Đời sống cầu nguyện

Hãy vui lên

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG – B

Sứ điệp Chúa nhật III Mùa vọng hôm nay mời gọi chúng ta là : “Hãy vui lên, vì Chúa đã gần đến” (1 Tx 5,16). Màu hồng của phụng vụ cho thấy niềm vui này là dấu chỉ của niềm tin yêu và hy vọng của chúng ta. Vậy, mỗi tín hữu phải là một con người của niềm vui. Đức chân phước giáo hoàng Phao lô VI đã viết rằng : không ai bị loại ra khỏi niềm vui của Thiên Chúa, chính vì thế trong tông thư « niềm vui của Tin mừng » Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng đã nói: Có những Kitô hữu sống như chỉ có Mùa Chay mà không có Phục Sinh. Thật là tiếc cho những ai như thế và cho cả những ai sống cùng với họ, bởi vì họ cần hiểu là ân sủng của Chúa luôn ban xuống cho tất cả mọi người như là suối nguồn của niềm vui, dẫu rằng : người ta không sống niềm vui cùng một cách trong mọi giai đoạn và hoàn cảnh của cuộc đời, nhất là trong những lúc khó khăn. Tuy nhiên ta có thế nói rằng : niềm vui thích nghi và biến đổi, luôn tồn tại, ít ra như một tia sáng phát ra từ sâu thẳm của con tim rằng mình được yêu thương vô cùng.

Thánh Gioan Tẩy giả được mô tả trong bài Tin mừng mà chúng ta vừa nghe như là chứng nhân của niềm vui đó bởi vì chính ngài đã là người cảm nhận và loan bao niềm vui này cho nhân loại khi ngài đến làm chứng cho Ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ánh sáng đó là Đấng ở giữa mọi người mà biết bao người đã không nhận ra Ngài. Quả vậy, Đức Giê-su là niềm vui được Thiên Chúa trao ban cho nhân loại. Chính Ngài là Đấng đã được xức dầu để « loan Tin mừng cho người nghèo khó, bắng bó những tâm hồn đau thương, báo tin ân xá cho những kẻ bị lưu đày, phóng thích cho những tù nhân, công bố năm hồng ân của Thiên Chúa ».

Niềm vui nơi Đức Giê-su nối kết chúng ta với thế giới hôm nay, một thế giới vẫn đang tồn tại bạo lực, bất công và những ích kỷ nhỏ nhen của con người. Chính Đức Thánh Cha Phanxicô đã phải thốt lên : « khi mà tâm hồn con người khép lại vì những lợi lộc riêng của mình thì không còn chỗ cho người khác, vì người ta không còn biết nghe tiếng Chúa…ngay cả nhiều tín hữu cũng để cho mình ở trong nguy cơ này…nhiều người đã ngụp lặn trong đó và biến mình thành những con người thật đáng thương ».

Trong những ngày chúng ta chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh này, chúng ta lo trang trí đèn hoa, lo dựng cây thông giáng sinh, lo làm hang đá, điều này thật tốt nếu nó đưa chúng ta gặp gỡ Đức Ki-tô. Trái lại chính những lo lắng bên ngoài này có nguy cơ làm cho chúng ta quên mất Đấng là nhân vật chính của ngày lễ này. Vậy thì chính lúc này đây, trong tĩnh lặng của tâm hồn, mỗi chúng ta hãy đặt vào đó sứ điệp của Thánh Gioan Tiên hô : « Ở giữa các ông, có một Đấng mà các ông không biết » để mà xác tín lại niềm tin yêu của mình.

Điều quan trong nhất là hãy làm cho Đức Ki-tô hiện diện cách rõ nét trong đời sống đạo của mỗi chúng ta, và làm cho ngài hiện ra rõ nét cho thế giới hôm nay. Như chứng tá của Gioan Tẩy Giả làm chứng cho Đức Ki-tô, mỗi chúng ta sẽ có niềm vui đích thật khi làm chứng tá cho ngài. Để kết luận, xin chia sẻ với cộng đoàn câu chuyện về Mẹ thánh Têrêsa Calcutta :

Một ngày kia mẹ Tê-rê-sa Can-quýt-ta đã đến thành phố Men-bơn (Melbourne) nước Úc. Một hôm, mẹ đã đi thăm một ông lão nghèo không ai biết đến. Ông sống trong một căn phòng tồi tệ, đồ đạc ngổn ngang bụi bặm. Căn phòng không cửa sổ và tối tăm vì không một bóng đèn. Mẹ Tê-rê-sa liền bắt tay vào việc thu dọn đồ đạc. Ông lão kia nói to: “Xin cứ để yên cho tôi”. Nhưng mẹ vẫn tiếp tục làm công việc quét dọn. Sau khi mọi thứ đã ngăn nắp sạch sẽ, mẹ Tê-rê-sa đã tìm thấy một chiếc đèn dầu nằm trong một góc phòng. Chiếc đèn bám đầy bụi bặm, chứng tỏ đã lâu ngày không có ai đụng đến. Mẹ liền lau chùi chiếc đèn sạch sẽ rồi hỏi: “Lâu nay ông đã không thắp đèn phải không ?”. Ông ta đáp: “Thắp đèn làm chi ? Nào có ai thèm đến thăm tôi đâu ? và tôi cũng chẳng cần phải tiếp xúc nói chuyện với ai”. Mẹ lại hỏi: “Thế ông có hứa sẽ thắp đèn lên nếu có các nữ tu của tôi đến thăm ông không?”. Ông đáp: “Vâng, nếu tôi nghe có tiếng người đến thì tôi sẽ thắp đèn lên”.

Từ đó, mỗi ngày, hai nữ tu của mẹ Tê-rê-sa được cử đến thăm ông lão và thu dọn giúp đỡ cho ông. Một hôm ông nói với một trong hai nữ tu ấy như sau: “Bây giờ tự tôi đã biết thu dọn phòng của tôi rồi. Nhưng xin chị làm ơn về nói với bà bề trên rằng: Ngọn đèn mà bà đã thắp lên trong ngày đầu thăm tôi, đến nay vẫn không ngừng được thắp sáng”.

Noi gương mẹ Tê-rê-sa Can-quýt-ta, kính thưa… mỗi chúng ta sẽ làm gì cụ thể để chia sẻ niềm vui Giáng Sinh cho người kém may mắn mà chúng ta gặp gỡ, để thắp lên ánh sáng Tình Yêu và sự hiện diện của Thiên Chúa cho anh chị em xung quanh có được niềm vui trong Mùa Giáng Sinh đang đến. Amen.

Hãy dọn đường Chúa cho ngay thẳng

Trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta nói nhiều tới việc làm đường và sửa đường. Mọi người quan tâm vấn đề này bởi vì cuộc sống phát triển nên các con đường là một phương tiện giao thông liên lạc cần thiết để người ta có thể đến được với nhau trong mọi mối tương quan của cuộc sống hằng ngày. Có những con đường tốt, đường thẳng nhưng cũng có những đường xấu và đường cong gây tai nạn và khó khăn trong việc đi lại. Đường thẳng hay cong có thể do hoàn cảnh địa lý, do điều kiện vật chất, nhưng cũng có nhiều con đường đang thẳng lại biến thành cong vì bởi lòng người lúc cong lúc thẳng, nên con đường có đoạn thẳng đoạn cong. Vậy nguyên nhân của sâu xa của đường thẳng, đường cong là do con đường tâm linh, con đường của lòng người có chính trực công minh hay là cong queo và dối trá.

Vậy chủ đề của các bài đọc kinh thánh của Chúa nhật II Mùa Vọng gửi đến cho chúng ta là việc sửa chữa con đường, đây không phải con đường vật chất nhưng là con đường tâm hồn để Chúa có thể qua đó mà đến với ta và ta qua đó mà đến với Chúa và từ đó ta có thể đến được với tha nhân.

