trước cho họ: Tôi tớ không trọng hơn chủ, nếu người ta bách hại thầy, người ta cũng sẽ bách hại chúng con.

Tin mừng hôm nay buộc chúng ta phải tự hỏi cho chính mình rằng:

Nếu tôi không bị ghét bỏ như Chúa Giê-su tại Nagiaret khi xưa, phải chăng là do tôi đã đồng hóa mình với lối sống thế gian để không còn đặt vấn đề cuộc đời mình với Chúa nữa? Nếu tôi theo trào lưu sống tục hóa dễ dãi, thì thật rõ rằng rằng tôi sẽ có rất ít những chồng đối?

Vậy, làm chứng cho sự hiện diện của Chúa là ơn gọi và là sứ mạng của mỗi người tín hữu chúng ta. Xin cho chúng ta luôn can đảm nói điều Chúa muôn nói, và nói nhân danh Chúa, cho dù có phải bị chống đối và xua đuổi. Xin cho chúng ta luôn xác tín rằng : Chúa đầy quyền năng cả nhưng cũng rất giàu lòng xót thương, luôn dẫn dắt chúng con từ những hố sâu của tăm tối đến những nẻo đường chan hoà ánh sáng, tràn đầy hy vọng, nhờ đó, cuộc đời chúng con được tràn đầy niềm vui mừng và bình an trong tình yêu thương của Chúa. Amen.

Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước

Bài Tin mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta biến cố Chúa Giê-su trở về làng Nagiaret, quê hương của Ngài, và với những gì xẩy ra tại hội đường Nagiaret như chúng ta vừa nghe trong bài Tin mừng, Chúa Giê-su dường như đề nghị với mỗi chúng ta về một cách tiếp cận mới vào sự ứng nghiệm của Lời Chúa.  Thay vì hỏi chúng ta đoạn sách vừa nghe có thật hay không thì Chúa lại gợi ý đặt câu hỏi theo cách khác: câu hỏi là “Lời Chúa có thể trở thành hiện thực trong đời sống mỗi ngày của chúng ta hay không?”

Chúng ta thấy, sau khi đọc đoạn sách thánh của ngôn sứ Isaia, Chúa Giê-su đã bỏ sách xuống và loan báo với mọi người cách long trọng: hôm nay ứng nghiệm lời các người vừa nghe.

Như thế là Chúa Giê-su đã làm cho lời sách thánh trở nên sống động và hiện tại hóa. Nếu chúng ta đọc đoạn tường thuật xẩy ra trước biến cố Chúa trở về Nagiaret, chúng ta đã thấy thánh sử Luca viết về danh tiếng của Chúa, ai nấy đều kính nể khi nghe Chúa giảng dạy. Điều này chứng tỏ là Chúa Giê-su đã thực thi sứ mạng cứu độ bằng lời giảng dạy đi kèm với hành động biểu lộ tình thương qua việc trừ quỷ, chữa lành bệnh tật…hơn thế nữa Chúa đã đi đến mọi ngõ ngách, ưu tiên gặp gỡ và tiếp xúc với mọi hạng người, đặc biệt ưu tiên những người cùng khổ để chữa lành và làm cho kẻ mù lòa được sáng mắt, cũng như loan báo hồng ân cứu độ. Tất cả những hành động nghĩa hiệp đó chứng minh cho lời của Chúa sau khi đọc đoạn sách thánh của ngôn sứ Isaia: hôm nay ứng nghiệm lời anh chị em vừa nghe.

Qua lời Chúa hôm nay, dường như Chúa Giê-su tiếp tục chất vấn chúng ta là: đoạn Tin mừng này có trở nên ứng nghiệm trong đời sống chúng ta mỗi ngày hay không?  Trong một thế giới đầy rẫy những hoài nghi và bất toàn hôm nay, có nhiều nẻo đường trong đời sống giúp cho Lời Chúa trở nên sống động và hiện thực trong đời sống chúng ta.

Cụ thể là, nếu chúng ta sống tinh thần của bài Tin mừng về người phụ nữ ngoại tình mà nghiêm túc thực hiện lời Chúa Giê-su : « nếu ai trong anh em sạch tội thì hãy ném đá người phụ nữ này trước đi », thì chúng ta sẽ biết tránh xa những người đang triệt hạ danh tiếng người khác bằng những lời nói xấu và vu khống. Nếu sau khi đọc dụ ngôn người con hoang đàng mà chúng ta  quyết định biến đổi con tim chai đá của chúng ta thành con tim bằng thịt  thì chúng ta đã đáp trả lời mời gọi của Chúa Cha đi vào dự tiệc cưới nước trời bằng việc hòa giải với những anh chị em đang có những bất hòa với mình.  Nếu chúng ta hiện tại hóa trong đời sống câu chuyện Chúa Giê-su chữa lành người phong cùi  và giúp anh gia nhập lại vào cộng đồng xã hội,  thì chúng ta sẽ không quản ngại đón tiếp và gần gũi với những người thuộc các thành phần bên lề xã hội.  Vâng, chúng ta hãy bắt chước Cha trên trời, người đã trao ban con một của mình không phải để luận phạt nhưng là để cứu rỗi.

Rất thường xuyên trong thánh lễ ngày Chúa nhật, chúng ta nghe những bài đọc sách thánh cách thờ ơ và uể oải, đôi khi nghe tại này lại lọt qua tai kia, là bởi vì có thể chúng ta nghĩ rằng trong sách thánh toàn là những chuyện cổ lỗ sỹ của người xưa cách đây hai hoặc ba nghìn năm, chẳng ăn nhập gì tới cuộc sống hôm nay thì quả là Lời Chúa đang rơi trên đá sỏi chỉ để cho chim trời đến ăn mất mà thôi.

Lời Chúa là « một nguồn nước hằng sống không bao giờ cạn », và những ai đã một lần uống thứ nước này thì  sẽ không bao giờ khát nữa.

Sự ứng nghiệm Lời Kinh Thánh của Chúa Giê-su trong hội đường Do thái khi xưa tại làng Nagiaret luôn  mời gọi chúng ta hôm nay hãy biết làm cho Lời Chúa trở nên sống động và hiện thực trong cuộc sống mỗi ngày. Lời Chúa có là sức sống, là ánh sáng, là niềm vui mừng và hy vọng là hạnh phúc cho đời sống chúng ta hay không là tùy thuộc vào sự quảng đại của mỗi người chúng ta. Amen.

Scroll to Top