Đời sống cầu nguyện

Thiếu vắng tình thương

Đoạn Phúc âm hôm nay là đoạn đáng sợ nhất trong các đoạn sách Tin mừng, bởi vì nó đề cập tới sự sống và sự chết đời đời. Nếu Thiên Chúa không tồn tại, nếu sự sống vĩnh cửu không có, thì Chúa Giê-su thật sai lầm khi kể dụ ngôn này. Nhưng nếu Thiên Chúa có đó, nếu sự sống vĩnh cửu là hiện thực thì Chúa Giêsu quả là đang nói với chúng ta một chuyện rất nghiêm túc là làm thế nào để đạt được sự sống ấy.

Chuyện rất nghiêm túc này, đó chính là nội dung dụ ngôn mà chúng ta vừa nghe đọc. Để hiểu rõ dụ ngôn, điều quan trọng là khám phá nhân vật trung tâm của dụ ngôn. Nhân vật trung tâm không phải là anh Lagiarô nghèo khó, cũng không phải là 5 anh em nhà phú hộ …mà chính là “ông phú hộ giàu có, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”.

Nếu đọc chăm chú dụ ngôn, chúng ta có thể thấy Chúa Giê-su không lên án sự giàu có nhưng Ngài lưu ý rằng: giàu có sẽ dễ làm cho người ta trở nên vô cảm”. Như ông phú hộ thỏa mãn tận hưởng sự xa hoa nên không còn nhìn thấy con người khốn khổ bên ngoài, mụn nhọt đầy mình, đang nằm trước cửa nhà ông.

Trong dụ ngôn, ta không thấy nói tới người nghèo là người đạo đức, cũng không nói người phú hộ là trụy lạc. Ông phú hộ không bị lên án là người áp bức anh nhà nghèo Lagiarô, hay quỵt lương anh ta, cũng như không đối xử tệ bạc với anh, hay khai thác anh…chỉ có mỗi một điều đáng nói ở đây là ông nhà giàu đã không để mắt tới anh nhà nghèo. Ông ta đã dựng lên một hố sâu giữa ông và anh nhà nghèo đau yếu.

Của cải vật chất, sự giàu có xa hoa thường che mắt nhiều người làm cho họ không thấy được nỗi thống khổ của người khác, cũng như không nhìn thấy thân phận bất toàn của phận người. Đại văn hào Nga Marxim Gorky đã từng quan niệm: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi thiếu vắng tình thương”

Nhiều người đang sống trong một tình trạng bị tê liệt về đời sống thiêng liêng. Các giá trị phúc âm không còn có ảnh hưởng trong đời sống của họ. Như Chúa Giê-su nói, “dù kẻ chết có hiện về thì họ cũng chẳng nghe”. Sự giàu có và các đặc quyền đặc lợi, đã đào lên một hố sâu ngăn cách họ với Thiên Chúa, giữa họ với những ai đang chịu đau khổ.

Dụ ngôn người phú hộ giàu có hôm nay còn cho thấy : Sự phán xét không đến vào cuối đời người. Nhưng chính ở giây phút hiện tại này mà nó xảy đến. Chính lúc này mà chúng ta liên đới với những người đang cần đến sự giúp đỡ, hay chính lúc này mà chúng ta đang đào lên những hố sâu ngăn cách giữa chúng ta với họ. Ông phú hộ đã có phương tiện để giúp đỡ anh Lagiarô mà ông đã không làm. Đó là lỗi của ông. Bản án dành cho ông là một sự chuẩn nhận những gì ông đã làm trong đời ông vì vào ngày chung thẩm Vị Thẩm Phán tối cao sẽ ban thưởng hay xử phạt dựa theo những gì mà người ta đã làm hay không làm cho tha nhân trong suốt cuộc đời họ.

Ông phú hộ trong dụ ngôn đã đánh mất cơ hội thực tiễn đó…và lúc này thì đã quá muộn. Ông đã trải qua đời mình cách vô ích, trong quần áo lụa là và yến tiệc linh đình, với những lễ hội xa hoa. Ông đã hoàn toàn quên mất sự liên đới cần phải có với người khác! “ Cho tới cuối đời, tất cả cái mà ta sẽ có thể mang theo, là những gì đã được chia sẻ với những người đang cần đến”.

Dụ ngôn hôm nay  còn dạy một bài học khác: đó là không được chểnh mảng với Lời Chúa.

“Nếu con biết, con đã làm cách khác”; “Lạy tổ phụ Abraham, xin làm ơn sai một người đến với 5 anh em con …”, đó là những câu nói đầy khẩn khoản nài xin của ông phú hộ. Và Chúa đã trả lời ông ta: “Con và các anh em con phải biết là …có Maisen và các Ngôn sứ, có Amos và Đức Giê-su, có Tin mừng. Nếu ông phú hộ đã biết lắng nghe điều mà Chúa Giê-su đã nói, ông đã trở nên Người Samaria nhân hậu rồi. Lời Chúa trong tầm tay mọi người. Nếu chúng ta từ chối không nghe Lời này, các phép lạ cũng chẳng giúp gì chúng ta. “ Dù kẻ chết có hiện về báo mộng, họ cũng chẳng sám hối, chẳng canh tân đời sống đâu”. Như sự phục sinh của Lagiarô, người em của hai chị em Mattha và Maria, cũng chẳng thuyết phục được các biệt phái và thượng tế, để rồi họ vẫn quyết định giết Chúa Giê-su.

Ngôn sứ Maisen và các ngôn sứ đã nhắc đi nhắc lại trong sứ mạng của các Ngài rằng: Hãy chia sẻ, hãy đối xử tốt với người ngoại, hãy sống tinh thần của năm hồng ân, hãy đến giúp đỡ những ai đang sống trong đau khổ, hãy biết dùng tài năng để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn”. Con đường thực tiễn của niềm tin không phải là phép lạ, cho bằng khiêm nhường lắng nghe Lời Chúa và quan tâm đến anh chị em xung quanh đang phải chịu đau khổ.

Không cần tin vào những cuộc hiện ra hay những phép lạ để có thể mở đôi mắt và con tim của con người. Không cần thiết phải đi đến những vùng sâu vùng xa mới có thể tìm thấy những người đang cần đến sự trợ giúp. Ngay tại nơi đây, trong môi trường sống của mỗi chúng ta, vẫn còn những gia đình nghèo, những người đau yếu, những người già cả neo đơn đang sống trong cảnh cô độc, những anh chị em không có công ăn việc làm, những người nghiện hút, những bạn trẻ lang thang…tất cả đang cần đến sự trợ giúp của mỗi chúng ta.

Tội quên sót, sự vô tâm với thực tế đời sống và những e ngại từ chối giúp đỡ là những lỗi lầm rất đáng khiển trách mà chúng ta mắc phải mỗi ngày. Amen.

Tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa

Trong suốt năm phụng vụ, chúng ta đã tưởng niệm những sự kiện lớn trong cuộc đời của Chúa Giêsu: nhập thể làm ngừoi, rao giảng tin mừng,  sự chết và sự phục sinh, gửi Chúa Thánh Thần đến. Phụng vụ mời gọi chúng ta hôm nay mừng lễ Chúa Ba Ngôi, vì Chúa Ba Ngôi là khởi đầu và là kết thúc của lịch sử cứu rỗi: là Alpha và omega, sự khởi đầu và kết thúc. Thánh lễ trọng thể này mời gọi chúng ta suy ngẫm về Thiên Chúa Ba Ngôi mà Chúa Giêsu Kitô đã mạc khải cho chúng ta. 

Chúa Ba Ngôi vẫn là một màu nhiệm, nhưng nó chiếu sáng cuộc sống, mang lại ý nghĩa cho những biến cố đang xảy ra trong đời sống mỗi người, nuôi dưỡng hy vọng và lấp đầy sự cô đơn của chúng ta.  Chúa Giêsu thường nói với chúng ta về Cha ngài và về Chúa Thánh Thần. Ngài đề cập đến ba ngôi Thiên Chúa khi ngài gửi các môn đệ ra đi rao giảng Tin mừng: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.” (Mt 28:19) 

Kinh thánh cho chúng ta biết, trước hết Thiên Chúa biểu lộ với nhân loại như một Người Cha dịu dàng, nhân hậu, tôn trọng sự tự do của con cái mình, luôn sẵn sàng chào đón đứa con hoang đàng, luôn sẵn sàng tha thứ. 