Để giúp cho việc sửa chữa và trùng tu con đường Chúa cho ngay thẳng, chúng ta phải làm gì? Hôm nay bài Tin mừng giới thiệu cho chúng ta một chuyên gia sửa đường, đó là thánh Gioan Tiền Hô. Thánh Gioan đã thực hiện lời kêu gọi của ngôn sứ Isaia trong bài đọc thứ nhất, đó là: “Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa chúng ta trong sa mạc”. Và chính Ngài đã làm gương cho chúng ta noi theo khi ngài đã vào sa mạc, mặc áo da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng, sống đời nhiệm nhặt để kêu gọi mọi người đón Chúa đến.

Như thế, chỉ dẫn quan trọng để sửa đường tâm linh trong Mùa Vọng này là đi vào sa mạc để sửa đường Chúa. Trong lịch sử cứu độ, sa mạc luôn là khung cảnh thuận tiện cho ân sủng của Chúa hoạt động. Dân Israel đã có kinh nghiệm này khi lưu lạc ở sa mạc 40 năm để Chúa uốn nắn và thanh luyện. Chính vì lẽ đó chúng ta đi vào trong sa mạc cuộc đời trong Mùa Vọng này, tức là tách mình ra khỏi những bận tâm, lo toan của cuộc sống thường ngày để hồn mình được bình tâm, nhờ đó mà có thể thấy được tình trạng con đường cuộc đời của chính ta, của nhân loại để mà tiến hành: lấp mọi hố sâu, bạt mọi núi đồi, làm cho ngay thẳng những cong queo và san bằng những gồ ghề.

Theo ngôn ngữ kinh thánh thì việc đi vào sa mạc để sửa đường Chúa có nhiều lợi ích. Trước hết, sa mạc là nơi thuận tiện để gặp gỡ Chúa. Vâng, chính trong nơi hoang sơ này mà Thiên Chúa nói trong sâu thẳm của lòng người để họ thực hiện lời mời gọi hoán cải: hãy sửa đường Chúa đi. Để có thể nghe được tiếng Chúa thì cần đi vào sa mạc qua việc cố gắng loại trừ bớt những tiện nghi đầy đủ thường ngày, ăn uống đạm bạc, cầu nguyện nhiều hơn và hoán cải đời sống bằng việc trút khỏi mình tội lỗi, loại trừ những tính mê nết xấu, những lối sống cằn cỗi. Thánh Gioan dùng hình ảnh cụ thể là ‘hãy san bằng những gồ ghề” trên con đường, có nghĩa là bỏ đi những chướng ngại để Thiên Chúa đến với ta và để ta có thể đến với ngài.

Tiếp đến, sa mạc cũng là biểu tượng của sự cằn cỗi trong tâm hồn. Đi vào sa mạc để thấy được tâm hồn con người trong tình trạng như mảnh đất khô cằn và không có nước. Hình ảnh này làm ta nối kết với những hoang mạc trong thế giới hôm nay khi vẫn còn tình trạng người đối xử với người tàn ác như sói rừng, khi phẩm giá làm người không được tôn trọng và bảo vệ: nhiều người nam và nữ bị biến thành những phương tiện để mua bán và bóc lột; khi vẫn còn đó những hoang mạc của những mảnh hồn sống đơn độc thiếu vắng tình yêu và không biết yêu thương. Tất cả những sa mạc này đã làm cho người ta không thể hiểu, thông cảm và đón nhận được nhau. Tuy nhiên cũng chính từ nơi đó, Chúa Ki-tô đã đến và tìm kiếm con người đã cho thấy Tin mừng khởi đi từ sa mạc của đời người. Giống như trong sa mạc mênh mông khô cằn không có sự sống, nhưng khi mưa đổ xuống, đất lại trổ sinh hoa trái tốt tươi; thì nhờ sự hiện diện của Chúa, cuộc sống con người không còn khô cằn nữa vì ngài không bỏ rơi con người, sự hiện diện này như hạt giống sự sống được gieo vào lòng người không bao giờ chết, nhưng nếu có cơ hội nó sẽ nảy mầm tăng trưởng và sẽ đổi mới đời sống chúng ta.

Cuối cùng, sa mạc không phải là nơi lý tưởng để tìm kiếm sự yên thân nhưng ngược lại, đó lại là nơi để chiến đấu, vì sa mạc là nơi mà người ta sẽ chết khát và chết cháy vì nắng nóng. Khi chọn lựa sa mạc, thánh Gioan Tiền Hô muốn loan báo một cuộc chiến, một cuộc đấu tranh. Chúa Giê-su khởi đầu sứ mạng của mình khi đối diện với Satan ở trong sa mạc. Trải dài trong suốt hành trình rao giảng, ngài đã bị tấn công bởi thù địch. Các địch thù đã bắt ngài, kết án ngài và đóng đanh ngài trên thập giá. Hành trình đức tin cũng là một chuỗi dài của những cuộc chiến chống lại sự dữ. Hôm nay cũng như hôm qua, biết bao nhiêu tín hữu đã bị bách hại và bị kết án tử. Nhưng với Chúa Ki-tô phục sinh, thì niềm hy vọng lớn lao của chúng ta là tình yêu mạnh hơn sự chết.

Chính tình yêu của Đức Ki-tô là niềm hy vọng thúc đẩy chúng ta làm chứng tá cho Chúa hôm nay khi đi vào sa mạc của đời mình để thấy những tham sân si của phận người mà hoán cải và canh tân; đi vào sa mạc của thế giới để chia sẻ và an ủi những mảnh đời đau khổ và bất hạnh; đi vào sa mạc của cuộc đời để chiến đấu mỗi ngày với các địch thù là ma quỷ và thế gian vô thần.

Trở nên chứng tá cho Đức Ki-tô là mang lấy chính ngài trong cuộc sống mình. Chúng ta không thể loan báo Chúa cho người khác nếu chúng ta không đón nhận chính Ngài. Chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh là dọn đường để Chúa đến với chúng ta, sống tâm tình giáng sinh trước tiên là đón Chúa đến cho chính cuộc sống của ta. Ngài là nguồn suối tưới mát sa mạc cuộc đời và làm sống lại những gì cằn cối của tâm hồn mỗi người chúng ta hôm nay. Amen.

Muavong1

Tỉnh thức và sẵn sàng

Trong ngày đầu tiên bước vào Mùa Vọng này, trước hết chúng ta một lần nữa nhắc lại ý nghĩa của từ ngữ, đó là chữ “Vọng”. Chữ “Vọng” này giúp ta liên tưởng tới thời gian trông đợi: có thể là trông đợi một người, hay trông đợi một sự kiện đến với chúng ta, và trong ý nghĩa phụng vụ, Mùa Vọng là thời gian trông đợi ngày Chúa đến. Xét về ý nghĩa của sự trông đợi của Mùa Vọng thì chúng ta cử hành ba biến cố của việc Chúa đến: trước hết là biến cố Chúa đến trong thời gian và hằng năm biến cố này được cử hành long trọng vào ngày đại lễ Giáng Sinh 25.12; tiếp đến là biến cố Chúa đến trong đời sống của mỗi người qua việc họ sẵn sàng đón tiếp Chúa; và cuối cùng là biến cố Chúa đến trong vinh quang của ngày cánh chung. Tựu chung cho việc đón đợi ba biến cố Chúa đến này mời gọi chúng ta hãy tỉnh thức và chuẩn bị sẵn sàng, đó cũng là những điều mà các bài đọc kinh thánh mà chúng ta vừa nghe chỉ dạy.

Bài đọc Cựu ước đưa chúng ta vào điểm chia sẻ thứ nhất: tỉnh thức và sẵn sàng vì niềm hy vọng mà Chúa gửi đến cho nhân loại được khởi đầu từ hành trình lịch sử của dân Israel. Ngôn sứ Isaia đã loan báo sứ điệp quan trọng này trong bối cảnh dân Chúa đang bị lưu đầy ở Babilon. Tình trạng bị lưu đày nơi đất khách quê người thật là đau khổ. Nhưng vào cuối thời lưu đày, dân Do thái đã ý thức rằng họ khốn khổ là do họ tội lỗi, nên Ngôn sứ Isaia đã thay mặt dân bày tỏ 2 điều: một mặt, thú nhận tình trạng tội lỗi của dân. Mặt khác, nài xin Chúa đến để tha thứ và cứu thoát họ. Và thực tế là Thiên Chúa đã không bỏ dân Người. Sứ điệp vui mừng này được thực hiện nơi Chúa Giê-su, đấng đã xé trời mà ngự đến và hiện diện giữa nhân loại. Vâng, trong một thế giới mà sự thất vọng đang giết dần giết mòn con người thì những người tin vào sự hiện diện của Chúa lại đang có đó để trao ban niềm hy vọng cho muôn dân.

