Đời sống cầu nguyện

Này là Mình Thầy

CHÚA NHẬT IX THƯỜNG NIÊN B – LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA GIÊ-SU

Có câu chuyện kể về một thầy chủng sinh trong kỳ nghỉ hè dẫn khách du lịch tham quan Đền thờ thánh Phêrô ở Roma. Thầy ấy dẫn đầu một nhóm du khách Nhật Bản, những người hoàn toàn không biết gì về đức tin công giáo. Với sự cẩn trọng đặc biệt, thầy đã giải thích những kiệt tác tuyệt vời về nghệ thuật, về điêu khắc và kiến trúc cho đoàn khách. Cuối cùng họ kết thúc tại Nhà nguyện Thánh Thể, thầy cố gắng hết sức để giải thích ngắn gọn đó là gì. Khi cả nhóm giải tán, một người đàn ông lớn tuổi, người đã luôn chú ý đến các lời thuyết minh, ở lại và hỏi: “Thứ lỗi cho tôi, cậu có thể giải thích thêm câu ‘Mình Thánh Chúa’ được không?” Thầy chủng sinh đã làm theo yêu cầu, sau đó người đàn ông thốt lên: “À, nếu đúng như vậy thì những gì trong nhà nguyện này là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị hơn bất cứ thứ gì khác trong vương cung thánh đường này!”

Lễ Mình Máu Chúa Giê-su hôm nay nhắc nhở chúng ta việc tôn sùng Bí tích Cực Trọng và yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể, vì đó là nguồn mạch của sự sống thiêng liêng nơi mỗi tín hữu.

Để hiểu được ý nghĩa của ngày lễ, chúng ta cần hiểu từ ngữ Mình và Máu ở đây theo ý nghĩa Kinh thánh hơn là hiểu theo ý nghĩa Thịt Máu thông thường. Theo nghĩa Kinh thánh thì Mình Máu Chúa không có nghĩa là thân xác nhưng là con người toàn thể: này là Mình thầy sẽ bị nộp…này là Máu thầy sẽ đổ ra…Lời của Chúa Giê-su nói cho thấy Hy tế của Chúa Giê-su. Ngài nộp mình vì chúng ta và cho muôn người có nghĩa là Ngài hiến thân mình để ban ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại.

Hy tế của Chúa Giê-su cũng là hy tế của toàn thể Hội thánh. Điều này nhắc nhở chúng ta trong câu mời gọi cuối phần dâng lễ vật: anh chị em hãy cầu nguyện để hy tế của tôi và của anh chị em được Thiên Chúa là Cha toàn năng chấp nhận. Hy lễ của tôi và của anh chị em ở đây nói lên hy lễ của toàn thể Giáo Hội được tháp nhập vào Hy Tế của Đức Giê-su để dâng lên Chúa Cha. Hy tế này không chỉ là hy tế của cộng đoàn hiện diện nhưng qua cộng đoàn tất cả Giáo Hội dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa. Và khi linh mục cất lên lời kinh hiệp lễ “ đây Chiên Thiên Chúa đây đấng xóa tội trần gian” là ngài không chỉ nói lời này với cộng đoàn hiện diện nhưng là nói với toàn thể thế giới. Lời này có ý nghĩa là Chúa Ki-tô tự hiến thân mình làm của ăn nuôi sống nhân loại và phục vụ con người. Ngài yêu thương từng người bằng một tình yêu vượt trên tất cả những gì mà chúng ta có thể tưởng tượng.

Vậy đâu là giây phút quan trọng nhất trong hy tế thánh thể? Thưa đó là giây phút truyền phép, giây phút bánh và rượu trở nên Mình và Máu Chúa Ki-tô. Đây là cao điểm của tình yêu mà Đức Giê-su Ki-tô dành cho chúng ta, vì chính chúng ta mà Chúa Giê-su đã tự hiến thân mình: “Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình vì người mình yêu”. Món quà tình yêu này không chỉ dành cho những ai hiện diện trong ngôi nhà thờ này mà cho toàn thể nhân loại. Đức Giê-su đã được gửi đến cho nhân loại không phải để lên án nhưng là để cứu rỗi.

Vậy, Thánh lễ là hy tế của Đức Ki-tô mà mỗi chúng ta được mời gọi tham dự, là giây phút quan trọng nhất của tuần lễ. Chúa Ki-tô phục sinh nối kết chúng ta với ngài trong khi cử hành thánh lễ. Mỗi lần thánh lễ chúng ta cử hành là mỗi lần Đức Ki-tô yêu mến chúng ta hơn bao giờ hết. Trong những lúc mà chúng ta thiếu vắng linh mục dâng lễ, thánh lễ thật là vô giá đối với người tín hữu chúng ta. Như trong cuốn 5 chiếc bánh và 2 con cá, Đức Cố Hồng Y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận đã cảm nghiệm được điều đó khi viết rằng “sức mạnh độc nhất của tôi là bí tích Thánh Thế”.

Ngài đã chia sẻ rất cảm động về thời gian ở trong tù rằng: câu hỏi mà bao nhiều người hỏi tôi là “Trong tù cha có dâng lễ được không?” Và thực sự họ có lý, vì Thánh Thể là kinh nguyện đẹp nhất, là đỉnh cao của cuộc đời Chúa Giêsu”.

Khi Ngài bị bắt, ngài đi tay không và Ngài đã viết tin nhắn về nhà để mọi người gửi cho Ngài một chiếc lọ nhỏ đựng rượu lễ và bánh lễ để Ngài có thể dâng lễ. Mỗi ngày với ba giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay, Ngài dâng thánh lễ.

Vâng, cũng như Đức Hồng Y Phanxicô, bí tích thánh thể thật sự là nguồn sức mạnh độc nhất của chúng ta, vì thiếu Mình và Máu Thánh Chúa, đời sống thiêng liêng của mỗi chúng ta sẽ chết, đời sống đức tin của chúng ta sẽ chết.

Như Đức Hồng Y Phanxicô đã cảm nghiệm: “Thánh Thể, Thịt Máu Chúa làm cho chúng tôi sống, “ ta đến là để chúng có sự sống và có một cách dồi dào”. Như Manna nuôi dân Do Thái đi đường về đất hứa, Thánh Thể sẽ nuôi con đi cùng đường hy vọng.”

Quả vậy, giờ phút này đây, Đức Ki-tô đang hiện diện với chúng ta như tấm bánh sống động từ trời ban xuống. Nếu ai ăn bánh này người đó sẽ có sự sống đời đời. Thánh thể thật sự là một món quà tuyệt hảo vì đó là của ăn cho sự sống đời đời của mỗi chúng ta.

Trong ngày lễ kính Mình Máu Thánh Chúa, chúng ta hãy tiếp tục dâng lời lời tạ ơn về điều kỳ diệu mà Chúa ban xuống nhân loại. Và chúng ta hãy dâng lên Chúa lời cầu nguyện lời nguyện của vị linh mục chủ tế trước khi rước lễ: Xin Mình và Máu Chúa cứu con khỏi mọi tội lỗi và mọi sự dữ; xin cho con hằng tuân giữ giới răn Chúa và đừng để con lìa xa Chúa bao giờ. Amen.

Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần

Lễ Chúa Ba Ngôi – Năm B

Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Ba Ngôi: Một Thiên Chúa có Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Các nhà thần học đã tìm cách để đưa ra những định nghĩa rõ ràng nhất, nhưng nếu chúng ta không hiểu thì cũng không nên thất vọng. Điều quan trọng nhất,  không phải là hiểu được mầu nhiệm này nhưng là đi vào để cảm nhận được mầu nhiệm ấy. Điều mà chúng ta quan tâm hôm nay đó là khám phá ra Thiên Chúa tự mạc khải chính Ngài khi can thiệp vào đời sống con người. Mạc khải này được thực hiện cách tiệm tiến trong suốt chiều dài lịch sử.

Trong bài đọc thứ nhất, Chính Thiên Chúa tự tỏ mình ra cho dân được tuyển chọn. Dân tộc này đang chịu cảnh nô lệ bởi ngoại bang. Nhưng Thiên Chúa đã chọn Maisen để giải thoát họ và dẫn đưa họ qua sa mạc. Vào lúc mà sứ điệp này được gửi tới cho dân thì cũng là lúc mà dân Do thái chuẩn bị đi vào Đất Hứa. Họ được mời gọi khám phá ra lòng quảng đại của Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa tự tỏ mình khi ký kết giáo ước với dân.

Niềm vui này cũng được gửi đến cho mỗi chúng ta hôm nay cũng như khi xưa, Thiên Chúa thấy được cảnh khốn cùng của dân Ngài. Ngài thấy các nước đang gây chiến với nhau; thấy nỗi thống khổ của những người bị mất tất cả, bị bỏ rơi. Và chắc chắn, ngài không quên những người đau yếu, những người đang chịu cảnh dịch bệnh, những người bị bỏ rơi và bị loại trừ…Ngài tiếp tục nói với chúng ta niềm mong ước của Ngài là giải phóng dân Ngài và Ngài đặt niềm tin nơi những ai tham dự vào sứ mạng này. Mỗi chúng ta hôm nay được sai đi mang tình yêu của Chúa đến với thế giới. Qua mỗi chúng ta, chính Thiên Chúa loan báo cho muôn dân tin mừng cứu độ.

Như vậy Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta khi biểu lộ tình yêu của Ngài. Trong bài đọc II, thánh Phaolô nói với chúng ta rằng mỗi người là nghĩa tử của Chúa. Chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha. Vâng, Thiên Chúa là Cha chúng ta, một người Cha yêu thương con cái mình. Ngài muốn mỗi người con được hưởng ơn cứu độ. Như câu chuyện Người Cha Nhân Hậu, đứa con thứ đã sám hối trở về. Nó quý dưới chân Cha nó và đã được Cha nó đón nhận và phục hồi chức vị làm con. Nó tìm lại được vị trí của nó trong gia đình. Cũng vậy Thiên Chúa yêu thương chúng ta như những người con yêu dấu, và cho chúng ta trở nên người em của Chúa Giê-su. Tất cả những ân huệ đó được thực hiện trong tác động của Chúa Thánh Thần.

Bài Tin mừng hôm nay nói với chúng ta rằng Chúa Giê-su Ki-tô đã đến trong trần  gian để giúp các Tông đồ hiểu biết về Thiên Chúa đích thật. Và Ngài gửi các ông đi vào thế giới để loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo. Họ đã theo Chúa Giê-su lên núi cao. Theo ngôn ngữ kinh thánh, núi cao biểu tượng cho sự hiện diện của Thiên Chúa. Chính nơi đó Chúa Giê-su mạc khải cho các ông. Như các tông đồ mỗi chúng ta được mời gọi quỳ gối và thờ kính Thiên Chúa. Sự tôn thờ đích thật hệ tại ở việc nhận biết Thiên Chúa như chính Ngài là hiện thân.

Với lệnh truyền mà Chúa gửi đến cho các Tông đồ là loan báo Tin mừng cho muôn dân, Chúa muốn các ông khởi đầu giao ước mới. Với giáo ước cũ, Thiên Chúa chỉ mạc khải cho một dân tộc, nhưng với giao ước mới, Thiên Chúa tỏ mình cho muôn dân trên toàn thế giới.

Điều hệ tại không phải là trở nên các tín đồ, cho bằng trở nên các môn đệ của Chúa Ki-tô, trở nên những con người phục vụ, loán báo tin mừng và làm phép rửa. Bí tích rửa tội mà chúng ta lãnh nhận dìm chúng ta trong đại dương của tình yêu Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần. Tin mừng là một câu chuyện tình yêu không bao giờ kết thúc, một câu chuyện tình yêu luôn luôn tươi mới và mở rộng.

Chúng ta được trở nên các chứng tá hăng say của câu chuyện tình yêu đó. Với sự mạng rao giảng Tin mừng, mỗi chúng ta không ở một mình. Thiên Chúa hứa sẽ ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Ngài nuôi dưỡng chúng ta bằng Lời của Ngài, bằng Mình Máu Ngài. Ngài luôn có đó để ban thêm sức mạnh, sự can đảm để chu toàn sứ mạng. Chính Mẹ Maria nói với chúng ta hôm nay: Thầy bảo gì thì hãy làm theo.

Khi cử hành Thánh lễ này, chúng ta cùng hướng lòng lên Chúa trong niềm tri ân và cảm tạ, vì mỗi chúng ta đã nhận được bao nhiêu hồng ân từ nơi Thiên Chúa Ba Ngôi. Với Mẹ Maria, chúng ta có thể cất lên lời kinh Tạ ơn của chính Mẹ: Thiên Chúa đã làm cho tôi biết bao điều kỳ diệu, danh Ngài là Thánh. Amen.

Luồng gió Thánh Thần

50 ngày sau Phục sinh, hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống.

Như sách thánh thuật lại, thì vào ngày lễ ngũ tuần khi các Tông đồ cùng với Mẹ Maria đang ở trong căn phòng đóng kín cửa, bỗng nhiên họ nghe thấy một tiếng động như là tiếng gió mạnh thổi và họ nhìn thấy những lưỡi lửa đậu xuống trên đầu từng người. Dấu hiệu này cho thấy lời Chúa Giê-su hứa đã được thực hiện. Người trẻ cũng như người già chìm ngập trong làn gió của Chúa Thánh Thần. Họ được thúc đầy ra khỏi căn phòng để làm chứng cho những kỳ công của Thiên Chúa.

Vậy, biến cố này có ý nghĩa gì với chúng ta? Thưa, sự hiện diện của Chúa Thánh Thần đổi mới chúng ta. Thánh Thần chính là món quà được trao tặng cho các Tông đồ và cho tất cả Giáo Hội.

Để đáp lại quà tặng vô giá này, mỗi chúng ta hôm nay chỉ có thể ca lên lời tạ ơn Chúa như Thánh vịnh 103: Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa. Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, Ngài quá ư vĩ đại! …Ngài gửi hơi thở tới và Ngài canh tân bộ mặt trái đất. Chúng ta tạ ơn Chúa về tất cả sự kỳ diệu từ ngàn xưa cho tới hôm nay.

Thật vậy, Chúa Thánh Thần hiện xuống để canh tân bộ mặt trái đất, là một sự sáng tạo mới. Nó được khởi đầu bởi sự hiệp thông giữa các dân tộc dù là người Rôma, là Do-thái và tòng giáo, là người Crêta và Á-rập v.v. Tất cả mọi người đều đều nghe thấy các tông đồ loan báo Tin mừng bằng nói tiếng của họ mà ca tụng những kỳ công của Thiên Chúa.