Tiếp đến, trong Chúa Giêsu, Con của Cha, Thiên Chúa mang một khuôn mặt con người, huynh đệ, gần gũi với chúng ta, một Thiên Chúa “anh em”. Ngài là “pontifex”, người làm cầu nối, người tạo ra mối liên hệ giữa con người và Thiên Chúa. Tình yêu của Thiên Chúa trở nên hữu hình, dễ hiểu và có thể được bắt chước. Tình yêu ấy là Emmanuel, Chúa với chúng ta, qua mầu nhiệm nhập thể của Ngôi hai Thiên Chúa làm người. 

Và cuối cùng, Chúa Thánh Thần đến đi vào trong tâm hồn mỗi con người, đó là nơi sâu thẳm nhất của con người. Chính Thiên Chúa trong chúng ta là người hướng dẫn, dạy dỗ, mời gọi hành động, an ủi và củng cố chúng ta. Ngài liên tục tái tạo và làm cho mọi thứ trở nên mới mẻ.

Chúa Kitô hứa sẽ “ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế”. Lời hứa này là nguồn gốc của niềm hy vọng của mỗi tín hữu. Thiên Chúa đồng hành và soi sáng chúng ta. Ngài giúp chúng ta đọc các sự kiện và nhận ra sự hiện diện của Ngài trong cuộc sống. Sự hiện diện này cho chúng ta sức mạnh để chiến đấu chống lại cái ác và hành động theo thánh ý Chúa. 

Một trong những đặc điểm cơ bản của Thiên Chúa là Ngài không muốn chúng ta trở thành đầy tớ của Ngài nhưng là một bạn đời của Ngài trong một giao ước vĩnh cửu. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Thầy không gọi các con là tôi tớ… nhưng Thầy gọi các con là bạn  hữu, bởi vì tất cả những gì Thầy đã nghe từ Cha Thấy, Thầy đã nói với các con” (Ga 15:15). Và hôm nay một lần nữa Chúa mời gọi mỗi chúng ta: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta (Kh, 3,20). Vậy chúng ta hãy mở rộng cửa tâm hồn để cho Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trị và biến đổi đời sống mỗi người theo như ý Chúa muốn.  

Chuyện kể rằng, một vị vua kia đến cuối cuộc đời cảm thấy buồn chán. Ông nói: “Suốt đời ta, ta đã cảm thụ được tất cả những gì mà một con người có thể cảm thụ được bằng các giác quan. Nhưng vẫn còn một điều ta chưa được thấy, đó là ta chưa thấy Chúa. Bây giờ nếu ta chỉ được nhìn thấy Chúa một thoáng thôi thì ta cũng sẽ mãn nguyện mà chết”. Nhà vua tham khảo ý kiến những bậc khôn ngoan, hứa cho họ đủ thứ phần thưởng nếu họ giúp ông thực hiện điều mơ ước ấy. Nhưng chẳng ai giúp được.

Thế rồi có một chàng chăn cừu nghe chuyện trên và tìm đến gặp nhà vua. Chàng nói: “Có lẽ hạ thần có thể giúp Bệ Hạ được”. Nhà vua rất sung sướng theo người chăn cừu leo lên nhiều ngọn đồi. Khi đến đỉnh một ngọn đồi nọ, người chăn cừu đưa tay chỉ mặt trời và bảo: “Hãy xem kìa”. Nhà vua ngước mắt nhìn lên nhưng liền nhắm lại ngay vì chói quá. Ông bảo: “Nhà ngươi muốn cho ta mù sao!” Người chăn cừu đáp: “Tâu Bệ Hạ, đây chỉ mới là một phần nhỏ của vinh quang Thiên Chúa mà Bệ Hạ còn nhìn không nổi. Thế thì làm sao Bệ Hạ có thể nhìn được Thiên Chúa bằng cặp mắt bất toàn của Bệ Hạ? Bệ Hạ phải tìm cách nhìn Ngài bằng cặp mắt khác”.

Nhà vua rất thích ý tưởng ấy, nói: “Ta cám ơn ngươi đã mở cắp mắt trí khôn của ta. Bây giờ hãy trả lời cho câu hỏi khác của Ta: Thiên Chúa sống ở đâu?” Người chăn cừu lại đưa tay chỉ lên trời: “Bệ Hạ hãy nhìn những con chim đang bay kia. Chúng sống trong bầu không khí bao quanh. Chúng ta cũng thế, chúng ta sống trong sự bảo bọc của Thiên Chúa. Xin Bệ Hạ đừng tìm kiếm nữa, mà hãy mở rộng mắt ra để nhìn, mở tai ra để nghe. Thế nào Bệ Hạ cũng thấy được Ngài. Thiên đàng ở ngay dưới chân chúng ta cũng như ở ngay trên đầu chúng ta”.

Nhà vua dừng bước, cố gắng nhìn, cố gắng lắng nghe. Thế là một cảm giác bình an lộ rõ trên khuôn mặt buồn thảm của ông. Người chăn cừu nói tiếp: “Tâu Bệ Hạ, còn một điều nữa”. Rồi chàng dẫn nhà vua đến một cái giếng. Nhà vua nhìn xuống mặt nước bằng phẳng, hỏi: “Ai sống dưới đó thế?” Người chăn cừu đáp: “Thiên Chúa”. “Ta có thể nhìn thấy Ngài không?” “Được chứ, Bệ Hạ chỉ cần nhìn”. Nhà vua chăm chú nhìn xuống giếng, nhưng chỉ thấy gương mặt của mình phản chiếu trên mặt nước. Ông nói: “Ta chỉ thấy mặt Ta thôi”. Người chăn cừu giải thích: “Bây giờ thì Bệ Hạ đã biết Thiên Chúa sống ở đâu rồi. Ngài sống trong Bệ Hạ đó”.

Nhà vua nhận ra rằng người chăn cừu khôn ngoan và giàu có hơn ông. Ông cám ơn chàng và trở về hoàng cung. Chẳng ai biết ông có nhìn thấy Thiên Chúa không, nhưng ai cũng nói rằng có một điều gì đó đã biến đổi trái tim ông, bởi vì từ đó trở đi ông đối xử rất nhân hậu với mọi người, kể cả người đầy tớ hèn hạ nhất của ông.

Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi giống như bí mật của mặt trời. Chúng ta không thể nhìn trực tiếp vào mặt trời và hiểu thành phần của nó bởi vì nó sẽ làm mù chúng ta. Nhưng mặt trời chiếu sáng và làm cho mọi thứ tồn tại. Chúa Ba Ngôi vẫn là một bí ẩn đối với chúng ta, nhưng nó chiếu sáng cuộc sống của con người, mang lại ý nghĩa cho những gì đang xảy ra, nuôi dưỡng hy vọng và lấp đầy sự cô đơn của chúng ta.  Chính sự hiện diện tuyệt vời này của Thiên Chúa trong cuộc sống của chúng ta mà chúng ta mừng lễ Chúa Ba Ngôi trọng đại trong ngày hôm nay.

Luồng gió Thánh Thần

50 ngày sau Phục sinh, hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Thánh Thần chính là món quà được trao tặng cho các Tông đồ và cho tất cả Giáo Hội.

Như sách thánh thuật lại, thì vào ngày lễ ngũ tuần khi các Tông đồ cùng với Mẹ Maria đang ở trong căn phòng đóng kín cửa, bỗng nhiên họ nghe thấy một tiếng động như là tiếng gió mạnh thổi và họ nhìn thấy những lưỡi lửa đậu xuống trên đầu từng người. Dấu hiệu này cho thấy lời Chúa Giê-su hứa đã được thực hiện. Người trẻ cũng như người già chìm ngập trong làn gió của Chúa Thánh Thần. Họ được thúc đầy ra khỏi căn phòng để làm chứng cho những kỳ công của Thiên Chúa.