Còn trong bài đọc tân ước, thì thánh Phaolô đã làm toát lên ý tưởng thứ hai: tỉnh thức và sẵn sàng vì Chúa Giê-su phục sinh và trở thành nền tảng của những người tin. Quả vậy nơi Đức Ki-tô, Thiên Chúa thực thi ơn cứu độ cho mọi người mọi nơi và mọi thời đại. Mặc dầu đã vượt qua cõi chết và bước vào vinh quang của Chúa Cha, Chúa Giê-su đã không bỏ rơi những ai tin ngài. Ngài đã đến đón những người đi trước để thiết lập vương quốc của Ngài. Chính nhờ đó mà mỗi chúng ta sống trong niềm hy vọng sẽ đạt tới ngày đã được ấn định bởi Cha Ngài, ngày mà Ngài sẽ trở lại trong vinh quang cánh chung để dẫn đưa tất cả mọi người bước vào Vương Quốc hằng sống. Và để xứng đáng bước vào nơi mà Ngài đã dọn sẵn, Thánh Phao lô mời gọi tất cả mọi người hãy nhận biết ân sủng mà Thiên Chúa trao ban để làm sao mà trong ngày Chúa đến mọi người vẫn kiên trì trong đức tin và thực thi một đời sống không có gì phải đáng chê trách.

Như vậy, ý tưởng thứ ba đưa chúng ta trở về trọng tâm của chủ đề: tỉnh thức và cầu nguyện bằng việc kiên trì và sống đức tin bằng một đời sống không có gì đáng chê trách trong niềm hy vọng đón ngày Chúa đến. Chúa Giê-su trong bài Tin mừng của Thánh Máccô đã chỉ dạy cụ thể về việc “tỉnh thức’ và ‘sẵn sàng” như là một người đầy tớ tỉnh thức chờ chủ trở về giữa đêm khuya.

Tại sao Chúa Giê-su lại dạy các môn đệ phải tỉnh thức sẵn sàng như người đầy tớ đợi chủ trở về? Thưa vì Ngài sẽ trở lại cách bất ngờ không ai có thể biết và lường trước được. Sự bất ngờ này đòi hỏi người môn đệ phải cầu nguyện để mà canh thức. Hành động cụ thể là sự canh thức, và chỉ có thể được là nhờ vào sự kết hiệp với Chúa qua việc chuyên cần cầu nguyện, và như thế họ không bị bất ngờ khi Chúa đến. Vậy đâu là điều mà mỗi người chúng ta phải làm để chứng tỏ rằng mình đang hành động canh thức để đón nhận sự hiện diện của Chúa?

Để kết luận, xin chia sẻ câu chuyện kể về việc mong đợi Chúa đán của một cụ già. Vào một ngày đẹp trời, khi ông đang ngồi trên ghế xích đu trong một khu vườn, lòng mong đợi Chúa đến. Tình cờ, một em bé gái đang chơi đã để lọt quả bóng vào sân nhà ông, cô gái chạy lại nhặt quả bóng và mở lời làm quen :

– Thưa ông, ngày nào ông cũng ngồi trên chiếc xích đu này, ông đang chờ ai vậy ?

– Cháu còn nhỏ quá làm sao hiểu được điều ông mong đợi, ông cụ đáp.

– Có lẽ cháu nhỏ thật, nhưng mẹ cháu nói : có điều gì trong lòng thì hãy nói ra, có nói ra mới hiểu rõ hơn.

Nghe cô bé nói có lý, ông cụ liền thổ lộ :

– Ông đang chờ đợi Chúa đến.

Cô bé tròn xoe đôi mắt kinh ngạc. Ông già mới giải thích :

– Trước khi nhắm mắt, ông muốn tin chắc rằng có một Thiên Chúa, ông cần một dấu hiệu cháu à!

Bấy giờ cô bé mới lên tiếng :

– Ông chờ một dấu hiệu ư ? Thưa ông, Chúa đã cho ông một dấu hiệu : mỗi khi ông hít thở không khí, mỗi khi ông nghe tiếng chim hót, mỗi khi ông nhìn hạt mưa rơi. Chúa đã cho ông một dấu hiệu trong nụ cười trẻ thơ, trong nước mắt người đau khổ. Ông ơi, Chúa ở trong ông. Chúa ở trong cháu, không cần phải tìm kiếm, vì Người luôn ở đó

“ Ông ơi, Chúa ở trong ông. Chúa ở trong cháu, không cần phải tìm kiếm, vì người đang ở đó”. Lời nói đơn sơ trong sáng của cháu bé giúp cho chúng ta xác tín về sự hiện diện của Chúa, niềm xác tín này sẽ là trợ lực lớn lao để chúng ta hân hoan sống tâm tình mùa vọng hôm nay bằng việc thực thi Lời Chúa và Giáo huấn của Giáo Hội bằng những hành động cụ thể. Xin đọc lại lời Thánh Phao-lô như là một tâm tình tóm kết rất chí lý thúc đẩy chúng ta trong ngày khởi đầu của Mùa Vọng này: “Anh em thân mến. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy hãy loại bỏ những việc làm đen tối và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đúng đắn như người đang sống giữa ban ngày: Không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng” (Rm 13,12-14). Amen.

Ta đói các người đã cho Ta ăn

Hôm nay mừng lễ Chúa Ki-tô, chúng ta cùng nhau cử hành Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ. Như là trong đời sống, mọi người đều tính sổ sách cuối năm tổng kết công việc trong suốt 12 tháng qua thế nào, thì hôm nay Tin mừng cũng đề nghị chúng ta tổng kết đời sống đức tin của mình trong những ngày kết thúc năm phụng vụ này như thế.

Việc tổng kết này được thực hiện từ những điều mà Chúa kêu gọi thực thi lề luật mới của Ngài đó là “ mọi người sẽ biết các con là môn đệ của Thầy nếu các con có lòng yêu thương nhau”. Tin mừng hôm nay giúp cho mỗi chúng ta cụ thể hóa luật mới này bằng việc nhắc nhớ chúng ta điều đã làm hay thiếu xót không làm: ta đói các con đã cho ta ăn, ta khát các con đã cho ta uống…hay ta đói các người đã không cho ta ăn, ta khát các ngươi đã không cho ta uống”

Việc tính sổ thật đơn giản chứ không như nhiều người nghĩ là việc phán xét của Chúa sẽ nhằm vào những việc lớn lao, những hành động anh hùng và thánh thiện, hay những hành vi lớn lao về đạo đức và tôn giáo.

Thực vậy, vấn đề ở đây là những việc làm hằng ngày, những hành động như các người cha người mẹ chăm sóc các con của họ, hay những con người hằng ngày vẫn sống tình giao hảo, quảng đại và nhã nhặn với những người hàng xóm, những hành vi cử chỉ nhỏ nhặt được thể hiện cho mỗi người xung quanh một cách âm thầm chứ không nhất thiết phải loan báo to tát như rao truyền trên mái nhà ….

Việc làm ở đây cũng không cần thiết là phải được làm nhân danh Chúa Giê-su, như là những hành động tôn giáo, những của lễ, những hy sinh. Như trong dụ ngôn, chúng ta thấy những người ở bên phải cũng như những người ở bên trái đều không nhận biết Chúa trong những việc làm nhỏ mọn mà họ thực hiện. Không một hành động nào mà Chúa Giê-su nêu lên dường như lại có tính tự nhiên tôn giáo cả.