Hôm nay, bất cứ ai trên thế giới đều có thể nghe được sứ điệp Tin mừng bằng ngôn ngữ của mình, dù mỗi ngôn ngữ tuy có khác nhau nhưng cùng loan truyền một tiếng nói ai cũng hiểu được. Thứ tiếng ấy là gì? Thưa, đó là tiếng nói của tình yêu đến từ Thiên Chúa, vang lên bằng mọi thứ tiếng trong chính Thân Thể Màu Nhiệm của Đức Ki-tô là Giáo Hội.

Chúa Thánh Thần hiện xuống là sự sáng tạo mới, nên khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, thì cuộc sống cũ của chúng ta sẽ phải được thay đổi bằng một đời sống mới. Đó là điều mà Chúa Thánh Thần tác động. Vậy hãy sống dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, để Ngài hoạt động trong chúng ta vì Ngài chính là nguồn mạch thiêng liêng duy nhất có thể tưới mát mầm sống đức tin. Chính Chúa Thánh Thần có sức mạnh biến đổi khi ban cho chúng ta lòng tin, tình yêu, niềm vui, sự bình an, lòng nhân từ, khoan dung và nhẫn nại trước mọi thử thách như là những hoa trái của Ngài.

Như Tin mừng thuật lại những lời cầu nguyện của Chúa Giê-su với Chúa Cha sau bữa Tiệc Ly mà chúng ta lắng nghe trong suốt tuần cửu nhật chuẩn bị mừng lễ, thì Chúa Thánh Thần mà Chúa Giê-su hứa ban cho các môn đệ sẽ là đấng bảo trợ các ông chống lại sự dữ.

Như Chúa Giê-su nói với các môn đệ hôm nay: Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy. Như thầy Giê-su, các môn đệ sẽ bị bách hại. Họ sẽ bị đưa ra trước tòa án. Nhưng Thiên Chúa không bỏ rơi họ. Nhờ có Ngài, họ có thể hùng hồn đối đáp với những kẻ đã từng kết án tử thầy mình trên thập giá. Sách Tông đồ công vụ đã thuật lại cho chúng ta rất rõ sức mạnh đó, và lịch sử của Giáo Hội cũng cho ta thấy rõ sức mạnh của Chúa Thánh Thần nơi các chứng tá đức tin sống động trong mọi thời đại. Những con người này đang hiện diện khắp nơi trên toàn thế giới và đang làm chứng cho niềm vui Tin mừng của Đức Ki-tô.

Giáo Hội Việt Nam chúng ta tự hào về truyền thống chứng tá đức tin nơi cha ông chúng ta là các anh hùng tử đạo. Và hôm nay chúng ta tiếp tục tự hào về các chứng nhân là con cháu của các anh hùng tử đạo Việt Nam. Một trong các chứng nhân nổi bật phải kể ra mà ai trong chúng ta cũng biết, là Đức Hồng Y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận, người tôi tớ Chúa, đang được làm án phong chân phước. Mọi người sẽ thắc mắc: đâu là động lực giúp cho ĐHY vượt qua đau khổ để vui sống, và có thể đem niềm vui đến cho người khác, thậm chí là những người làm hại mình. Thưa đó là sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Chính ĐHY đã làm theo tác động của Chúa Thánh Thần và hiệu quả là cuộc đời của ĐHY đã trổ hoa trái của Chúa Thánh Thần đó là niềm vui và nhân từ, nhẫn nại và bao dung và trên tất cả là niềm tin và tình yêu.

Chúa Thánh Thần đang hiện diện giữa chúng ta, đang hiện diện trong Giáo Hội và đang hiện diện giữa thế giới hôm nay. Ngài không bỏ chúng ta, ngay cả trong những hoàn cảnh đáng thất vọng nhất. Quả vậy, không có gì ngăn cản Ngài tác động để đời sống chứng ta của các tín hữu trổ sinh nhiều hoa trái.

Lạy Chúa, xin gửi đến với chúng con Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh Thần. Xin Ngài đổi mới tâm hồn các tín hữu và làm cho đời sống đức tin chúng con trổ sinh nhiều bông trái trong tình yêu vô biên của Ngài. Amen

Xin cho chúng nên một

Chúa nhật VII phục sinh – Năm B

Thứ Năm vừa qua, chúng ta đã long trọng mừng lễ Chúa Giê-su lên trời. Đó là lần hiện ra cuối cùng của Chúa với các môn đệ và sau đó ngài lên trời trước mắt các ông, kết thúc sứ mạng trần thế và khởi đầu sứ mạng của các Tông đồ. Các ngài được sai đi khắp tứ phương thiên hạ để rao giảng Tin mừng của Đức Ki-tô phục sinh. Việc tiếp nối sứ mạng này cũng được trao cho mỗi chúng ta để rao truyền tin mừng cho mọi người.

Câu hỏi được đặt ra cho chúng ta hôm nay là sứ mạng rao truyền tin mừng của Giáo Hội trong đó có vai trò của mỗi chúng ta phải được thực hiện như thế nào cho đẹp lòng Chúa? Tinh thần nào giúp cho Giáo Hội hôm nay trở nên chứng ta đích thực của Chúa Ki-tô?

Thưa điều cốt yếu cho việc rao truyền tin mừng chính là sự hiệp nhất của Giáo Hội được đặt nền tảng bởi lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trong bài Tin mừng. Chúng ta đã lắng nghe lời cầu nguyện lâu giờ của Đức Giê-su trong những giây phút chuẩn bị từ bỏ đời này mà về cùng Chúa Cha. Mối bận tâm lớn nhất của Chúa không phải là Giáo Hội sẽ được tổ chức quy mô, cũng không phải là các bí tích được cử hành long trọng hay hoàn hảo cho bằng những người tin hiệp nhất nên một như lời thân thưa của Ngài với Chúa Cha: lạy Cha, xin cho chúng nên một như chúng ta là một. Vậy sự hiệp nhất trở nên nền tảng cho sứ mạng tiếp nối công cuộc rao giảng Tin mừng của Giáo Hội.

Thánh Gioan Tông đồ đã minh chứng điều này trong thư thứ nhất của Ngài. Lá thư này được viết ra trong bối cảnh mà các giáo phái đang gieo rắc những mối bất hòa khi họ đưa ra những giải thích sai lầm về Đức Giê-su. Vậy để nói lên chân lý nền tảng của đức tin, thánh Gioan đã khuyên dạy rằng: để chứng tá của chúng ta đáng tin thì cần phải hiệp nhất với Thiên Chúa. Tuy nhiên, ta không thể hiệp nhất với Thiên Chúa mà không hiệp thông với anh chị em mình.

Như thế theo lời của dạy của Thánh Gioan, thì sứ điệp của Tin mừng chỉ được rao truyền bởi những tín hữu hiệp nhất bởi mối liên hệ trong tình yêu của Chúa Thánh Thần. Vì khi xưa chính Chúa Thánh Thần đã lựa chọn tông đồ Matthia để thay thế Giu-đa và liên kiết các Ngài nên một. Thì nay chính nhờ những nghĩa cử yêu thương, chia sẻ và liên đới được kín múc từ nguồn mạch ân sủng của Chúa Thánh Thần mà chúng ta được nhận biết là những môn đệ của Chúa Ki-tô.