Vậy, biến cố này có ý nghĩa gì với chúng ta? Thưa, sự hiện diện của Chúa Thánh Thần đổi mới chúng ta. Cộng đồng Vatican II là một ví dụ cho hoạt động thần kỳ của Chúa Thánh Thần. Mọi người trong Giáo Hội đã được thức tỉnh như người bệnh được hít thở khí oxy. Chúa Thánh Thần đã mang đến cho Giáo Hội  của Đức Ki-tô một luồng gió mới để loại trừ những luồng khí làm cho Giáo Hội bị giam hãm trong căn phòng kín.

Để đáp lại quà tặng vô giá này, mỗi chúng ta hôm nay chỉ có thể ca lên lời tạ ơn Chúa như Thánh vịnh 103: Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa. Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, Ngài quá ư vĩ đại! …Ngài gửi hơi thở tới và Ngài canh tân bộ mặt trái đất. Vâng, chúng ta tạ ơn Chúa về tất cả sự kỳ diệu  từ ngàn xưa cho tới hôm nay. Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống là một sự  sáng tạo mới. Nó được khởi đầu bởi sự hiệp thông giữa các dân tộc dù là người Rôma, là Do-thái và tòng giáo, là người Crêta và Á-rập v.v. Tất cả mọi người đều đều nghe thấy các tông đồ loan báo Tin mừng bằng nói tiếng của họ mà ca tụng những kỳ công của Thiên Chúa.  Cộng đoàn phụng vụ chúng ta bao gồm người trẻ, người già, đến từ mọi gia đình, từ nhiều giáo phận lúc này đây trong ngôi nhà thờ này đang chứng minh cho sự hiệp thông kỳ diệu này.

Khi ta lãnh nhận Chúa Thánh Thần, thì cuộc sống cũ sẽ phải được thay đổi bằng một đời sống mới. Đó là điều mà Chúa Thánh Thần tác động.  Vậy hãy sống dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, để Ngài hoạt động trong chúng ta vì Ngài chính là nguồn mạch thiêng liêng duy nhất có thể tưới mát mầm sống đức tin. Chính Chúa Thánh Thần có sức mạnh biến đổi khi ban cho chúng ta lòng tin, tình  yêu, niềm vui, sự bình an, lòng nhân từ, khoan dung và nhẫn nại trước mọi thử thách như là những hoa trái của Ngài.

Chúa Thánh Thần luôn luôn hoạt động trong thế giới hôm nay, Ngài chính là đấng bảo trợ của các tín hữu trong mọi thử thách của cuộc đời. Những con người này đang hiện diện khắp nơi trên toàn thế giới và đang làm chứng cho niềm vui  Tin mừng của Đức Ki-tô.

Trong cuốn 5 chiếc bánh và 2 con cá, vị tôi tớ Chúa là ĐHY Phanxicô đã chia sẻ: Thời kỳ biệt giam ở Hà Nội, tôi được biết có 20 chiến sĩ nam nữ trẻ học tiếng Latinh với một cựu tu sĩ, để có thể đọc các tài liệu của Giáo hội. Trong số mấy anh gác tôi có hai anh trong nhóm học Latinh. Trông thấy bài vở, tôi nhận thấy họ học tốt. Một hôm, một trong hai anh ấy hỏi tôi:

– Ông có thể dạy tôi một bài hát tiếng Latinh không?

– Có nhiều bài hay tuyệt, nhưng biết anh thích bài nào?

– Ông hát cho tôi nghe, tôi sẽ chọn.

Tôi đã hát Salve Regina, Veni Creator, Ave Maris Stella… Các bạn biết anh ta chọn bài nào không? Anh ta chọn bài Veni Creator (Xin Chúa Ngôi Ba đoái thương viếng thăm…).

Tôi đã chép trọn cả bài cho anh ta và anh ta học thuộc lòng. Mỗi sáng quãng 7 giờ, tôi nghe anh ta chạy xuống thang gỗ, ra sân tập thể dục, rồi múc nước vừa tắm vừa hát: Veni Creator Spiritus… Tôi rất cảm động, làm sao mỗi sáng trong nhà tù cộng sản lại có một cán bộ hát kinh “Veni Creator” cho mình nghe!

Anh thứ hai lại chọn một bài hát tiếng Việt: “Ngày vinh phước hôm nay, hát mừng Tôma Thiện” kính thánh tử đạo chủng sinh. Anh rất thích nên thuộc lòng cả bài. Tiếng anh ngân nga, như nhắc tôi can đảm chịu khó: Ôi! cái chết đẹp thay! Trên cổ một vòng dây, Cái vòng dây yêu mến, Buộc lòng tớ theo Thầy.

Qua chứng từ của Đức Hồng Y Phanxicô, mọi người sẽ thắc mắc: đâu là động lực giúp cho ĐHY vượt qua đau khổ để vui sống, và có thể đem niềm vui đến cho người khác, thậm chí là những người làm hại mình. Thưa đó là sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Chính ĐHY đã làm theo tác động của Chúa Thánh Thần và hiệu quả là cuộc đời của ĐHY đã trổ hoa trái của Chúa Thánh Thần đó là  niềm vui và nhân từ, nhẫn nại và  bao dung và trên tất cả là niềm tin và tình yêu.

Chúa Thánh Thần đang hiện diện giữa chúng ta, đang hiện diện trong Giáo Hội và đang hiện diện giữa thế giới hôm nay. Ngài không bỏ chúng ta, ngay cả trong những hoàn cảnh đáng thất vọng nhất. Quả vậy, không có gì ngăn cản Ngài tác động để đời sống chứng tá của các tín hữu trổ sinh hoa trái.Amen.

Xin cho chúng nên một

Tinh thần nào giúp cho Giáo Hội hôm nay trở nên chứng tqư đích thực của Chúa Ki-tô?

Một người kia có ba người con trai, trước khi qua đời, ông muốn dạy các con bài học hiệp nhất: “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”, ông gọi các con đến và nói: “Vàng bạc thì cha không có, cha có một gia tài quý giá hơn cả vàng và muốn để lại cho các con”. Nói xong ông lấy ra ba chiếc đũa tre trao cho ba người con mỗi người một chiếc và bảo: “Các con hãy bẻ gãy chiếc đũa cho cha coi”. Ba người con vâng lời cha bẻ gãy chiếc đũa dễ dàng.

Sau đó người cha trao cho ba người con mỗi người một bó đũa và nói: “Các con hãy bẻ gãy bó đũa này cho cha xem”. Lúc này ba người con dùng hết sức vẫn không sao bẻ gãy được. Bấy giờ người cha mới nói: “Nếu các con biết đoàn kết thương yêu nhau, thì các con giống như bó đũa kia sẽ không có sức mạnh nào làm gãy được các con. Ngược lại nếu các con không đoàn kết thương yêu nhau mỗi người một nơi, thì các con sẽ như chiếc đũa kia bị bẻ gãy một cách dễ dàng, hiệp nhất: Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”.

Nói xong, người cha ra đi trong vòng tay yêu thương của các con.

Câu truyện trên mình chứng cho chúng ta một điều cốt yếu cho việc rao truyền tin mừng là sự hiệp nhất của Giáo Hội được đặt nền tảng bởi lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trong bài Tin mừng. Chúng ta đã lắng nghe lời cầu nguyện lâu giờ của Đức Giê-su trong những giây phút chuẩn bị từ bỏ đời này mà về cùng Chúa Cha. Mối bận tâm lớn nhất của Chúa không phải là Giáo Hội sẽ được tổ chức quy mô, cũng không phải là các bí tích được cử hành long trọng hay hoàn hảo cho bằng những người tin hiệp nhất nên một như lời thân thưa của Ngài với Chúa Cha: lạy Cha, xin cho chúng nên một như chúng ta là một. Vậy sự hiệp nhất trở nên nền tảng cho sứ mạng tiếp nối công cuộc rao giảng Tin mừng của Giáo Hội.

Từ kho tàng vô giá của Kinh thánh mà chúng ta vừa cùng nhau suy niêm, hệ luận cho việc rao truyền tin mừng nước Chúa, là chúng ta cần hiệp nhất trong yêu thương. Sự hiệp nhất trong yêu thương được mở rộng tới cả những kẻ bé mọn, những người nghèo khó, bị loại trừ và tất cả những người nam và người nữ bị khước từ do quá khứ lỗi lầm của họ.