Chúa Giê-su hôm nay trong ngày lễ Chúa Ki-tô Vua nhắc lại cho chúng ta rằng chúng ta bị xét xử trên tình yêu và chỉ trên tình yêu mà thôi. Ở đây chỉ cần một tình yêu rất bình thường tự nhiên: cho ăn, cho uống, đón tiếp, cho mặc, viếng thăm, chăm sóc. Những cử chỉ yêu thương nhỏ bé như thế lại có một giá trị vĩnh cửu.

Cái danh sách được Đức Giê-su liệt kê ra là không giới hạn, nên có thể tính đến cả những việc mà mỗi chúng ta có thể làm hằng ngày trong đời sống: như người cha người mẹ thức khuya dậy sớm du con ngủ, dỗ dành cho con khỏi khóc; là những đứa con chăm sóc cha mẹ già yếu trên giường bệnh. Hay trong giáo xứ chúng ta có nhưng ông bà anh chị em tham gia các công việc phục vụ, dọn dẹp quét nhà, lau bụi, dạy giáo lý…những sự phục vụ vô vị lợi, giúp đỡ người khó khăn, làm thiện nguyện tại các hoạt động cứu trợ, hiến máu nhân đạo….

Thánh Gioan Kim Khẩu đã lưu ý tới sự hoàn hảo nhất mà Chúa đòi chúng ta qua những việc làm bé mọn. Chúa không nói là người đói được an ủi, người ốm được khỏi, người ở tù được tự do. Điều quan trọng ở đây là làm cái gì đó bé mọn để việc đó được hoàn thành. Có nghĩa là đói thì cho ăn và nhờ việc làm cho ăn đó mà người đói mới được an ủi. Người ốm được cho thuốc, và nhờ việc cho thuốc đó mà họ được khỏi, hay người ở tù được viếng thăm, được giúp đỡ để được tự do.

Trong cuộc gặp gỡ cánh chung với Chúa Giê-su. Chúa không xét xử chúng ta. Nhưng chính chúng ta bị xét xử bởi chính mình về những gì mình làm trong suốt cuộc đời. Thiên Chúa chỉ vén mở điều còn ẩn dấu trong mỗi ngày sống của chúng ta. Trong ngày phán xét đó, Thiên Chúa sẽ giúp cho mỗi người xem xét xem mình có thực sự đối xử nhân nghĩa với người khác hay không.

Thực vậy, có thể sánh ví như một cuộc thi, nó sẽ diễn ra với những ngạc nhiên lớn lao. Mỗi chúng ta sẽ biết kết quả trước bởi vì mỗi người đều biết môn thi là thế nào. Thầy giáo đã cho chúng ta những câu hỏi và chỉ dẫn cho chúng ta những câu trả lời.

Trái ngược với điều xẩy ra trong các kỳ thi, những người thông minh và chịu khó sẽ không có thuận lợi ưu tiên. Tất cả mọi người đều có thể thi đỗ kỳ thi cuối cùng này, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, chỉ số thông minh. Chúa Giê-su sẽ không hỏi chúng ta xem có bằng cấp loại gì, học trường đại học nào, cũng như đã thành công trong sự nghiệp, hay đã kiếm được nhiều tiền không, hay thuộc đảng phái nào…

Bảng xét xử cuối cùng không nhằm mục đích làm chúng ta sợ hãi bởi nhấn mạnh tới sự kết tội sẽ đến, nhưng là một lời mời gọi chúng ta quan tâm đến giây phút hiện tại. Chính lúc này mà sự sống vĩnh cửu được khởi đầu, chính lúc này mà mỗi chúng ta có thể cho những người đói được ăn, thăm viếng những người đang sống trong nỗi cô đơn, giúp đỡ những người hàng xóm đang cần đến sự trợ giúp, an ủi những người đang trong cảnh tang chế….Chính lúc này mà chúng ta bảo đảm tình thân hữu với Chúa. Vâng “mỗi lần các con làm điều đó cho một trong những kẻ bé mọn nhất này là các con đã làm cho chính Ta vậy”. Amen.

Hiệp hành sống đức tin

Trong ngày kính trọng thể các Thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay, chúng ta có dịp chiêm ngưỡng lại bức tranh các Thánh Tử Đạo Việt Nam do họa sỹ Gordon Faggatter vẽ để trưng bày ở quảng trường Roma trong ngày đại lễ phong thánh 19/06/1988.

Bức tranh lấy cảm hứng từ câu 9 trong đoạn 7 của sách Khải Huyền: “Tôi đã thấy một đoàn người đông đảo không tài nào đếm nổi, thuộc mọi nước mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng rước ngài Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế”. Theo Thánh Gioan, đám người đông đảo tượng trưng cho muôn vàn vị Tử Ðạo trong lịch sử Giáo Hội hoàn vũ, đã bỏ mình vì trung kiên với Thiên Chúa, và hiện nay đang vinh hiển trong cõi hoan lạc trường sinh. Còn trong Giáo Hội VN, 117 Thánh Tử Ðạo tượng trưng cho trên dưới 130,000 bạn đồng hành đã anh dũng hy sinh mạng sống trong suốt 261 năm bách hại: từ sắc chỉ cấm đạo đầu tiên năm 1625, cho tới hết thời Văn Thân (1886).

Bức tranh các thánh tử đạo làm nổi bật tính hiệp hành đức tin tại miền đất truyền giáo Việt Nam

Gương mặt các vị tử đạo bao gồm mọi thành phần dân Chúa, đến từ hải ngoại, từ mọi miền đất nước. Các ngài  là các vị giám mục thừa sai dòng Đaminh Tây Ban Nha và Hội Thừa Sai Paris (MEP), các vị linh mục thừa sai và linh mục bản xứ Việt Nam, 1 chủng sinh, chánh chương, trùm trưởng, chức sắc, giáo dân, 1 thánh nữ là bà thánh Ine Lê Thị Thành

5 ngôi thánh đường đại diện cho 3 miền nam bắc…hình ảnh văn hóa, hoa sen, cánh đồng lúa…Và từ trên cao, Đức Kitô với một tay mở rộng đón đợi và một tay đang chúc lành, như muốn lập lại lời Ngài xưa : “Trong thế gian anh em sẽ còn phải gian nan khốn khó, nhưng can đảm lên, Thày đã thắng thế gian

Mẫu gương của sự hiệp thông, gắn kết bởi một niềm tin của các vị thánh tử đạo đã làm cho các ngài trở nên những người làm chứng tá cho lòng trung tín với Đức Ki-tô, đấng mà các ngài chọn để làm lẽ sống cho cuộc đời mình.

Như thế, là những hoa quả trổ sinh từ hạt giống các thánh tử đạo anh hùng, hôm nay mừng kính và tri ân các ngài đã gây dựng gia tài đức tin cho quê hương, chúng ta cần phải sống theo gương các ngài.

Giữa một văn hóa thực dụng và lối sống hưởng thụ hôm nay, giữa một cuộc sống văn minh, tiện nghi hôm nay, người tín hữu dễ bị cám dỗ chối bỏ niềm tin hoặc có thể dễ dàng thỏa hiệp để chối bỏ Tin mừng của Chúa  bởi một cuộc sống ích kỷ chỉ biết thỏa mãn những tham sân si của phận người.

Sự yếu đuối của thân phận mỗi người chúng ta thật dễ hiểu khi mà đức tin còn chưa bắt rễ sâu trong tâm hồn, khi mà gặp hoàn cảnh khó khăn và thử thách, người tín hữu dễ bị cám dỗ chối bỏ niềm tin của mình. Trong những chuyện kể về các vị tử đạo, chúng ta cũng đã thấy bên cạnh các vị linh mục và những tín hữu can trường giữ vững đức tin thì vẫn có người sợ hãi mà chối Chúa.

Vậy hôm nay dù không còn cảnh đổ máu để làm chứng cho Đức Tin nữa, nhưng mỗi chúng ta vẫn rất cần sự hiệp hành trong đức tin ngay tại mỗi gia đình nơi đó người cha người mẹ cần phải biết đào luyện đời sống đức tin cho con cái,  để  có thể đương đầu với những trào lưu bách hại đức tin của thời hiện đại hôm nay.