Từ kho tàng vô giá của Kinh thánh mà chúng ta vừa cùng nhau suy niệm, chúng ta thấy điều cốt yếu để xây dựng cho sự hiệp nhất, đó là yêu thương. Sự hiệp nhất trong yêu thương cần được xây dựng trong gia đình, trong các hội đoàn, cộng đoàn giáo xứ, giáo phận và trong cả Giáo Hội.

Để đạt được sự hiệp nhất này, vấn đề không phải là tìm kiếm những sự đồng nhất của các ý tưởng giữa người này với người khác, mà điều quan trọng là chia sẻ tình thương của Đức Ki-tô cho anh chị em xung quanh. Đối với con cái Giáo Hội là chúng ta cũng thế, điều quan trọng là tập họp với nhau xung quanh Chúa Giê-su và hiệp nhất với nhau trong lời cầu nguyện. Vậy đừng chờ đợi cho đến lúc hoàn hảo mới có thế hướng lòng về với Chúa bởi vì chính Ngài đang mời gọi chúng ta cùng nhau nối kết với lời cầu nguyện của Ngài cho sự hiệp nhất các môn đệ: lạy Cha, xin cho chúng nên một.

Lời cầu nguyện này còn nối kết với chúng ta hôm nay trong một thế giới đang đau đớn vì dịch bệnh, vì chiến tranh đang xẩy ra tại Ucraina và tại Ít-ra-en. Chiến tranh xung đột vẫn tiếp tục leo thang…Chúng ta cùng hiệp nhất với nhau cầu nguyện và cộng tác với mọi người giúp đỡ các bệnh nhân và xây dựng hòa bình.

Trong ngày Chúa nhật hôm nay, chúng ta cùng cầu xin Chúa cho công cuộc hòa giải các dân tộc và cho tiến trình thực thi công lý trên toàn thế giới. Xin Chúa cho chúng ta sự can đảm và sức mạnh để sẵn sàng chung tay xây dựng một thế giới mỗi ngày một công bằng, huynh đệ hơn và cho một thế giới đầy tràn tình yêu thương và hiệp nhất trong Đức Ki-tô Chúa chúng ta. Amen.

Yêu

Trang Tin mừng hôm nay là một bài ca tán dương tình yêu Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân. Chúa Giê-su đã nói lên từ đáy lòng của Ngài về tình yêu và trao phó lệnh truyền yêu thương này cho mỗi chúng ta. Từ ngữ “yêu” được lặp đi lặp lại tới 11 lần trong bài Tin mừng ngắn ngủi này. Chúa Giê-su tự giới thiệu mình như là mẫu mực của tình yêu, bằng lời nói và bằng những cử chỉ nhỏ bé nhất.

“Anh em là bạn hữu của Thầy”. Lời này được coi là tâm điểm của mối tương quan giữa ta với Chúa. Vì coi chúng ta là bạn hữu mà Chúa đã đặt chúng ta vào trong ý tưởng và kế hoạch của Thiên Chúa. Từ đó Ngài mời gọi chúng ta xây dựng một đời sống an bình, thông cảm, bao dung, chia sẻ, trong tình huynh đệ yêu thương. Và đây chính là trung tâm của đời sống gia đình nơi mà những người con học được bài học của sự dịu hiền, đón tiếp, tha thứ, bao dung, tôn trọng mọi người trong tình yêu thiên Chúa.

Đời sống của mỗi tín hữu chỉ có thể phát triển trong bầu khí mà mỗi chúng ta lấp đầy bằng tình bạn với Thiên Chúa, để nhờ đó mà lớn lên và trổ sinh bông trái.

Quả vậy nhiều tín hữu đã mắc phải phải sai lầm khi họ không có thời gian dành cho Chúa trong đời sống hằng ngày. Họ không còn cầu nguyện, không còn đến nhà thờ tham dự thánh lễ Chúa nhật, và không biết dạy con cái mình những giá trị của đạo Chúa. Khi mà đời sống thiêng liêng không còn thực sự quan trọng trong đời sống hằng ngày nữa thì từng bước đức tin bị bào mòn, khô héo và chết dần chết mòn. Và đã có không thiếu những người chỉ còn mang danh ki-tô mà chẳng thực hành đạo, điều đó có nghĩa là những người này không chỉ không còn hiệp thông với cộng đoàn tín hữu nữa, nhưng còn là bị cắt đứt khỏi nguồn sức sống để có thể trổ sinh nhiều bông trái như một cành nho kết hợp mật thiết với thân nho.

Theo thánh Gioan thì Giáo hội là nơi tập họp các bạn hữu của Thiên Chúa. Dù chúng ta có khác nhau về nguồn gốc, giới tính, địa vị, tuổi tác, nghề nghiệp, văn hóa…nhưng các khác biệt đó không ngăn cản mỗi chúng ta hiệp thông thành một Giáo Hội của Chúa. Cái làm nên sự hiệp thông này, chính là tình bạn mà Thiên Chúa dành cho chúng ta và tình bạn mà chúng ta dành cho nhau.

Tình bạn thì dựa trên sự tôn trọng, sự quảng đại và phục vụ. Một trong nhưng hình ảnh đẹp nhất mà chúng ta có về Chúa Giê-su chính là hình ảnh Chúa đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Ngài đã quỳ gối trước các tông đồ và phục vụ họ: “ anh em gọi thầy là Thầy là Chúa thì phải lắm, nhưng nếu thầy đã rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau”.

Chúa Giê-su đã đến giữa chúng ta để mạc khải cho chúng ta khuôn mặt đích thật của Chúa. Thay vì là một Thiên Chúa đến để ra án phạt nhân loại tội lỗi, thay vì Đấng Cứu thế đến để trừng phạt tội nhân là chúng ta, thì nơi Đức Giê-su, chúng ta khám phá ra một Thiên Chúa là Tình Yêu, Ngài không trừng phạt nhưng là đến để tìm kiếm chúng ta và tặng bạn cho chúng ta tình bạn của Ngài. Ngài yêu thương chúng ta và dạy chúng ta hãy biết yêu thương nhau.

Quả vậy, qua hành trình rao giảng Tin mừng của Chúa Giê-su , Ngài đã trình bày khuôn mặt của một Thiên Chúa đầy lòng thương xót. Ngài đã giang rộng đôi tay để ôm lấy đứa con đi hoang trở về, ngài tìm kiếm con chiên lạc, đón nhận bà Maria Mađalêna, đến nhà ông Gia-kêu dùng bữa, tha thứ cho người phụ nữ ngoại tình, ngồi ăn với các người thu thuế và tội lỗi, chữa lành người mù ở Giêricô, làm cho người chết sống lại…Tất cả những điều đó chứng tỏ rằng những ai hiểu sai về Thiên Chúa là do họ đã không tiếp cận các sách Tin mừng và nghe kể chuyện về Chúa Giê-su.

Thật là diễm phúc cho mỗi chúng ta và những ai hôm nay được lắng nghe và cảm nghiệm được Tin mừng của Chúa Giêsu để mà thấy được sự tốt lành, dịu hiền và đầy lòng thương xót của Thiên Chúa, đấng muốn trở nên bạn hữu của mọi người như chính lời ngỏ của Chúa Giê-su : Thầy gọi anh em là bạn hữu của Thầy bởi vì tất cả những gì Thầy học nơi Cha Thầy, Thầy cũng tỏ cho anh em biết”.