Tuy nhiên chính Thiên Chúa mới là Đấng đang có đó để liên kết  những anh chị em này với Giáo Hội  và loan báo cho họ tin vui của tình yêu cũng như trao tặng lại cho họ niềm vui mừng và hy vọng. Noi gương Đức Giê-su, chúng ta phải biết tha thứ cho nhau để làm chứng cho lòng thương xót của Chúa đối với toàn thể nhân loại. Sứ mạng này chỉ có thể được hoàn thành nếu  các tín hữu Chúa sống tinh thần hiệp nhất yêu thương.

Trong cuốn 5 chiếc bánh và 2 con cá, vị tôi tớ Chúa là ĐHY Phanxicô đã chia sẻ lúc bị giam ở trại tù Phú Khánh rằng: Một đêm đông lạnh quá, không ngủ được, tôi nghe một tiếng nhắc nhủ tôi:  “Tại sao con dại thế?  Con còn giàu lắm:  Con mang tình thương Chúa Giêsu trong tim con.  Hãy yêu thương họ như  Chúa Giêsu đã yêu con”.  Sáng hôm sau, tôi bắt đầu mến những người lính gác, yêu mến Chúa Giêsu trong họ, tươi cười với họ, trao đổi đôi ba câu nói…  Tôi thuật lại những chuyến đi ra nước ngoài, cuộc sống, văn hóa, kinh tế, khoa học kỹ thuật, tự do dân chủ ở Canada, Nhật Bản, Philippines, Singapore, Pháp, Đức, Úc, Áo, v.v…  Những câu chuyện đó kích thích tính tò mò của họ, giục họ đặt nhiều câu hỏi.  Tôi luôn luôn trả lời…  Dần dần chúng tôi trở thành bạn.  Họ muốn học sinh ngữ Anh, Pháp… tôi giúp họ.  Từ từ mấy chiến sĩ gác tôi trở thành học trò của tôi!  Bầu khí nhà giam đổi nhiều, quan hệ giữa họ với tôi tốt đẹp hơn.  Thậm chí cả những ông xếp công an, thấy tôi đối xử chân thành, không những họ xin tôi giúp các chiến sĩ học hành ngoại ngữ, nhưng họ còn gửi anh khác đến học”.

Qua chứng từ trên, ta thấy để đạt được sự hiệp nhất  này, vấn đề không phải là tìm kiếm những sự đồng nhất của các ý tưởng giữa người này với người khác, mà điều quan trọng là ĐHY chia sẻ tình thương của Đức Ki-tô cho những người anh em để đổi thù thành bạn. Đối với con cái Giáo Hội là chúng ta cũng thế, điều quan trọng là tập họp với nhau xung quanh Chúa Giê-su và hiệp nhất với nhau trong lời cầu nguyện. Vậy đừng chờ đợi cho đến lúc hoàn hảo mới có thế hướng lòng về với Chúa bởi vì chính Ngài đang mời gọi chúng ta cùng nhau nối kết với lời cầu nguyện của Ngài cho sự hiệp nhất các môn đệ: lạy Cha, xin cho chúng nên một.

Lời cầu nguyện này còn nối kết với chúng ta hôm nay trong một thế giới đang đau đớn vì bạo lực và chiến tranh. Có biết bao nhiều người nam và nữ, cùng với các trẻ em đã bị bách hại và tàn sát đẫm máu vì niềm tin vào Đức Ki-tô. Kính thưa…trong ngày Chúa nhật hôm nay,  chúng ta cùng cầu xin Chúa cho công cuộc hòa giải các dân tộc và cho tiến trình thực thi công lý trên toàn thế giới. Xin Chúa cho chúng ta sự can đảm và sức mạnh để sẵn sàng chung tay xây dựng một thế giới mỗi ngày một công bằng, huynh đệ hơn và cho một thế giới đầy tràn tình yêu thương và hiệp nhất trong Đức Ki-tô Chúa chúng ta. Amen

Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế

Trong ngày lễ Chúa Lên Trời, chúng ta không cử hành sự ra đi của Chúa Giê-su Ki-tô phục sinh nhưng là sự hiện diện rõ hơn của Chúa trong đời sống mỗi ngày. Chúa Giê-su đã hoàn thành sứ vụ nơi trần thế và Ngài tiếp tục đồng hành và ở cùng chúng ta theo một cách thức mới như lời Chúa nói: “ Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.

Ngài sẽ hiện diện bởi Lời Chúa, bởi các Bí tích, bởi Thánh lễ và bởi những ai cần đến chúng ta, vì “ mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25). 

Để hiểu rõ sứ điệp của ngày lễ Chúa Lên Trời hôm nay, chúng ta đã được các bài đọc và bài Tin mừng soi sáng.

Như chúng ta thấy, vào buối tối bữa Tiệc Ly, Chúa Giê-su đã nói với các Tông Đồ: “ Thầy không để anh em mồ côi” và Ngài hứa ban Chúa Thánh Thần: “ Anh em hãy nhận lấy một sức mạnh, là Chúa Thánh Thần sẽ xuống trên anh em.  Vậy anh em hãy trở nên chứng tá của Thầy ở Giêrusalem, trong cả miền Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất”.

Vâng, sứ vụ mà Chúa Giê-su tửi đến cho chúng ta là làm chứng tá cho một Thiên Chúa luôn gần gũi mọi người như chính Chúa Giê-su đã trở nên gương mẫu. Trước những chống đối của các luật sỹ và biệt phái, Chúa Giêsu đã đứng về phía các người ngoại Samaria, những đứa con hoang đàng, các cô gái điếm, ngoại tình, những người làm công cuối ngày, các người thu thuế, các người tội lỗi. Ngài luôn bảo vệ những người bị xã hội loại trừ: họ là những người thấp cổ bé miệng, những người cùi hủi, các phụ nữ và trẻ con. Ngài không loại trừ ai. Trong đường phố, trong các hội đường, hay ở bờ biển, nơi các gia đình, đền thờ, bên bờ giếng Gia-cóp, hay trên núi cao, “ Ngài đều rảo qua để thi ân giáng phúc”.

Người ta thường kết án Ki-tô giáo là “thuốc phiện mê dân”, một dạng ma túy làm cho con người quên đi những vẫn đề của đời sống hiện tại, khi đưa ra những lời hứa về hạnh phúc sau cái chết. Quan niệm này hoàn toàn ngược lại với điều mà Thiên thần hiện ra nói với các tông đồ khi xưa: “ Hỡi người Galillê, sao các ông còn ở đó hướng nhìn lên trời?”. Nói thế có nghĩa là đừng để đầu óc trên mây nữa, nhưng là hãy nhìn xuống đất để thấy được những gì đang xẩy trong thế giới này, hãy quay trở lại quê hương Gallilê của các ông, có nghĩa là trở về với môi trường sống hiện tại, trong làng trong phố, trong gia đình mình.

Quả vậy, không phải chúng ta chỉ thấy Chúa khi ở trên trời nhưng là trong đời sống hàng ngày của mỗi chúng ta. Chính mỗi chúng ta có nhiệm vụ hoàn thành chương trình của Thiên Chúa trong môi trường sống hiện tại với tình liên đới với tất cả mọi người xung quanh. Thiên Chúa trao nhiệm vụ cho những người tin mà chúng ta là “những người tin vào Đức Ki-tô thì có nhiệm vụ chu toàn những công việc mà Chúa trao phó. Trong đoạn tường thuật biến cố lên trời, thánh sử Maccô còn nói thêm: “ Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ.” Vâng, mang niềm vui và hạnh phúc đến cho người khác là sứ mạng mà Chúa trao phó mỗi chúng ta trong đời sống hiện tại này.