Cách cụ thể trong năm qua, mỗi tín hữu chúng ta đã thực thi việc canh tân đời sống đức tin cá nhân, và năm nay là canh tân đời sống đức tin cộng đoàn, mỗi tín hữu chúng ta cần liên đới với nhau bằng sự quan tâm, hiệp nhất, tích cực củng cố và tham gia đời sống các hội đoàn trong giáo xứ. Mỗi thành viên trong các hội đoàn, trong giáo xứ cũng hãy thực hành mỗi ngày những hy sinh từ nhỏ cho đến lớn qua sự trung thành với đức tin, vâng phục lề luật của Chúa và những đòi hỏi của bậc sống mình.

Mừng kính trọng thể các Thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay, chúng ta cùng xin Chúa cho mỗi người tín hữu chúng ta luôn ý thức địa vị cao quý là con cháu các thánh tử đạo anh hùng, để bằng sự trung tín và vâng phục trong niềm tin, không bao giờ để mất di sản đức tin quý báu đã được mua bằng giá máu các thánh tử đạo và không ngừng trao ban di sản vô giá này cho anh chị em xung quanh. Amen.

Hãy sẵn sàng

Trong tháng 11 này chúng ta đang sống những ngày cuối năm của niên lịch phụng vụ. Mùa thu cũng gọi là mùa lá rụng nhắc nhở chúng ta rằng mọi sự sẽ đi về đích điểm của nó.

Trong ba Chúa nhật cuối cùng này, Giáo hội cho chúng ta suy niệm các đoạn Tin mừng nói về sự tỉnh thức vì ngày Chúa đang đến gần.

Cụ thể bài Tin mừng hôm nay nói với chúng ta về các trinh nữ khôn ngoan và khờ dại. Từ ngữ khờ dại, theo nghĩa kinh thánh, không có nghĩa là không thông minh, nhưng muốn nói tới một người nghịch đạo, một người đối nghịch với Chúa. Từ ngữ này cũng được dùng trong Thánh vịnh 14, 1, đó là: “Kẻ ngu si tự nhủ: “Làm chi có Chúa Trời! “. Trong các sách Tin mừng, thì từ ngữ “ khờ dại” được dùng để chỉ: “ người ngu dại xây nhà trên cát.Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành”. Như vậy, dụ ngôn nói tới sự khờ dại theo chiều kích thiêng liêng.

Tóm lại dụ ngôn này áp dụng cho mỗi chúng ta: đôi khi chúng ta cũng giống như các trinh nữ khôn ngoan biết chuẩn bị dầu đèn, nhưnng cũng có lúc thì lại giống như các trinh nữ khờ dại chỉ biết sống nhất thời không biết lo xa.

Như kinh nghiệm cho thấy thì con người và con vật đều có thói quen dự trù và tích trữ. Khi mùa đông gần đến các con gấu chuẩn bị cho việc ngủ đông, con gấu trúc thì tìm những nơi ấm áp và yên tĩnh. Các con sóc thì nhặt những hạt dẻ tha vào tổ để dự trữ thức ăn cho mùa đông. Con người cũng biết trang bị cho mình chăn áo ấm, giầy ủng và lò sưởi để đón mùa đông đến. Vậy con vật cũng như con người đều tiên liệu và cẩn trọng, khôn ngoan và tỉnh thức trong các hoạt động.

Trong đời sống chúng ta thường gặp phải những lúc khó khăn mà nhờ có sự tích lũy trong sự hiệp thông của tình thương, sự thông cảm với nhau giúp cho chúng ta vượt qua. Khi đó chúng ta đặt câu hỏi “làm thế nào mà tôi có thể vượt qua được?” Đó là sức mạnh của sự từng trải, sự kiên nhẫn, niềm hy vọng và tình yêu cho phép chúng ta thu lượm được hoa trái từ một sự tiên liệu trong kiên trì và hiểu biết.

Ngược lại, có thế chúng ta cũng đã kinh nghiệm được cái giá của việc không biết tiên liệu: khi mất công ăn việc làm cách bất ngờ, khi thiếu quan tâm làm mất đi một tình bạn, khi để cho những bất đồng và cãi vã dẫn tới ly thân và ly dị . Sự khác biệt giữa các trinh nữ khôn ngoan và các trinh nữ khờ dại là khả năng biết tiên liệu mà chuẩn bị dầu đèn.

Một câu hỏi đặt ra là liệu 5 trinh nữ khôn ngoan có ích kỷ khi họ không muốn chia sẻ dầu cho 5 trinh nữ kia? Ở đây Tin mừng không nói về lòng bác ái cho bằng nhấn mạnh điểm quan trọng là: chung cuộc thì mỗi người phải chịu trách nhiệm về sự chọn lựa của mình. Chúng ta sẽ không được cứu độ bởi vì nhà có người đi tu làm linh mục, làm tu sỹ, hay có bố hay mẹ ngày đêm lần hạt, đi thờ đi lễ, hay có con cái làm việc trong các hội từ thiện…Mỗi người phải trả lẽ riêng mình về điều phải làm hay thiếu xót không làm. Ai có phận của người đó. Chúa Giê-su nhấn mạnh về trách nhiệm của mỗi người về sự chọn lựa.

Có người cho rằng niềm tin ki tô giáo là cái gì đó xa lạ, một niềm tin chỉ hướng tới cái gì đó sau cái chết, những người đi đạo chẳng quan tâm gì đến hiện tại…Nhưng thực sự hoàn toàn ngược lại. Niềm tin ki-tô giáo mời gọi chúng ta hành động ngay lúc này, không được lãng phí thời gian được ban cho chúng ta. Sự sống vĩnh cữu bắt đầu ngay lúc này và thời gian ban tặng cho chúng ta như một quà tặng để chúng ta mở con mắt tâm hồn làm những điều tốt lành bao nhiêu có thể.

“Hãy sẵn sàng”. Vấn đề ở đây không phải là ngồi để xem lúc nào mình sẽ chết, nhưng là luôn sẵn sàng cho việc gặp gỡ Thiên Chúa.

Bạn sẽ làm gì nếu bạn biết rõ bạn chỉ còn sống đúng một ngày nữa thôi?” Đó là chính câu hỏi của một nhà giáo đã đặt cho 625 học sinh người Đức trong 12 trường và có kết quả:

20% được hỏi liền trả lời: “Chúng sẽ dùng thời gian còn lại để uống say sưa, hút ma túy và vui chơi cho thoả thích”.

Cuối cùng có một nữ sinh 18 tuổi trả lời: “Tôi sẽ dành thời gian còn lại để chuẩn bị cho giờ cuối cùng của tôi. Tôi sẽ dành buổi tối cuối cùng để đến gặp Chúa và cảm tạ Chúa đã ban cho tôi môt đời sống hạnh phúc và đầy đủ”.

Chúa đến bất chợt, hôm nay, ngày mai hay một ngày gần đây. Vậy chúng ta phải làm gì để chuẩn bị cho giờ đó? Hay chúng ta chỉ mãi sống trong nếp sống cũ?

Các tín hữu chúng ta không sống với cuốn lịch trong tay, để cố mà đoán xem ngày mà Thiên Chúa sẽ đến, những là sống với một cái la bàn để giúp cho chúng ta hướng đi mà tiến tới cấp bến bình an. Và khi mà ngày của sự chết sẽ đến, có thể là một tuần nữa, hay nhiều năm nữa, thì chúng ta vẫn cứ sẵn sàng với dầu đèn trong tay.

Dầu của lòng bác ái làm cho cây đèn đời sống của chúng ta luôn cháy sáng vì chính Chúa đã nói: “ mỗi lần anh em làm những điều này cho những kẻ bé nhỏ nhất của ta đây chính là làm cho ta vậy”. Vâng Thiên Chúa cho chúng ta thời gian để chúng ta có thể chuẩn bị thật tốt cho ngày Chúa đến. Và như thế những ai chuẩn bị sẵn sàng, sẽ được vào dự tiệc cưới trên trời. Amen.

Nói mà không làm

Trong trong các đoạn trước của Tin Mừng Thánh Matthêu, Chúa Giêsu thường dùng các dụ ngôn để lên án những người Pha-ri-sêu: như dụ ngôn người tá điền sát nhân, hay dụ ngôn những người khách được mời dự tiệc cưới.