Xin cho mỗi chúng ta học được bài học yêu thương từ nơi Chúa Giê-su để nhận biết tình thương bao la của Thiên Chúa và biết cách tỏ bày tình thương yêu đó cách cụ thể cho những anh chị em mà chúng ta gặp gỡ mỗi ngày. Amen.

Mục tử nhân lành

Chúa nhật IV Phục Sinh

Một triết gia có tên là Henri Bergson đã viết như sau: Hàng trăm cuốn sách tôi đã đọc, không đem lại cho tôi sự an ủi bằng lời Thánh vịnh 23: “ Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người”.

Mỗi chúa nhật IV phục sinh, chúng ta lại có dịp đọc lại và cùng nhau suy niệm về dụ ngôn Chúa Chiên Lành, với hình ảnh người mục tử vác chiên trên vai được thể hiện nhiều nhất trong nghệ thuật ki-tô giáo.

Đối với người Việt chúng ta thì hình ảnh “chiên và người mục tử” không phải là một hình ảnh gần gũi vì ở Việt Nam không chăn nuôi cừu chiên như ở Palestine xưa. Hơn nữa trong cuộc sống hiện đại hôm nay, khi nói đến đàn chiên và mục tử có lẽ chẳng phù hợp tý nào, nhưng nếu đi sâu vào ý nghĩa tôn giáo thì hình ảnh chiên và mục tử lại tràn đầy ý nghĩa.

Quả vậy, Kinh thánh thường xuyên dùng hình ảnh mục tử để nói về các người lãnh trách nhiệm lãnh đạo trong dân hoặc chỉ về vị Vua – Đấng Messi. Chính lúc nguy hiểm mà người ta mới nhận ra đâu là vị mục tử đích thực đâu là kẻ chăn thuê. Khi xẩy ra hiểm nguy, thì kẻ chăn thuê chỉ nghĩ tới sự an toàn của bản thân mà quên mất việc bảo vệ đàn chiên. Đối với kẻ chăn thuê, đàn chiên chỉ là thứ yếu. Còn đối với Đức Giê-su, ngài là mục tử nhân lành vì Ngài biết từng con chiên trong đàn và các con chiên biết ngài và dám thí mạng sống mình vì đàn chiên. Động từ “biết” ở đây không có nghĩa là biết cách trừu tượng nhưng là một sự dấn thân hiệp thông, một sự ban tặng hỗ tương, một sự đối thoại, tắt một lời đó là một mối tương quan sâu sắc trong ý nghĩ, hành động và con tim.

Thực vậy, Đức Giê-su biết tất cả chúng ta một cách sâu sa trong tận sâu thẳm của tâm hồn. Và khi biết như thế không có nghĩa là Ngài chỉ biết rõ những con chiên béo, những con chiên ngoan, những con chiên tốt mà Ngài đặc biệt quan tâm tới những ai chưa biết Ngài, những ai đang sống bên lề tình yêu thương của Ngài. Cách này hay cách khác, tất cả mọi người đều thuộc về đoàn chiên của Ngài, dù vẫn còn đó những con chiên xấu đang làm cho những con chiên tốt không nghe theo tiếng gọi của Vị mục tử, rời bỏ đoàn chiên đi hoang trong lợi lộc và thú vui trần thế. Tuy nhiên thì Đức Ki-tô tình yêu vẫn không ngừng lôi kéo và tập hợp những con chiên lạc trở về cùng một đoàn chiên và một Chúa chiên.

Hôm nay Thiên Chúa tin tưởng tất cả chúng ta, là đoàn chiên của Chúa và trao phó cho mỗi chúng ta sứ mạng của người chăn chiên lành. Đây chính là lời mời gọi mà Chúa gửi đến cho tất cả mọi người, trước hết là các bạn trẻ biết quảng đại tận hiến đời mình cho Chúa để trở thành các linh mục và tu sỹ rao giảng và làm chứng nhân của Tình Yêu trong thế giới hôm nay.

Trong ngày hôm nay, kính thưa…là ngày thế giới cầu nguyện cho ơn kêu gọi lần thứ 61. Thiên Chúa tiếp tục mời gọi các linh mục, các phó tế, các tu sỹ nam nữ và anh chị em giáo dân tham dự vào trong kế hoạch cứu độ của Ngài. Chúa kêu gọi tất cả mọi người tham dự vào sứ mạng cao cả này, nên chúng ta không thể nói tôi đã quá tuổi, hay tôi quá trẻ, tôi không có khả năng hay tôi quá mệt mỏi…Vâng lời mời gọi của Chúa thật tha thiết khi nói với chúng ta như nói với các tông đồ khi xưa rằng: Đừng sợ, Thầy đang ở cùng con. Với sự hiện diện và trợ lực của Chúa Chiên Lành, trong ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu năm nay, mỗi chúng ta được Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi trở nên những người hành hương cùng nhau bước đi để “can đảm dấn thân” gieo niềm hy vọng và xây dựng hòa bình.

Với Bí tích Thánh Thể mà chúng ta tham dự, nếu chúng ta nối kết đời mình với Mình và Máu Thánh Đức Ki-tô, chúng ta sẽ kín múc được từ đó nguồn mạch của tình yêu tuôn chảy từ Thiên Chúa. Chính Tình yêu thương của Ngài sẽ đưa chúng ta tham dự vào kế hoạch của Đức Ki-tô. Amen.

Phúc cho ai không thấy mà tin

Chúa nhật II Phục sinh – Lòng Chúa thương xót

Chúa nhật II Phục sinh hôm nay được gọi là Chúa nhật của lòng thương xót Chúa. Chúa nhật lòng Chúa thương xót đã được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao lô II thiết lập nhân dịp ngày lễ phong thánh cho nữ tu Faustina. Thật là ý nghĩa cho ngày lễ hôm nay vì Đức Thánh Cha Phanxico vừa mới loan báo Năm Thánh của lòng thương xót Chúa. Năm thánh sẽ bắt đầu vào ngày 8 tháng 12 năm 2015, đúng ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và bế mạc vào ngày 20 tháng 11 năm 2016 nhằm vào ngày lễ Chúa Ki-tô Vua.

Với ý nghĩa của ngày lễ hôm nay, các bài đọc Kinh thánh đều quy về lòng thương xót của Chúa trong bầu khí vui mừng của mùa PS.

Bài đọc thứ nhất trích trong sách Tông đồ Công vụ đã chỉ cho chúng ta thấy một cộng đoàn tín hữu đón nhận lòng thương xót của Chúa. Chính nhờ vào cuộc gặp gỡ thân tình với Chúa mà họ đã hoàn toàn thay đổi cuộc sống. Họ hiểu được rằng họ được kêu gọi để trở nên một cộng đoàn của tình liên đới, một cộng đoàn cầu nguyện và một cộng đoàn liên kết mật thiết với Chúa.