Ngày 13.05, kỷ niệm Đức Mẹ hiện ra  ở Fatima năm 1917, chúng ta nhắc lại biến cố Đức Mẹ hiện ra với 3 em Luxia, Phanxicô và Giaxinta. Khi đó 3 em đó cũng đơn sơ hỏi Đức mẹ “Thưa Bà, Bà ở đâu đến vậy ?” Đức Mẹ đưa tay lên cao và nói “Từ trời xuống”. 3 em liền xin “Vậy xin Bà cho chúng con cũng được lên trời đi”. Đức Mẹ mỉm cười đáp “Phanxicô và Giaxinta thì Ta sẽ cho về trời trong một ngày gần đây ; còn Luxia thì hãy chịu khó ở lại trần thế này một khoảng thời gian nữa. Kể từ ngày đó 2 em kia lúc nào cũng mơ ước tới ngày được lên trời. Dù sắp chết 2 em cũng chẳng chút lo sợ, lại còn mừng vì mình sắp được lên trời.

Trong niềm tin tưởng như hai em nhỏ Phan xicô và Gianxita là sẽ được lên Trời với Đức Ki-tô sau khi vượt qua cõi đời này, mỗi chúng ta hãy tiếp bước các tông đồ khi xưa tiếp nối sứ mạng của Chúa ở trần gian qua việc thực hiện lời dạy của Thầy Chí Thánh: “anh em hãy ra đi rao giảng Tin mừng cho muôn dân” để chia sẻ niềm hy vọng lớn lao này cho mọi người xung quanh chúng ta.

Thực vậy, trong mỗi cử hành Thánh lễ, thường được kết thúc bằng lời sai đi gửi tới cộng đoàn là: “ Lễ xong chúc anh chị em đi bình an”…Lời chúc này có ý nghĩa như là lời sai đi làm chứng tá cho Tin mừng, cho những điều kỳ diệu trong thánh lễ đã lãnh nhận. Lời chúc này cũng có ý nghĩa đừng đứng đó mà nhìn lên trời, nhưng hãy trở về nhà, trong môi trường mà ở đó sứ vụ đang chờ đợi mỗi chúng ta. Xin cho mỗi chúng ta tham dự thánh lễ hôm nay mừng Chúa Về Trời cũng trở nên những tông đồ đích thực làm chứng tá cho niềm hy vọng lên trời trong việc chu toàn ơn gọi và những công việc bổn phận hằng ngày của mình. Amen.

Yêu thương nhau

Trình thuật Tin mừng hôm nay thuộc về chương 13 của Tin mừng Thánh Gioan. Phần đầu tiên của chương này cho thấy Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ của mình. Qua đó Ngài cho họ một mẫu gương về tình yêu và sự phục vụ. Yêu thương và phục vụ trở thành dấu hiệu đặc biệt của các môn đệ Chúa Giêsu. “nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.” (Ga 13:14)

Làm thế nào để biết chúng ta là môn đệ thực sự của Chúa Kitô? Câu cuối cùng của Tin Mừng hôm nay cho chúng ta câu trả lời thật rõ ràng: “Căn cứ vào điều này mà mọi người nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là nếu các con yêu thương nhau”. Yêu thương nhau đó chính là dấu chỉ của các Kitô hữu. Thực vậy các nghi lễ, tổ chức, bí tích, đều quy về điều này, cũng như nuôi dưỡng và thể hiện tình yêu mà chúng ta dành cho nhau.

Điều răn yêu thương không phải là điều gì mới mẻ. Đó là một trong những điều cơ bản trong truyền thống Kinh Thánh, như sách luật Lêvi viết rõ: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19:18). Điều mới mẻ ở đây là cách thể hiện tình yêu này, đó là: “yêu nhau như Thầy yêu anh em”. Như vậy điều răn mới về tình yêu ở đây là: yêu như Chúa Giêsu yêu thì vượt trên cả yêu chính bản thân mình.

Tình yêu mà Chúa Kitô nói tới hôm nay là một nguồn nước của sự sống mang lại một mùa xuân mới. Nó là một loại dầu dưỡng chữa lành vết thương. Tình yêu này là một tình yêu sâu sắc, chung thủy, một tình yêu mạnh mẽ hơn sự giận ghét, mạnh hơn bất công và mạnh mẽ hơn cái chết. Tình yêu này là một tình yêu mới bởi vì nó đi tới tận cùng, đó là  “Yêu thương nhau như Thầy yêu anh em”. Giới răn này là đòi buộc duy nhất của giao ước mới được ký kết bằng chính tình yêu trên Thập giá của Đức Giêsu Ki-tô. Tất cả mọi thứ khác là thứ yếu nên sứ mệnh này đã được chính Chúa Kitô giao phó cho tín hữu để nhờ đó mà “người ta sẽ biết anh em là môn đệ thầy nếu anh em yêu thương nhau.”

Điều ưu tiên trong đời sống Giáo hội không phải là luật pháp, thể chế, cơ chế tổ chức, giáo thuyết, truyền thống…. Cũng không phải là phải cầu nguyện, làm phúc, bố thí, hay trang hoàng bàn thờ và nhà thờ hoành tráng. Tất cả những điều này rất quan trọng, nhưng điều hoàn toàn cần thiết là tình yêu chúng ta dành cho nhau. Đây là dấu hiệu duy nhất để mọi người được nhận ra ai là môn đệ của Đức Ki-tô. Đây là điều răn mới mà Chúa Kitô đã để lại cho chúng ta như một di sản vô giá.

Sau phần truyền phép của mỗi thánh lễ, chúng ta thưa lên lời kinh nguyện Thánh thể để tình yêu mới này sẽ được thực hiện trong chúng ta đó là “khi thông phần vào Mình và Máu Thánh Chúa Kitô, chúng con tha thiết nài xin để chúng con được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần.” Tình yêu này là có thể và nó thực sự tồn tại trong thế giới của chúng ta ngày nay.

Chuyện kể một ngày nọ, khi thánh Têrêsa thành Calcutta (Mẹ Têrêsa, 1910-1997) và các Thừa sai Bác ái của bà đang chăm sóc những người nghèo nhất trong số những người nghèo trên đường phố Calcutta, họ tình cờ gặp một người đàn ông nằm trong rãnh nước, sắp chết. Ông ta bẩn thỉu, chỉ cuốn một tấm giẻ rách và ruồi nhặng bâu quanh người. Ngay lập tức, Mẹ Têrêsa ôm lấy ông, nói chuyện nhẹ nhàng với ông và bắt đầu gắp những con giòi đang làm tổ trong da thịt ông. Một người qua đường cảm thấy ghê tởm khi nhìn thấy cảnh tượng đã thốt lên với Mẹ Têrêsa: “Tôi sẽ không làm điều đó dù được cho một triệu đô la.” Phản ứng ngay của Mẹ: “Tôi cũng vậy!” Đích thực, tiền bạc không phải là động lực thúc đẩy người phụ nữ nhỏ bé được mệnh danh là thánh Têrêsa Calcutta; chính tình yêu đã làm.

Không yêu thương được bằng mẹ Têrêsa, nhưng chúng ta có thể thấy trong đời sống thường ngày nhiều chứng tá nhỏ bé phản ảnh tình yêu như Chúa Giêsu yêu thương như: Cha mẹ trong nhiều năm dành tình yêu và tình cảm cho một đứa trẻ khuyết tật không thể tự chăm sóc bản thân; Vợ chồng chăm sóc nhau lúc đau yếu bệnh tật; con cái chăm sóc cha mẹ già, thường xuyên đến thăm và giúp đỡ họ về tài chính; nhưng tình nguyện viên một phần thời gian của họ để tình nguyện, thăm người bệnh, đồng hành với người già, giúp đỡ người khuyết tật…hay các anh chị em Caritas dành thời gian và tiền bạc để giúp đỡ các nạn nhân của các nạn dịch và thảm họa trên toàn thế giới; v.v. Tình yêu thương nhau này được biểu lộ theo hàng ngàn cách thế trong cuộc sống hàng ngày như: lắng nghe, chào đón, chăm sóc người khác, phục vụ những người yếu đuối nhất, lòng trắc ẩn, sự tha thứ, lòng thương xót, v.v. Nó được phản ánh trong các hành động đơn giản của cuộc sống hàng ngày và trong các hoạt động cộng đồng ủng hộ lợi ích chung, nhân quyền, công bằng xã hội, phân phối hàng hóa tốt hơn, môi trường chất lượng cao, cuộc chiến chống phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, phân biệt đối xử, v.v. Bằng cách yêu thương lẫn nhau như Chúa Kitô yêu thương, là chúng ta tham gia vào việc xây dựng Đô Thành mới trên Nước Trời, kính thưa… nơi đó “sẽ không có cái chết, không có tang tóc, không có nước mắt, không đau đớn, không bạo lực, không chiến tranh, không bóc lột”.