Nhưng lần này, Chúa Giêsu công khai lên án họ, và Ngài tố cáo họ như thế trước đám đông dân chúng, đó là: “họ nói mà không làm”.

Và những điều lên án sau đó sẽ ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn khi Chúa nói họ là: “Những người dẫn đường mù quáng, những ngôi mộ tô vôi trắng, những loài rắn độc, những đứa con của những kẻ sát nhân! “.

Vậy lẽ nào Chúa Giêsu là Đấng hiền lành mà lại nói những lời thế? Tại sao Chúa lại có cách đối xử phũ phàng như vậy? Thưa:

Bởi vì những người pharisêu đã cho họ là người tuân thủ và áp dụng Lề luật, và đã tự trao cho mình quyền lực bất khả xâm phạm trong xã hội Do Thái, như: quyền nói nhân danh Chúa, quyền xác định điều gì được phép và điều gì là bị cấm, quyền đánh giá mọi người theo tiêu chuẩn mà họ đặt ra.

Với chính Chúa Giêsu, họ còn ngạo mạn thách thức: “Ai cho ông quyền làm điều đó “.

Ông nên nhớ là: “Chúng tôi không trao cho ông bất kỳ quyền hạn nào để ông được hành động như thế.”

Và người pharisêu chẳng quan tâm và ghé mắt đến: người yếu đuối, người nghèo, người tàn tật, người tội lỗi, người không phải Do Thái.

Và trên thực tế, họ cũng loại trừ Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa của họ là Luật, Luật này chỉ dùng để thiết lập quyền lực của họ.

Chính vì vậy mà trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy trước hết Chúa Giêsu trong cơn giận dữ, đã lớn tiếng phê phán để cho người ta biết tôn kính Thiên Chúa.

Chúa sẽ không bao giờ chấp nhận việc con người phục vụ Chúa để rồi biến Ngài thành công cụ chính trị hoặc thành bình phong cho những âm mưu của con người.

Chúa đã lật bàn của những kẻ buôn tiền trong Đền Thờ,

Chúa còn mạnh mẽ hơn nữa khi lật đổ vị thế của những kẻ buôn bán Thiên Chúa.

Tiếp đến Tin mừng hôm nay còn cho thấy Chúa Giêsu cũng đã lên tiếng để người ta biết tôn trọng con người: đó là phải dỡ bỏ những gánh nặng đang đè bẹp con người, phải giải thoát con cái Thiên Chúa khỏi những gánh nặng ấy và đập tan sự kiêu ngạo của những người tự gọi mình là Thầy.

“Đừng gọi ai là Cha vì anh em chỉ có một Cha ở trên trời… Ta nói cho anh em biết rằng tất cả anh em đều là anh em.”

Chúng ta cần hiểu rõ ở đây: Chúa Giêsu không lên án chi tiết này hay chi tiết kia về hành vi của các luật sĩ và người Pha-ri-sêu, nhưng Ngài lên án toàn bộ thái độ của họ, cách suy nghĩ của họ, tâm trí của họ, quyền lực giả tạo mà họ tự gán cho mình.

Từ đoạn Tin mừng này trở đi, sẽ diễn ra một cuộc chiến tổng lực giữa những người cứng lòng này với Chúa Giêsu. Bởi vì điểm chính yếu trong cuộc xung đột chính là người dân: đó là cuộc xung đột giữa Chúa Giêsu hành động vì dân và những người của Lề luật đã bị bóp méo.

Và từ nay trở đi kết quả của cuộc chiến là điều không thể nghi ngờ: “vua chúa thế gian này” sẽ đạt được chiến thắng cuối cùng trước Chúa Giêsu theo lẽ thế gian.

Không phải vô cớ mà Thánh sử Mátthêu nhớ lại những lời gay gắt của Chúa Giêsu, bởi vì:

Sau cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, những Kitô hữu đầu tiên đã bị người Do Thái chèn ép.

Và trong các cộng đồng Kitô giáo, có những người Do Thái cải đạo muốn duy trì các yêu cầu của Luật, và họ muốn điều khiển người khác.

Điều này bình thường vì ngay từ cộng đoàn sơ khai, giữa các Kitô hữu có những người đóng các vai trò, lãnh đạo khác nhau: nhưng điều quan trọng mà Chúa Giê-su muốn nhắm tới, đó là chính trong tình huynh đệ và sự phục vụ mà những chức năng này phải được thực hiện. Không có vấn đề về trang phục, phù hiệu, địa vị danh dự, danh hiệu: “Đừng mang danh hiệu Rabbi – Thầy,” vì Chúa Giêsu đã dạy: “ tất cả các anh em đều là anh em và các anh em chỉ có một Thầy duy nhất, đó là Chúa Kitô”.

Bây giờ, vị Thầy Giê-su này không giống như những người khác, Ngài có địa vị trái ngược với những gì thế gian nhìn thấy nơi một bậc thầy hay một nhà lãnh đạo.

Ngài thích kẻ yếu và sự yếu đuối của họ hơn kẻ mạnh và quyền lực.

Ngài đã quỳ gối xuống trước các môn đệ để rửa chân cho họ.

Và Thánh Gioan, chứng nhân cho đời sống của Giáo hội ngay từ đầu, đã biết rõ lý do tại sao ngài kể lại việc rửa chân tại phòng tiệc ly, trong khi ba sách Tin Mừng khác đã trình thuật về việc thiết lập Bí tích Thánh Thể.

Thánh Gioan nhìn thấy trong cuộc đời của Chúa Giêsu chỉ có thông điệp tình yêu của Ngài. Và Người cứ lặp đi lặp lại: “Hỡi các con bé nhỏ của Cha, hãy yêu thương nhau”.

Vậy chúng ta hãy tự đặt cho mình câu hỏi ngày lúc này và ngay hôm nay là: mối bận tâm lớn nhất của đời sống chúng ta có phải là như vậy không? Amen.

Mối Phúc Thật

Bài giảng trên núi mở ra với các Mối Phúc Thật. Thật là tuyệt vời khi con đường tiến về Nước trời, không khởi đi từ những đòi buộc như: bạn phải làm điều này, phải làm điều kia…” nhưng là bởi sự lặp đi lặp lại: phúc thay cho bạn”. Chúa Giê-su mở ra một con đường cho hạnh phúc, cho niềm vui. Ơn gọi của các tín hữu, chính là tìm kiếm hạnh phúc.

Từ ngữ “ Phúc thay”, được nói tới 55 lần trong Tân Ước. Điều đó cho thấy đạo của Chúa Giê-su không phải là đạo buồn sầu, hướng về những gì là tiêu cực, nhưng là một con đường giúp cho mọi người được hạnh phúc.

Các mối phúc không phải là một loại thuốc an thần thiêng liêng, giúp chấp nhận các khó khăn của đời sống để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn. Các mối phúc đây là một lời mời gọi và là một sứ mạng được trao phó cho chúng ta là những người đón nhận Tin mừng.

Ngay sau các mối phúc, trong bài giảng trên núi Chúa Giê-su giải thích điều mà mỗi người phải làm mỗi ngày để được hạnh phúc: như anh em nghe luật dạy người xưa rằng: đừng giết người. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết là đừng nguyền rủa, cũng đừng làm cho anh chị em mình phiền lòng. Hay luật dạy rằng đừng ngoại tình, còn Thầy, Thầy bảo cho anh chị em biết là hãy giữ đôi mắt và tầm hồn trong sạch. Cũng thế với luật: mắt đền mắt, răng đền răng, thì Thầy bảo cho anh em biết là đừng để mình nuôi lòng hận thù; nhưng hãy là người kiến tạo bình an. Hoặc luật dạy: hãy yêu thương người thận cận và ghét kẻ thù. Nhưng đối với Chúa Giê-su, thì Ngài lại dạy là hãy yêu thương kẻ thù và làm những điều tốt cho những kẻ ghét anh em. Và cuối cùng đối với lời dạy: của lễ dâng trên bàn thờ phải là ưu tiên, thì Chúa Giê-su lại dạy: “khi anh dâng của lễ trên bàn thờ mà chợt nhớ có người anh em đang lỗi phạm đến anh, thì hãy để của lễ trước bàn thờ và đi làm hòa với người anh em đó trước đã rồi mới về dâng của lễ”.