Trong bài đọc II, thánh Gioan lại đưa chúng ta vào trung tâm của niềm tin nơi Đức Ki-tô. Niềm tin đổi mới tận căn cái nhìn của chúng ta với mọi người. Niềm tin này giúp chúng ta thấy được ánh sáng của tình yêu được biểu lộ nơi Đức Ki-tô. Chính khi chiêm ngắm thánh giá Chúa mà chúng ta bắt đầu hiểu được tình yêu vô biên này. Thiên Chúa đã yêu thương con người thế nào thì chúng ta cũng phải yêu thương tha nhân như thế. Nếu chúng ta yêu mến Thiên Chúa, thì chúng ta phải trở nên anh em với nhau. Đây quả là một cuộc chiến đấu chống lại cám dỗ và sự dữ mỗi ngày. Nhưng Thiên Chúa không bỏ chúng ta. Thánh Phao lô nói với chúng ta rằng không có gì có thể ngăn chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa là thế.

Với bài Tin mừng hôm nay, chúng ta chưa bao giờ thấy được tình thương của Thiên Chúa như thế. Quả vậy, trong ngày thứ nhất trong tuần, Chúa Ki-tô phục sinh đã tìm gặp các môn đệ. Và ngài đã thấy họ đang ở trong nỗi sợ hãi, bơ vơ và khép kín. Có vẻ như các ông đã không tin vào Ngài vì các ông đang cảm thấy số phận của các ông cũng sẽ kết thúc như số phận của Thầy mình. Các ông tìm cách quên đi tất cả vì nỗi hiểm nguy đang rình chờ nên các ông suốt ngày ở trong nhà đóng kín mà không muốn đi dạo trong thành phố.

Kinh nghiệm của các môn đệ khi xưa cũng là kinh nghiệm của chúng ta trong thế giới hôm nay: Làm sao mà đối diện với một thế giới đang nhân danh sức mạnh của con người để chống lại Thiên Chúa, chống lại Giáo hội, chống lại những người tin? Chúng ta thấy rõ ràng là không dễ tuyên xưng và sống niềm tin ki-tô giáo trong thế giới hôm nay. Trước những thách đố, cám dỗ lớn nhất đối với chúng ta là xây lên xung quanh mình những bức tường ngăn cách và tự vệ. Đó chính là cách thức để chúng ta bảo vệ mình trước giông tố cuộc đời. Chúng ta nhiều khi bối rối không biết hành xử thế nào trước một thế giới xa lại với niềm tin ki-tô giáo. Làm được gì đây trong một đại dương mênh mông xa lạ đó, đó là câu hỏi dai dảng bên tai chúng ta mỗi ngày.

Tuy nhiên, vào ngày lễ Phục sinh, Chúa Ki-tô lại đến với chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi nỗi sợ hãi và lo âu này. Ngài mời gọi các tông đồ đi ra và khởi đầu một sứ mạng: như Cha đã sai thầy, thầy cũng sai anh em. Và lời đầu tiên của Chúa phục sinh là một sứ điệp của bình an. Bình an của Chúa Ki-tô này được người tín hữu mang đến cho những anh chị em xung quanh mình: anh em hãy đi vào trong thế giới, hãy trở nên niềm hy vọng cho con người. Chúng ta được mời gọi trở nên những người mang trong mình tình yêu của Chúa. Bởi vì như thánh Phanxicô Mauriac đã nói: ngày nào mà chúng ta không rực lửa tình yêu nữa là lúc mà tha nhân đang chết cóng. Vâng, lửa tình yêu này cần phải đi đến sự bao dung và tha thứ. Tha thứ là khí cụ của lòng thương xót của Chúa. Trong thư gửi cho tín hữu Êphêsô, thánh Phao lô đã viết: anh em hãy tha thứ cho nhau như Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Ki-tô.

Vẫn còn đó hình ảnh của tông đồ Tôma, người đã vắng mặt hôm Chúa phục sinh hiện ra. Điều mà Tôma đã thấy được chỉ là Đức Giê-su bị đóng đinh và bị chôn trong mồ. Đáp lại yêu cầu của Tôma, Chúa Ki-tô phục sinh đã mời ông lại gần và đụng tay vào các vết thương. Tuy nhiên thì ông đã không cần phải làm điều đó bởi vì ông đã đi xa hơn các anh em của ông khi ông là người đầu tiên nhận ra Chúa Giê-su “ Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi”. Chính sự gặp gỡ và lời của Chúa Ki-tô đã gợi lên sự tuyên xưng đức tin của người hoài nghi. Chúng ta cũng thế, như Tôma, chúng ta thích thấy bằng chứng để tin. Nhưng Chúa không ngừng nhắc lại với chúng ta những lời này: “ Phúc thay ai không thấy mà tin”. Vậy, hãy đừng là Tôma của sự cứng tin nhưng hãy tin. Cuộc đời của Tôma cũng chính là cuộc đời của mỗi chúng ta. Đó là những cuộc đời luôn được Chúa thương yêu và tha thứ.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con gia tăng niềm tin. Xin ở với chúng con để chúng con thêm sức mạnh mà làm chứng tá cho Chúa. Xin ban cho chúng con sự quảng đại trong thực hành bác ái huynh đệ. Vâng, lạy Chúa, Ngài là ánh sáng, ngài là tình yêu, xin xua tan trong chúng con bóng đêm nhờ vào Thánh thần của tình yêu Ngài. Amen.

Sao Chúa bỏ con?

CHÚA NHẬT LỄ LÁ

Ngày lễ lạ lùng hơn bao giờ hết là ngày lễ hôm nay khi chúng ta đi từ niềm vui ngập tràn về việc Chúa Giê-su khải hoàn vào thành Giêrusalem đến vở kịch về phiên tòa xét xử kết án hành quyết Ngài trên cây thập tự…

Trong vòng chưa đầy một giờ, chúng ta đã vượt qua từ ánh sáng đến bóng tối…từ những bài hát vui mừng đến những giọt nước mắt…và chúng ta ở đây, bây giờ ở đây trong nhà thờ này, đối mặt với thập tự giá, đối mặt với Chúa Giêsu chịu đóng đinh…”Ánh sáng bị phong tỏa, hy vọng đã tắt, Đây là lúc Chúa trong bóng tối loạng choạng…Đây là lúc hoàng tử của sự sống chết đi, bao quanh bởi nỗi thống khổ và sợ hãi…Liệu cái ác có chiến thắng?

Chúng ta đang ở đây trong nhà thờ này, nơi tiếng kêu này vẫn còn vang vọng bên tai chúng ta… tiếng kêu mang theo một sự hỗn loạn vô cùng… nhưng cũng vô cùng tin tưởng…”Chúa ơi, Chúa ơi, tại sao Chúa lại bỏ rơi con”

Trong đêm thống khổ…của sự cô đơn không thể chịu nổi, Chúa Giê-Su tiếp tục kêu cầu Chúa…Chúa vắng mặt, Chúa lãng quên Ngài…Chúa ơi…Chúa ơi…trong sự vắng vẻ…trong đêm Chúa Cha ở lại với Chúa Giê-su, Con Chúa yêu dấu…Chúa ơi…Chúa ơi …Chúa ơi…sao bóng đêm thanh vắng…sao nghi ngờ và đau khổ…

Một dự tòng trẻ 22 tuổi đã hỏi tôi câu hỏi này? Tại sao lại là Thập giá? Tại sao Chúa Giêsu lại chết trên thập giá? Tại sao Ngài phải chịu đựng quá nhiều đau khổ?