Ước gì lời Chúa Giêsu hôm nay luôn vang vọng trong tâm hồn mỗi người chúng ta: “Thầy ban cho các con điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau. “

Mục tử nhân lành

Một triết gia có tên là Henri Bergson đã viết như sau: Hàng trăm cuốn sách tôi đã đọc, không đem lại cho tôi sự an ủi bằng lời Thánh vịnh 23: “ Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người”.

Mỗi chúa nhật IV phục sinh, chúng ta lại có dịp đọc lại và cùng nhau suy niệm về dụ ngôn Chúa Chiên Lành, với hình ảnh người mục tử vác chiên trên vai được thể hiện nhiều nhất trong nghệ thuật ki-tô giáo. 

Đối với người Việt chúng ta thì hình ảnh “chiên và người mục tử” không phải là một hình ảnh gần gũi vì ở Việt Nam không chăn nuôi cừu chiên như ở Palestine xưa. Hơn nữa trong cuộc sống hiện đại hôm nay, khi nói đến đàn chiên và mục tử có lẽ chẳng phù hợp tý nào, nhưng nếu đi sâu vào ý nghĩa tôn giáo thì hình ảnh chiên và mục tử lại tràn đầy ý nghĩa.

Quả vậy, Kinh thánh thường xuyên dùng hình ảnh mục tử để nói về các người lãnh trách nhiệm lãnh đạo trong dân hoặc chỉ về vị Vua – Đấng Messia.  

Đức Giê-su là Đấng Messia, Ngài cho chúng ta thầy Ngài chính là mục tử nhân lành vì Ngài biết từng con chiên trong đàn và các con chiên biết ngài và dám thí mạng sống mình vì đàn chiên. Động từ “biết” ở đây không có nghĩa là biết cách trừu tượng nhưng là một sự dấn thân hiệp thông, một sự ban tặng hỗ tương, một sự đối thoại, tắt một lời đó là một mối tương quan sâu sắc trong ý nghĩ, hành động và con tim.

Vâng, Đức Giê-su biết tất cả chúng ta một cách sâu sa trong tận sâu thẳm của tâm hồn. Và khi biết như thế không có nghĩa là Ngài chỉ biết rõ những con chiên béo, những con chiên ngoan, những con chiên tốt mà Ngài đặc biệt quan tâm tới những ai chưa biết Ngài, những ai đang sống bên lề tình yêu thương của Ngài. Cách này hay cách khác, tất cả mọi người đều thuộc về đoàn chiên của Ngài, dù vẫn còn đó những con chiên xấu đang làm cho những con chiên tốt không nghe theo tiếng gọi của Vị mục tử, rời bỏ đoàn chiên đi hoang trong lợi lộc và thú vui trần thế.  Tuy nhiên thì Đức Ki-tô tình yêu vẫn không ngừng lôi kéo và tập hợp những con chiên lạc trở về cùng một đoàn chiên và một Chúa chiên.

Hôm nay Thiên Chúa tin tưởng tất cả chúng ta, là đoàn chiên của Chúa đang hiện diện trong ngôi nhà thờ chính tòa này và trao phó cho mỗi chúng ta sứ mạng của người chăn chiên lành. Đây chính là lời mời gọi mà Chúa gửi đến cho tất cả mọi người, trước hết là các bạn trẻ biết quảng đại tận hiến đời mình cho Chúa để trở thành các linh mục và tu sỹ rao giảng và làm chứng nhân của Tình Yêu trong thế giới hôm nay.

Trong ngày hôm nay, kính thưa…là ngày thế giới cầu nguyện cho ơn kêu gọi lần thứ 59. Thiên Chúa tiếp tục mời gọi các linh mục, các phó tế, các tu sỹ nam nữ và anh chị em giáo dân tham dự vào trong kế hoạch cứu độ của Ngài. Chúa kêu gọi tất cả mọi người tham dự vào sứ mạng cao cả này, nên chúng ta không thể nói tôi đã quá tuổi, hay tôi quá trẻ, tôi không có khả năng hay tôi quá mệt mỏi…Vâng lời mời gọi của Chúa thật tha thiết khi nói với chúng ta như nói với các tông đồ khi xưa rằng: Đừng sợ, Thầy đang ở cùng con.

Với Bí tích Thánh Thể mà chúng ta tham dự, nếu chúng ta nối kết đời mình với Mình và Máu Thánh Đức Ki-tô, chúng ta sẽ kín múc được từ đó nguồn mạch của tình yêu tuôn chảy từ Thiên Chúa. Chính Tình yêu thương của Ngài sẽ đưa chúng ta tham dự vào kế hoạch của Đức Ki-tô.

Lạy Chúa, xin ban thêm cho chúng con sức mạnh và sự can đảm để chúng con có thể trung thành với sứ mạng mà Chúa trao phó cho mỗi người chúng con. Amen.

Các con có gì ăn không?

Tin mừng hôm nay trình thuật Chúa Giê-su phục sinh hiện ra lần thứ ba với các môn đệ. Biến cố này xẩy ra ở bờ biển hồ Gallilêa. Mọi sự bắt đầu bởi sáng kiến của ông Phêrô khi ông đề nghị anh em đi đánh bắt cá, nhưng lại không bắt được con cá nào. Chính vào giây phút thất bại này mà Chúa Giê-su đến với các ông. Khi mà mọi sự dường như kết thúc thì Chúa Giê-su lại đến tìm kiếm các ông. Ngài hiện diện với họ bên bờ hồ, nhưng họ không nhận ra Ngài.

Trước những buồn chán và mệt mỏi sau mẻ cá thất bại, Chúa Giê-su đã yêu cầu các môn đệ tiếp tục thả lưới: hãy thả lưới ở mạn phải thuyền, anh em sẽ bắt được cá. Và kết quả vượt quá niềm hy vọng của các môn đệ. Họ đã bắt được mẻ cá đầy.

Tin mừng cho thấy các môn đệ đã bắt được 153 loại cá. Con số biểu tượng này tương đương với tất cả các loài cá tính được vào thời đó. Điều này muốn nói về sứ mạng hoàn vũ được trao cho nhưng ai được mời gọi trở nên những kẻ lưới người như lưới cá. Tuy nhiên, sứ mạng đặc biệt này chỉ có thể thực hiện với sự giúp sức của Thiên Chúa. Các môn đệ thả lưới nhưng chính Chúa làm cho mẻ lưới đầy cá. Đây là điều được thực hiện đối với mọi công cuộc truyền giáo: chúng ta được sai đi để loan báo Tin mừng cứu độ nhưng chính Chúa hoạt động trong con tim của những ai biết lắng nghe và làm cho sinh hoa kết quả.

Tất cả những điều đó đòi hỏi nơi mỗi chúng ta một tình yêu hoàn hảo dành cho Đấng đã kêu gọi và sai chúng ta đi.  Có một câu chuyện truyền kỳ về những ngày sau cùng của một con người đã hết lòng yêu mến Chúa, và đã cảm nghiệm sâu xa ơn thứ tha của Người, được kể lại như sau :

Ông đến Rôma giữa lúc Nêrông đang bắt bớ đạo thánh. Một số người đã chịu tử đạo. Tình thế nguy kịch, nên các tín hữu khuyên ông hãy chạy trốn ra khỏi thành, để còn người duy trì và giữ vững đạo thánh.

Khi ra khỏi cổng, ông gặp một người đang vác thập giá đi vào thành Rôma. Ông lên tiếng hỏi : “Quo vadis ?” nghĩa là “Người đi đâu đó ?” Người ấy trả lời : “Thầy đi vào Rôma để cho người ta đóng đinh một lần nữa”. Ông chợt hiểu, vội vàng quay lại Rôma. Ông nhập vào hàng ngũ các tín hữu sắp chịu cực hình để an ủi họ và giúp họ giữ vững niềm tin. Sau khi chứng kiến các tín hữu bị làm mồi cho thú dữ ăn thịt, bị hoả thiêu trên một rừng thập giá, thì chính ông cũng bị đóng đinh ngược, đầu quay xuống đất, theo lời ông xin, vì nghĩ mình không xứng đáng được đóng đinh như Thầy.