Như vậy, theo lời dạy của Chúa Giêsu thì chỉ có hạnh phúc đích thật khi tình yêu được trao ban cho người khác. Đó chính là điều làm nên các mối phúc cũng như là phần thưởng Nước Trời cho những ai đã làm những điều bé mọn cho anh chị em xung quanh khi Đấng phán xử nói với họ: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa.

Chúa Giê-su dạy về các mối phúc và chính cuộc đời của Chúa Giê-su chính là chìa khóa để hiểu các mối phúc. Ngài là Đấng không nỡ bẻ cây lau bị dập, không nỡ dập tắt tim đèn còn khói. Ngài nếu gương cho chúng ta: hãy học cùng ta vì ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.

Tin mừng về các mối phúc thật giới thiệu cho chúng ta về Chúa Giê-su là Đấng đã xoay mình về những người đau ốm, tàn tật, liệt lào, và đau khổ. “ Ngài thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ bơ vơ, vất vưởng, như đàn chiên không người chăn dắt”. Chúa Giê-su tự đồng hóa với những người đau khổ, khi Ngài nói: “điều mà anh em làm cho một trong những người bé mọn đây…là làm cho chính Ta vậy”.

Trong bài giảng trên núi, Chúa Giê-su biểu lộ như là một Mai sen mới đến để quy tụ dân Thiên Chúa. Ngài ban bố lề luật Nước trời và mời gọi người nghe thay đổi đời sống, hoán cải, và có cái nhìn mới đối với mọi sự.

Vậy ngay từ lúc này, mỗi chúng ta cần mang lấy một lối sống mới, và điều đó là nền tảng của niềm vui của các mới phúc thật. Vấn đề là biết chọn lựa những giá trị có thể làm biến đổi chúng ta, và mang đến nhiệt huyết cho mọi người xung quanh. Các mối phúc muốn biến con tim bằng đá của chúng ta thành con tìm bằng thịt.

Trong một xã hội đẫy rẫy những bạo lực, hận thù, bất khoan dung hôm nay, cụ thể là cuộc chiến tranh giữa Nga và Ucraina vẫn đang tiếp diễn, mới đây lại xẩy ra xung đột tại Israen gây nên bao nhiêu bất hạnh cho dân thường…, Thiên Chúa hôm nay đề nghị chúng ta một sự chọn lựa khác biệt: không phải là ước mong mình sẽ là số một, là giàu nhất, mạnh nhất…nhưng là ước mong trở nên những con người của hòa bình, sẻ chia và tương trợ lẫn nhau. Cần phải thay đổi cái tâm tính ích kỷ của mỗi chúng ta: lúc nào cũng để cao cái tôi, thành một tâm tính huynh đệ, đượm tình hiệp thông.

Kính thưa…Xung quanh chúng ta đã có biết bao nhiêu vị thánh của hòa bình, như Mẹ thánh Têrêsa thành Calcutta, thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II, hay các con người kiến tạo hòa bình như các bậc vĩ nhân của các thời đại hôm nay…Những chứng nhân như thế cũng đang tiếp tục xuất hiện trong mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn mà chúng ta đang sống. Họ làm cho chúng ta hiểu rằng một người mà thôi cũng có thể làm nên một sự khác biệt quan trọng trong đời sống của mọi người.

Chuyện kể rằng tại một ngôi làng kia, đang chịu cảnh nghèo đói bởi đất đai thì khô hạn và cằn cỗi, bà con giáo dân đến xưng tội với cha xứ. Để ra việc đền tội, vị linh mục trẻ đã trao cho mỗi người một hạt cây và họ phải trồng nó để được tha thứ. Có thể nói là những tín hữu này đã phạm nhiều tội lắm bởi vì sau ba mươi năm, số cây mà họ trồng đã tăng trưởng và làm cho cả làng trở nên mát mẻ, làm cho cảnh hạn hán không còn và làm cho đời sống của làng này trở nên xanh tươi. Vâng, kính thưa…với sự sáng suốt đó mà vị linh mục trẻ đã thay đổi đời sống của mọi người trong cả làng quê đó.

Quả vậy, Chúa Giê-su hôm nay mời gọi chúng ta hãy thực hiện đồng thời bằng việc hoán cải và thay đổi thế giới: Phúc cho những ai kiến tạo hòa bình, họ sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Amen.

Rao giảng Tin mừng

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN

KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO

Vào Chúa nhật 30 thường niên, tại Nhà thờ Chính Tòa sẽ diễn ra Phiên khai mạc cuộc điều tra án phong chân phước và phong thánh cho Đức Cha Francois Pallu cấp giáo phận. Đây là một sự kiện quan trọng với Tổng Giáo phận Hà Nội cũng như với toàn thể Giáo Hội tại Việt Nam.

Như chúng ta biết thì sau Cha Alexandre de Rhodes, Dòng Tên, Đức Cha François Pallu và Đức Cha Lambert de la Motte là những thừa sai đầu tiên của Hội Thừa Sai Hải ngoại Paris (MEP) đến truyền giáo tại vùng Viễn Đông theo sắc lệnh của Tòa Thánh vào năm 1659, thiết lập hai địa hạt tông tòa đầu tiên tại viễn đông là Đàng trong và Đàng ngoài tại Việt Nam. Các ngài là những người có công khai phá mở đường cho các thế hệ thừa sai sau này tiến bước.

Tiếp nối các vị thừa sai, tất cả đoàn dân chúa là mỗi tín hữu chúng ta hôm nay cũng vậy, đều có chung một lý tưởng, đó là làm sao để Tin Mừng cứu độ của Chúa Giêsu đến với các dân tộc xa xôi. Lời của Đấng Phục sinh nói với các môn đệ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (x. Mt 28,16-30) vẫn đang thôi thúc chúng ta.

Sự thôi thúc nơi tâm hồn mỗi tín hữu chúng ta được soi sáng bởi sứ điệp truyền giáo năm nay của Đức Thánh Cha Phanxicô qua việc suy niệm bài Tin mừng của thánh Luca tường thuật về biến cố Đức Ki-tô phục sinh gặp hai môn đệ trên đường Emmaus. Ba hình ảnh mà Đức Thánh Cha gợi lên sẽ để thôi thúc và đổi mới lòng nhiệt thành rao giảng Tin mừng trong thế giới ngày nay.

Hình ảnh thứ nhất : Lời Chúa soi sáng và biến đổi các tâm hồn. Thực vậy, khi hai môn đệ trên đường Emmaus đang trong tâm trạng buồn bã thất vọng ê chề đã được Chúa Giê-su phục sinh hiện ra và đồng hành. Và lòng các ông đã bừng cháy lên niềm hy vọng khi được Chúa Giê-su giải thích Kinh thánh cho các ông. Như vậy giống như khi xưa hôm nay Chúa Giê-su tiếp tục gần gũi và đồng hành khi những người môn đệ truyền giáo cảm thấy mất phương hướng, chán nản, sợ hãi trước những thử thách và bách hại. Như vậy như Đức Thánh Cha nói thì « chúng ta đừng để mình bị cướp mất hy vọng » trong sứ mạng loan báo Tin mừng.

Hình ảnh thứ hai : Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và tột đỉnh của sứ mạng truyền giáo. Sau khi lòng hai môn đệ bừng cháy vì nghe giải thích Kinh Thánh, các ông đã được thôi thúc mời Chúa Giê-su ở lại với họ khi trời sắp tối. Chính lúc quây quần bên bàn ăn, mắt họ đã mở ra và nhận ra Chúa khi Chúa bẻ bánh. Như vậy mỗi lần tham dự Thánh lễ là mỗi lần người tín hữu được đón nhận tấm bánh Chúa Giê-su Thánh Thể được bẻ ra, chia sẻ và được ăn vào lòng. Chúa Giê-su chính là tấm bánh được bẻ ra để nuôi dưỡng đời sống đức tin của mỗi tín hữu và làm cho đức tin của họ được trở nên sống động hơn bao giờ hết. Và như thế mọi môn đệ, mọi tín hữu được kêu gọi trở nên giống như Chúa Giê-su, trở nên tấm bánh được bẻ ra cho thế giới.