Đối với chúng ta, thập tự giá,… và việc Chúa Giê-su bị treo trên thập tự giá là bằng chứng cao nhất mà tình yêu của Thiên Chúa có thể ban cho chúng ta… Khi chịu đóng đinh, Chúa Giê-su cho thấy rằng tình yêu thương mà Thiên Chúa dành chúng ta không phải là một trò đùa”… Vì cái chết của Chúa Giê-su là một chứng tá của tình yêu…

Chúa Giêsu khi hiến mạng sống mình đã làm chứng cho tình yêu tột cùng của lòng trung tín mà Thiên Chúa bày tỏ đối với con người… với tất cả mọi người, “ngay cả với những kẻ giết Người và những kẻ hành quyết, ngay cả với những kẻ hành động trong bóng tối, sẵn sàng đối xử với anh em như một con vật trước lò sát sinh” (P. Christian de Ch.).

Chúa Giêsu trên thập giá…không bày tỏ một điều gì đó về mầu nhiệm về Thiên Chúa…Qua câu chuyện về cuộc khổ nạn mà chúng ta đã nghe, thánh sử nói với chúng ta: Này là Người! …không có Thiên Chúa nào khác ngoài Người!

Thập giá tiết lộ cho chúng ta bí mật tình yêu được giấu kín từ lâu,

Mầu nhiệm nơi Thiên Chúa tự hiến mình cho thế giới,

Nơi Người Con Yêu Dấu được gửi đến

Nối kết với con người trong đêm. Thập tự giá mạc khải cho chúng ta Chiên Con mà Đức Chúa Trời đã hứa ban,

Đáp lại tiếng kêu thảm thiết của chúng ta: Thập giá tỏ cho chúng ta thấy nơi Chúa Giêsu dung nhan Chúa Cha vẫn còn bị che khuất,

Khuôn mặt ẩn giấu của Thiên Chúa vinh quang,

Ngài gánh lấy tội lỗi chúng ta,

Ngài tỏ ra cho chúng ta bằng thập tự giá.

Hãy chiêm ngắm Chúa Giêsu,

Khuôn mặt gục xuống trong bóng tối,

Bức màn đã bị xé ra trong đền thờ vắng vẻ.

Cái chết của người công chính

Đã xóa bỏ lỗi lầm,

Và tình yêu đã chiến thắng

Những thất bại nặng nề:

Ngày mới sẽ đến…Từ ngôi mộ.

Chúng tôi muốn gặp Ngài

Chúa nhật V Mùa Chay – Năm B

Bối cảnh của bài Tin mừng Chúa nhật V mùa chay  hôm nay xẩy ra khi những người Hy Lạp đến Giêrusalem ước mong được gặp Chúa Giê-su. Những người Hy lạp này là những người ngoại. Nguyện ước của họ làm chúng ta liên tưởng tới hình ảnh của ba nhà chiêm tinh khi xưa tìm đến Belem chiêm ngắm Hài Nhi Giê-su qua sự hướng dẫn của ánh sao lạ. Đây là một cách nói để chúng ta hiểu rằng Tin mừng mà ngôn sứ loan báo không chỉ dành riêng cho dân Israen mà còn được ban tặng cho tất cả muôn dân, muôn nước.

Như Chúa nhật tuần trước, bài tin mừng của thánh Gioan dẫn đưa chúng ta hướng nhìn lên cây thập giá của Đấng Cứu Độ bởi vì chính nhờ Đức Ki-tô chịu treo trên cây thập giá mà chúng ta được cứu độ. Thì trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su tiếp tục chỉ cho những người Hy Lạp đang muốn gặp Ngài thấy sự vinh quang của Ngài. Và sự vinh quang này chính là thập giá. Đó chính là cao điểm của chương trình cứu độ mà chúng ta sẽ cử hành vào Tuần Thánh sắp tới. Đó là Giờ mà Đức Giê-su chờ đợi từ buổi đầu của sứ mạng cứu thế.

Những người Hy lạp sẽ nhìn thấy một người như bao người khác sợ hãi và hoang mang khi đối diện với cái chết. Họ sẽ thấy cái chết của một người là nguồn mạch của sự sống, một người bị nâng lên cao và bị đóng đanh trên cây thập giá. Nhưng chính khi bị nâng cao, Đức Giêsu đã tỏ bày vinh quang bởi vì Ngài lôi kéo mọi người đến với Ngài.

Lời yêu cầu của những người Hy Lạp: “Chúng tôi muốn được gặp Ngài”  trở nên lời nguyện ước được gửi đến cho tất cả chúng ta hôm nay. Chúng tôi muốn được gặp Ngài làm cho chúng ta liên tưởng tới câu hỏi của một em thiếu nhi học giáo lý: làm thế nào mà ta biết Đức Ki-tô hiện diện trong khi ta không nhìn thấy Ngài. Quả vậy, chúng ta không nhìn thấy Ngài, nhưng chúng ta tin vào chứng từ của các thánh Tông đồ là những người đã chứng kiến Đức Giê-su chết và sống lại vinh quang. Chính Đức Giê-su đã trao ban sức sống và bảo đảm sẽ ở cùng tất cả chúng ta mỗi ngày cho đến tận thế. Chính Đức Giê-su đang hiện diện giữa các cộng đoàn khi họ họp nhau cầu nguyện, lắng nghe Lời Ngài và cử hành Thánh lễ. Ngài cũng hiện diện qua những con người bé nhỏ, nghèo khó, bị bỏ rơi mà chúng ta gặp gỡ mỗi ngày xung quanh chúng ta.

“Chúng tôi muốn được gặp Ngài”. ước nguyện của những người Hy Lạp trở nên ước nguyện của mỗi chúng ta. Thực tế là Chúa Giê-su đang muốn gặp chúng ta, và lôi cuốn chúng ta đến với Ngài. Chỉ có Đức Giê-su mới có thể dạy chúng ta biết yêu thương như chính Ngài đã yêu thương và bao dung tha thứ. Chỉ có Ngài mới có thế tháo cởi chúng ta ra khỏi mối dây của sự dữ.

Vậy thì, ước mong được gặp Đức Giê-su Ki-tô sẽ có giá trị biết bao khi thực hiện nó. Bởi vì với Đức Ki-tô, Tin mừng được loan báo cho những người nghèo khó, những kẻ bị tù đầy, và những người bị loại trừ trong xã hội. Ngài chính là đấng tỏ lòng thương xót những kẻ tội lỗi. Ơn cứu độ của Ngài được trao ban cho tất cả mọi người. Chính Ngài nói với chúng ta rằng ngài không đến để lên án thế gian nhưng để cứu rỗi thế gian. Tin mừng của Ngài là một sứ điệp của niềm hy vọng và tình yêu cần được loan báo cho mọi nơi và mọi thời.

Nhưng để thấy Ngài và gặp Ngài, cần phải có một điều kiện, đó là phải ra đi để đến với tha nhân. Chúng ta không thể đến với Đức Ki-tô mà không đến và gặp gỡ tha nhân. Trong Mùa Chay thánh này, mỗi chúng ta được mời gọi ăn chay để làm việc bác ái giúp đỡ những giáo xứ, giáo họ nghèo trong giáo phận và đặc biệt là những anh chị em nghèo khó và bất hạnh xung quanh chúng ta …Chúng ta hãy nhớ lại lời Chúa Giê-su trong Tin mừng: Mỗi lần anh em làm điều đó cho một trong những kẻ bé mọn đây là làm cho chính Ta vậy.