Con người yêu mến Chúa Giê-su ấy chính là Phêrô, và cái chết chứng mình cho tình yêu của người môn đệ đã được Chúa Giêsu tiên báo trong bài Tin Mừng hôm nay.

Hôm nay Chúa Giêsu hỏi Phêrô: Simon, con ông Giona, con có yêu mến thầy hơn những người này không? Câu hỏi này được lặp đi lặp lại tới 3 lần. Phêrô là vị tông đồ trưởng đã từng chối Thầy mình tới 3 lần trong cái hoàn cảnh, cái giây phút thử thách nhất đối với ông. Nhưng Chúa Giê-su đã cho ông cơ hội để đứng lên. Phêrô đã thưa với Thầy mình 3 lần để nói lên tình yêu của ông dành cho Chúa. Và lúc đó Chúa Giê-su đã trao phó cho ông chăm sóc đoàn chiên của Chúa. Quả vậy đó là một bằng chứng cho thấy tất cả các chứng nhân đức tin đều là những tội nhân đã được ban ơn tha thứ, những người đã được đón nhận bởi lòng thương xót Chúa.

Trong Chúa nhật kính Lòng Thương Xót Chúa tuần trước, chúng ta có dịp suy niệm về lòng thương xót không giới hạn của Chúa Giê-su Ki-tô. Mỗi chúng ta cần phải cảm nghiệm sâu xa về Lòng Thương Xót Chúa. Chúa Ki-tô nối kết với mỗi người ở bất cứ nơi đâu và khơi lên niềm hy vọng. Đối với Chúa, không bao giờ có tình trạng thất vọng. Như là Phêrô, mỗi chúng ta được mời gọi đắm chìm và nối dài niềm cậy trông dựa trên lời hứa của Chúa. Như Phêrô, chúng ta được sai đi để làm chứng tá cho niềm hy vọng trong thế giới này. Chúa Ki-tô phục sinh muốn biểu lộ lòng thương xót của Ngài cho tất cả mọi người và cho mỗi người. Chính Ngài nói với chúng ta rằng Ngài đến để “tìm kiếm và cứu vớt những người đã hư mất”. Ngài muốn chúng ta nối kết với sự hiển thắng của Ngài trên sự chết và tội lỗi.

Sứ điệp của Lời Chúa gửi đến cho chúng ta hôm nay đó là chính Đức Ki-tô phục sinh đang hiện diện, dù chúng ta không nhìn thấy Ngài. Ngài không ngừng liên đới với chúng ta trong tâm lòng, trong đời sống, trong những nỗi nghi nan và thử thách. Ngài đến ban ơn tha thứ và đặt niềm tin tưởng nơi mỗi chúng ta. Của ăn mà Ngài ban sẽ ban thêm sức mạnh, không phải là món cá nướng bên bờ biển hồ khi xưa nhưng là chính Mình và Máu Thánh Ngài. Như tông đồ Phêrô, mỗi chúng ta đã được ghi dấu ấn trong tình yêu của Chúa, nên được sai đi để làm chứng tá, để trở nên sứ giả sống động của Tin mừng cứu độ. Amen.

Lòng thương xót Chúa

Chúa nhật II Phục sinh hôm nay được gọi là Chúa nhật của lòng thương xót Chúa. Chúa nhật lòng Chúa thương xót đã được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao lô II thiết lập nhân dịp ngày lễ phong thánh cho nữ tu Faustina.

Với ý nghĩa của ngày lễ hôm nay, các bài đọc Kinh thánh đều quy về lòng thương xót của Chúa trong bầu khí vui mừng của mùa PS.

Bài đọc thứ nhất trích trong sách Tông đồ Công vụ đã chỉ cho chúng ta thấy một cộng đoàn tín hữu đón nhận lòng thương xót của Chúa. Chính nhờ vào cuộc gặp gỡ thân tình với Chúa mà họ đã hoàn toàn thay đổi cuộc sống. Họ hiểu được rằng họ được kêu gọi để trở nên một cộng đoàn của tình liên đới, một cộng đoàn cầu nguyện và một cộng đoàn liên kết mật thiết với Chúa.

Bài tin mừng tiếp tục mời chúng ta đi thêm một bước nữa trong việc khám phá Lòng thương xót này. Chính vào tối ngày thứ nhất trong tuần, tức là vào tối Chúa nhật. Các môn đệ đã đóng kín cửa nhà vì nỗi sợ hãi đang bao trùm, do lòng thù hận và bạo lực đang bao trùm thành Giêrusalem sau cái chết của Chúa Giêsu. Sự sợ hãi này cũng liên quan tới mỗi chúng ta, ai mà không biết ở nhiều nơi trên thế giới hôm nay, có nhiều tín hữu đã bị giết; nơi này nơi khác các ki-tô hữu bị chế nhạo. Chúng ta cũng đang sống trong một thế giới bị dìm trong sự vô cảm, vô tín và mất niềm tin. Vậy mà trong một thế giới như thế, mỗi chúng ta lại có sứ mạng làm chứng cho niềm tin trong Chúa Ki-tô.

Như là Chúa đã làm cho các Tông đồ, cách riêng cho ông Tô-ma, Chúa Ki-tô phục sinh liên đới với mỗi chúng trong mọi hoàn cảnh. Ngài luôn có đó để nâng đỡ chúng ta trong đời sống và trong cả những lầm lạc. Ngài là Emmanuel, tức là “Thiên Chúa ở cùng”. Ông Tô-ma đã không thể tin Chúa phục sinh. Đối với ông thì không thể tin được. Ông đã thấy Thầy mình chết trên thập giá và được an táng trong mồ. Ông không thể tưởng tượng được rằng Chúa đã sống lại. Có lẽ chúng ta cười nhạo ông vì đã không tin, nhưng nếu chúng ta ở trong hoàn cảnh của ông, chúng ta cũng không khá hơn đâu.

Chúa Giê-su phục sinh đã đến để củng cố niềm tin và mang đến cho các Tông đồ niềm hy vọng. Lời đầu tiên của Chúa là một sứ điệp của bình an. Bình an này là niềm vui, là lòng thương xót và là ơn tha thứ, là sự hòa giải. Vào giây phút sai đi, Ngài muốn giải phóng các tông đồ khỏi nỗi sợ hãi đang nặng trĩu trong lòng các ông. Ngài muốn ban cho các ông sức mạnh và sự can đảm bởi vì các ông sẽ có một chặng đường dài để tiến tới. Các Tông đồ được sai đi để loan báo cho tất cả thế giới rằng tất cả mọi người được kêu gọi để hoán cải nơi Đức Ki-tô và đón nhận lòng thương xót mà Ngài không ngừng muốn trao ban.

Là các ki-tô hữu, chúng ta hôm nay đang thừa hưởng chứng tá của các tông đồ và mỗi chúng ta cũng được sai đi để tiếp tục làm chứng tá cho mọi người xung quanh, cho gia đình mình, cho nơi mình làm việc và sinh sống. Niềm tin của chúng ta chỉ sống động thực sự khi nó lan tỏa. Thiên Chúa đang chờ đợi chúng ta trong thế giới mà chúng ta đang sống, nơi mà Ngài gieo trồng chúng ta để trổ sinh bông trái. Ngài mong muốn làm những điều kỳ diệu trong đời sống chúng ta và không gì có thể chia cắt chúng ta ra khỏi tình yêu của Ngài.

Trong ngày hôm nay, chúng ta cần nhìn lại cộng đoàn đầu tiên của những kẻ tin. Như họ, mỗi chúng ta được mời gọi đặt để đời sống đạo dựa trên những cột trụ sau:

  • Trung thành với lời dạy của các Tông đồ để đào sâu đức tin và làm cho Tin mừng biến đổi đời sống.
  • Trung thành trong đời sống cộng đoàn để có thể chia sẻ mọi thứ cho nhau.
  • Trung thành tham dự và cử hành bí tích Thánh Thể,
  • Trung thành cầu nguyện ở trong gia đình và trong cộng đoàn.

Bốn cột trụ này là cần thiết biết bao vì chính nhờ đó mà chúng ta có thể làm chứng tá thực sự về đời sống đạo của những con cái Chúa.

Mỗi chúa nhật, chính Chúa Giê-su Ki-tô phục sinh liên  đới với cộng đoàn ki-tô hữu đang tụ họp để cử hành bí tích Thánh Thể. Xin Chúa Ki-tô phục sinh ở với mỗi chúng ta để chúng ta thêm can đảm trong đời sống chứng tá. Xin Ngài giúp chúng ta sống quảng đại hơn trong việc thực thi chia sẻ bác ái huynh đệ. Lạy Chúa, Ngài là Ánh Sáng, là Tình Yêu, xin soi sáng lòng chúng con bằng Thánh Thần của Chúa. Amen.

Chúa đã sống lại thật! Alleluia!

Sau đêm Vọng Phục sinh là thời khắc Đức Giê-su Kitô hiển thắng trên sự chết và bóng đêm, giờ đây trong buổi sáng Phục Sinh, là giờ phút mà ánh sáng hiển trị, như Tin mừng vừa thuật lại, việc xẩy ra là “ngày thứ nhất trong tuần”, Ngày Chúa Phục sinh vinh hiển. Sự kiện này nhắc chúng ta nhớ lại những trang đầu của Kinh Thánh, khi Thiên Chúa chiếu sáng thế giới vào ngày thứ nhất của công trình sáng tạo.

Lễ Phục sinh đối với các Ki-tô hữu là ngày lễ lớn nhất trong năm. Đó là ngày lễ của sự sống, của mùa xuân, của sự đổi mới và của niềm vui.

Lễ Phục sinh mở ra một tiến trình khác trên sự sống và sự chết. Trong thành Roma cổ, người ta thấy có nhiều bia mộ mang những dòng chữ diễn tả nỗi buồn lớn lao như: “Vĩnh biệt, đây là dấu chấm hết của tình yêu chúng ta”; “chúng ta mãi mãi không còn thấy nhau”; “ Tình bạn của chúng ta kết thúc với cái chết”…Ngược lại trên những nấm mồ của các Ki-tô hữu tại các hang toại đạo, ta lại thấy những dòng chữ đầy tràn niềm hy vọng như: “Chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau”; “bạn đang sống trong Chúa”; “Bạn về Nhà Cha”; “Bình an ở với bạn”…

Có những người cho rằng chết là hết. Nhưng các ki-tô hữu thì lại tin rằng cái chết là một cuộc vượt qua để đạt tới một sự sống khác và nó mang đến một ý nghĩa không chỉ đối với sự chết mà còn đối với điều mà chúng ta đang sống hằng ngày. Các văn sỹ ki-tô giáo đã dùng rất nhiều hình ảnh để minh họa cho sự sống mới này như: một đứa trẻ sinh ra khỏi lòng mẹ, một con tằm trở nên con bướm, một hạt lúa gieo vào lòng đất chết đi để trở nên một cây to…

Điều phân biệt các tín hữu với các người vô thần là sự sống lại, đó là niềm tin vào một Thiên Chúa, Đấng không giới hạn sự sống và không chấp nhận rằng mọi sự kết thúc nơi nấm mồ. Mặt khác, danh từ mà các tín hữu dùng để chỉ nơi chôn cất những người đã qua đời là vườn thánh, có nghĩa là nơi an nghỉ của những lữ khách, hay là nơi ở tạm mà thôi.

Phụng vụ chúa nhật phục sinh diễn tả sự bình an và thanh bình. Chúa đã sống lại; Vào lúc bình mình ló rạng: một tin vui được loan báo: “ đừng tìm người sống giữa những kẻ chết”. Đức Giê-su đã mở ra cánh cửa của sự chết. Ngài đã nói với chị Maria, chị của Lazagiô: Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy sẽ không chết bao giờ”.

Sự sống lại là câu trả lời của Thiên Chúa là Cha trước những bạo lực, bất công của đòn vọt và thập giá. Những ai kết án Chúa Giê-su đã tin rằng họ có thể làm Ngài câm lặng và khử trừ được Ngài. Nhưng không, Thiên Chúa Cha đã cho Ngài sống lại, để minh chứng những giá trị mà Ngài muốn thực hiện trong đời sống của Đức Giê-su, như lời thiên thần nói với các phụ nữ vào sáng Chúa nhật Phục sinh: “ Tại sao các bà lại đi tìm người sống giữa những kẻ chết”?

Niềm tin ki-tô giáo không ngừng nói với chúng ta rằng Đức Ki-tô đã sống lại và sự sống của chúng ta không kết thúc bởi cái chết. Lễ Phục sinh và sự sống lại đưa chúng ta vào một mùa xuân mới sau một mùa đông lạnh giá mang màu sức của sự chết, nhờ đó thúc đẩy chúng ta đưa ra lời cam kết ngay từ lúc này để thực sự đạt được sự sống. Đức Ki-tô mời gọi mỗi chúng ta sống sự sống viên mãn ngày từ bây giờ, bằng việc đi ra khỏi những nấm mồ, những chán nản, sợ hãi đang bủa vây chúng ta. Vâng, hãy ra khỏi mồ, khỏi những gì làm cho không còn hy vọng, vì chính Chúa Giê-su đã nói với chúng ta rằng: Ta đến để các ngươi được sống và sống dồi dào. Chúa muốn chúng ta được sống sự sống dồi dào của Chúa.

Sau bữa Tiệc ly, khi trở về núi Cây dầu, Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ: “ khi thầy sống lại, Thầy sẽ hẹn gặp anh em ở Gallilé”. Đó cũng chính là lời mời mà Chúa Giê-su gửi đến cho các phụ nữ sau khi Chúa sống lại: “ các bà hãy đi báo cho anh em thầy rằng họ hãy đến Gallilé và thầy sẽ hẹn gặp lại họ ở đó. Các môn đệ được thúc giục đến Gallile là quê hương bản quán, là gia đình của các ông, với lưới và thuyền.

Ki-tô giáo là một tôn giáo của sự phục sinh. Chúng ta không không hiểu hết những đau khổ trong thế giới nhưng chúng ta không tin sự khổ đau là tiếng nói cuối cùng, và chúng ta sẽ làm tất cả để chinh phục sự chết.

Thực vậy, chúng ta đang sống trong một thế giới mà cái chết đang diễn ra xung quanh. Hàng triệu người đã chết vì nhiều lý do: chiến tranh, nghèo đói, bạo lực, khủng bố, tự sát, nghiện ngập ma túy và rượu, thực phẩm ô nhiễm, môi trường ô nhiềm làm nên bao nhiêu tật bệnh, và ngay lúc này là nạn dịch Covid 19 đã gặp ra hang tram ngìn cái chết trên toàn thế giới.  Và chúng ta muốn chiến đấu để chống lại nó.

Vậy nên khi cử hành ngày Chúa Phục Sinh, mỗi Chúa nhật chúng ta xum họp bên Chúa. Ngày thứ Sabbat là ngày kết thúc tuần lễ, thì ngày Chúa nhật lại là ngày để tạ ơn và mở ra một tuần mới. Chúa Ki-tô phục sinh đang ở giữa chúng ta, như chính Ngài đã hứa: ở đâu có hai hay ba người họp nhau vì danh ta thì ta sẽ ở giữa họ. Ngài mời chúng ta lắng nghe Lời Ngài, chia sẻ sự sống của Ngài và được mạnh sức trong đời sống là nơi mà Ngài vẫn đồng hành với mỗi chúng ta vì Ngài hứa ở ‘cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế”.

Hôm nay, chúng ta mừng đại lễ Phục sinh, ngày lễ quan trong nhất với mọi ki-tô hữu. Đức Ki-tô sống lại trao ban cho mỗi chúng ta ơn can đảm để trở về Gallilê đời mình, là gia đình, là môi trường làm việc, và sống mùa xuân của Thiên Chúa. Trong ngày thứ nhất trong tuần, ngày Chúa Phục sinh, nguyện chúc cộng đoàn tràn đầy niềm vui phục sinh. Chúa đã sống lại thật. Allleluia. Amen.

Scroll to Top