Để kết luận, trong ngày Chúa nhật cuối cùng của Mùa Chay Thánh này, chúng ta cùng dâng lên Chúa lời cầu xin: Lạy Chúa, xin cho chúng con biết khám phá ra niềm hạnh phúc đích thật chỉ có được khi biết trao ban chính mình cho những người mà mình yêu thương. Xin Chúa biến đổi tâm hồn chúng con để chúng con có thể bước đi theo Chúa trong suốt cuộc đời chúng con. Amen.

Cứu độ nhờ Tình yêu

Chúa nhật IV mùa chay – Năm B

Chuyện kể rằng để chuẩn bị cho ngày lễ suy tôn thánh giá, một vị linh mục tại một giáo xứ kia đã mời gọi giáo dân dọn dẹp cung thánh và lau chùi cây thánh giá trên phía trên nhà thờ. Vị linh mục cùng tham gia công việc. Ngài trèo lên thang để lau cây thánh giá sau một thời gian đã có nhiều bụi bậm và mạng nhện bám vào. Đang khi lau phần đầu của tượng Chúa Cứu Chuộc, bất ngờ chân thang bị trượt, vị linh mục theo phản xạ tự nhiên đã bám hai tay vào hai cánh tay của Chúa Giê-su và nhờ đó mà ngài đã lấy được thăng bằng, nhờ đó mà ngài đã thoát khỏi cú ngã từ trên cao xuống nền nhà thờ. Sau khi mọi người giúp ngài xuống đất an toàn, mặc dù mặt vẫn tái xanh vì sợ, ngài đã chia sẻ : nhờ có tượng chịu nạn mà tôi không bị ngã, dường như tôi thật sự đã cảm nghiệm thế nào là ơn cứu độ mà Chúa Giê-su đã ban cho tôi hôm nay.

Các bài đọc Kinh thánh Chúa nhật hôm nay nhiều lần nhắc lại từ ngữ « cứu độ » để cho chúng ta thấy kinh nghiệm của dân Thiên Chúa cũng như của những ai đã trải qua những giây phút lãnh nhận tình thương mà Thiên Chúa tặng ban.

Bài đọc thứ nhất là một trình thuật cho thấy những biến cố đã xẩy ra trong lịch sử của dân Israel. Các vị lãnh đạo và toàn dân đã nhiều phen không trung thành với giao ước. Họ bắt chước dân ngoại thờ lạy các tượng thần của dân ngoại. Đó là lý do làm cho họ tự đánh mất chính bản thân mình. Và hậu quả là đền thờ Giêrusalem đã bị phá hủy, dân bị lưu đày. Tuy nhiên Thiên Chúa vẫn luôn trung thành với giao ước đã ký kết với dân. Khi mà họ không ngừng phản bội, ngài vẫn gửi các sứ điệp cho dân qua các ngôn sứ vì lòng thương xót họ. Ngài không ngừng tặng ban cho dân tình thương yêu của chính Ngài.

Đây cũng chính là kinh nghiệm mà chúng ta thấy trong thư của thánh Phaolô Tông đồ gửi cho tín hữu Ếphêsô: đối với thánh Phaolô, Thiên Chúa là đấng giàu lòng thương xót : ngài yêu thương con người bằng chính tình yêu bao la của ngài, dù con người mang trong mình thân phận yếu hèn và tội lỗi. Chính Ngài đã trao ban cho con người Đức Ki-tô để được sống. Thiên chúa là Tình yêu, đó là niềm vui đã được loan báo cho tất cả nhân loại trong suốt mùa chay thánh.

Tất cả những gì mà Đức Ki-tô trao ban cho nhân loại đều bắt nguồn từ lòng thương xót của Thiên Chúa. Lòng thương xót được trao ban cách nhưng không, không do công trạng của con người. Thánh Phao lô khi gặp được Đức Ki-tô trên con đường Đa-mát đã cảm nghiệm được điều này. Ngài biết rằng một đời sống mới được trao tặng bởi tình yêu thương của Thiên Chúa.

Trong bài Tin mừng, chúng ta lại thấy thánh Gioan dùng từ ngữ nói về sự cứu độ. Ngài mời gọi chúng ta hướng mắt về một dấu chỉ như là một điểm tựa vững chắc để những ai nhìn lên thì sẽ được cứu. Dấu chỉ này chính là Đức Giê-su khi được nâng lên cao trên thập giá, giống như con rắn đồng mà ngôn sứ Maisen đã giơ lên khi xưa trong sa mạc để những ai bị rắn cắn sẽ được chữa khỏi bệnh. Vậy, những ai tin vào Đức Giê-su, bước đi theo ngài, hướng nhìn về ngài sẽ được hưởng ơn cứu độ của Thiên Chúa, ơn cứu độ giải thoát họ khỏi sự chết đời đời nhờ vào chính đấng cứu độ là Đức Giê-su Ki-tô.

Trong Tin mừng, các thánh sử đã diễn tả nhiều thể nhiều cách về sự giải thoát này: như sự sống đời đời, được cứu độ, hay là thoát khỏi sự phán xét chung thẩm….Dù dùng từ ngữ nào đi nữa thì chúng ta vẫn thấy chương trình lớn nhất của Thiên Chúa đó là mang ơn cứu độ đến cho tất cả muôn dân. Ngài gửi con yêu dấu của ngài đến để thực hiện chương trình này. Chình nhờ thập giá mà Ngài biểu lộ tình yêu duy nhất này. Thánh Gioan hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lên thập giá của Đức Giê-su để cảm nhận được tình yêu thương đó của Chúa để ai tin sẽ khỏi bị kết án, và ai không tin sẽ bị luận phạt.

Qua Lời Chúa hôm nay, chúng ta cần phải nói đi nói lại rằng : nơi nào tội lỗi có đầy tràn thì nơi đó ân sủng của Thiên Chúa lại chứa chan gấp bội. Đó là điều mà Giáo Hội luôn xác tín : chúng ta được cứu độ là nhờ vào Đấng đã đổ máu mình ra trên cây thập giá. Không có tội lỗi nào của con người có thể ngăn cản tình yêu tự hiến đó của Đức Giêsu.

Thời gian mùa chay cũng như trong suốt cuộc đời chúng ta, mỗi chúng ta được mời gọi hướng mắt nhìn lên thập giá của Đức Ki tô. Nhờ vào cái chết và phục sinh, Đức Ki-tô dẫn đưa chúng ta tới nguồn sáng thật. Cùng với Ngài, chúng ta được mời gọi ra đi không ngừng, để nhìn ra thế giới với ngài và như ngài. Nhờ vào thập giá, ngài chữa lành những thương tật trong thế giới hôm nay. Ngài là ánh sáng xua tan bóng đêm tội lỗi, là tình yêu chiến thắng sự chết. Vậy giờ phút này đây, chúng ta cùng nâng tâm hồn lên, tận dụng cơ hội thuận tiện là mùa chay thánh này để mở to đôi mắt mà nhận ra nguồn chân lý và nguồn sáng thật của thế gian.

Lạy Chúa thánh linh, xin giúp chúng con biết hướng nhìn lên Đấng được nâng cao lên khỏi mặt đất, xin giãi sáng trên chúng con nguồn sáng đích thật là Đức Ki tô để cùng được sống với Ngài. Amen.