Hình ảnh thứ ba : Đôi chân mỗi tín hữu lên đường hân hoan kể cho người khác biết về Chúa Ki-tô phục sinh. Như hai môn đệ sau khi nhận ra Chúa Ki-tô phục sinh đã hân hoan vui mừng lên đường trở về Giê rusalem loan báo Tin mừng phục sinh cho những người khác. Việc gặp gỡ Chúa Giê-su phục sinh đã biến đổi tâm hồn người môn đệ để đôi chân rảo nhanh bước đi loan báo Tin mừng. Hình ảnh đôi chân bước đi được Đức Thánh Cha nhấn mạnh để cho thấy giá trị trường tồn của sứ mạng truyền giáo. Sứ mạng mà Chúa Giê-su phục sinh trao phó cho Giáo Hội để rao giảng Tin mừng cho mọi người và mọi dân tộc, cho đến tận cùng trái đất.

Kính thưa…Ba hình trên trong câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmaus đã được Đức Thánh Cha khai triển trong sứ điệp truyền giáo năm nay đã hun đúc lòng nhiệt thành truyền giáo nơi mỗi tín hữu chúng ta, và cũng là một lời mời gọi mỗi tín hữu chúng ta sống tinh thần hiệp hành truyền giáo. Cùng nhau bước đi với Chúa Giê-su phục sinh, để lắng nghe lời Chúa và đón nhận Chúa vào trong chính cuộc đời mình để mỗi người trở nên một Ki-tô hữu, là người mang Chúa Ki-tô, sẵn sàng mở ra với mọi người để cung nhau bước đi trên con đương bình an và cứu độ mà Chúa Ki-tô phục sinh đã ban tặng cho toàn thể nhận loại.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã từng nhắn nhủ rằng : « nhiệm vụ truyền giáo phải là nhiệm vụ hàng đầu » và chúng ta ‘không thể thụ động và thản nhiên ngồi đợi trong các nhà thờ của chúng ta ». Vậy, bắt đầu từ hôm nay, như các môn đệ Emmaus, như các nhà thừa sai truyền giáo khi xưa đã đem Tin mừng cứu độ đến với đất nước Việt Nam này, chúng ta hãy rảo nhanh bước chân, lên đường canh tân đời sống đức tin và sống đức tin mỗi ngày một sống động hơn để làm sao cho gia tài Đức tin tại mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn chúng ta được trở phong phú. Tức là làm thế nào để đời sống mỗi tín hữu trở nên đạo đức, và con số những người tin theo Chúa mỗi ngày được gia tăng.

Có câu chuyện kể ở bên nước Pê-ru có một loại cây rất ngộ nghĩnh, người ta bản xứ gọi nó là “cây làm mưa”. Lá nó hút hơi nước trong không khí, rồi nhỏ xuống như những giọt sương mai. Vì thế, chung quanh nó mặt đất lúc nào cũng ẩm ướt. Và trời càng nóng, thì nó càng nhỏ xuống nhiều nước.

Cây làm mưa này như một sứ điệp rất ý nghĩa trong bầu khí cầu nguyện cho việc truyền giáo hôm nay, đó là một một tín hữu chúng ta luôn được mời gọi trở nên như một cây làm mưa hữu ích cho tha nhân chung quanh đang khô khan nguội lạnh. Bằng đời sống đạo đức, chúng ta sẽ hút lấy ân sủng của Chúa, rồi bằng những hành động bác ái, chúng ta gieo ân sủng ấy cho tha nhân chung quanh. Amen.

Tiệc cưới Nước Trời

Ăn uống một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của con người, nó cần thiết đến nỗi người ta phải nói: “nhân dĩ thực vi thiên”, con người lấy việc ăn làm chủ yếu trong đời. Vì thế bữa ăn, bữa tiệc thường được tổ chức trong nhiều dịp: nhân một sự kiện, một kỷ niệm, một đám cưới, một ngày lễ hoặc một lý do nào đó. Đức Giêsu, trong ba năm rao giảng Tin Mừng, Ngài cũng được mời tham dự nhiều bữa tiệc khác nhau. Ngài luôn biến những bữa tiệc đó thành những diễn đàn để chuyển tải những thông điệp về ơn cứu độ đến cho mọi người. Các bài đọc chúa nhật tuần này nói về những bữa tiệc mừng để chuyển tải tới chúng ta sứ điệp của tình yêu và ơn gọi của con người trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

1.       Bàn tiệc Nước Trời

Trong sách Ngôn sứ Isaia 25, 6-11, tác giả hướng lòng con người về Bữa Tiệc Nước Trời. Trong bữa tiệc này, ta thấy người thết đãi là “Chúa các đạo binh”, khách được mời dự là tất cả các dân, nơi dọn tiệc  “trên núi này”, tức là núi Sion. Chỉ có Bữa Tiệc này mới hoàn toàn thỏa mãn mọi khát vọng của con người. Người dự không chỉ được thưởng thức những thức ăn ngon, mà còn được cất khỏi mọi buồn sầu, tủi hổ, tang chế. Đó chính là hạnh phúc Nước Trời được Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người không phân biệt ai.

Giống như Bàn Tiệc Nước Trời trong Cựu Ước của ngôn sứ Isaia, trong bài Tin mừng, Chúa Giêsu cũng ví Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình. Vị Vua này là hình ảnh của Chúa Cha, Người Con đây là Chúa Giêsu, với các khách mời dự tiệc không còn giới hạn nơi một số người nhưng được mở rộng cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, Chúa Giê-su nhấn mạnh tới điều kiện để tham dự bữa tiệc cánh chung này: cũng như người dự tiệc cưới phải mặc áo cưới, thì người được mời gia nhập Nước Trời cũng phải có một nếp sống mới phù hợp với Tin Mừng.

2.       Hạnh phúc Nước Trời

Nói tới tiệc cưới là nói tới hạnh phúc, mà hạnh phúc Nước Trời, hay hạnh phúc thiên đàng là thứ hạnh phúc trọn vẹn nhất, vững bền nhất, hơn tất cả mọi thứ hạnh phúc ở trần gian và ai ai cũng biết là như thế.

Tuy nhiên, loài người chúng ta hay bị những cái lợi lộc trước mắt che khuất nên không nhìn thấy cái ở xa.

Cái trước mắt mà ta thấy hằng ngày là hạnh phúc mà trần gian mang lại qua việc làm ăn, buôn bán. Nói cách khác, ta thường hay lo những cái trước mắt: phải lo làm ăn để có một cuộc sống bảo đảm về vật chất. Thiên đàng thì còn xa, nên ta thường tặc lưỡi: cứ từ từ sau này sẽ tính, đời còn dài mà.

Suy nghĩ như thế có phần đúng, vì ta phải sống thực tế với hiện tại. Nhưng cũng có phần sai khi chỉ biết hiện tại mà không hề nghĩ tới tương lai.

Chúa không hề khiển trách chúng ta  lo cho cuộc sống vật chất. Nhưng lo đến nỗi quên hẳn cuộc sống mai sau thì sẽ đáng trách. Chúa Giê-su đã chẳng nói: “Tiên vàn chúng con hãy tìm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài, mọi sự khác Ngài sẽ lo cho chúng con” hay sao.

Vì chúng ta chỉ nhắm tới lợi lộc trần gian mà thường quên mất hạnh phúc mai sau, nên nhiều lần và nhiều cách Thiên Chúa nhắc nhở chúng ta: có thể là qua một thất bại hay những biến cố xã hội, có khi lại là một khoảng khắc mà ta tĩnh lặng trong giờ phút cầu nguyện, hay có những anh chị em được Chúa gửi đến với ta. Nhiều lúc ta chẳng những không nghe, lại còn khó chịu với những người ấy, cho là họ lắm điều nhiều chuyện rồi phản ứng tiêu cực với họ để rồi vẫn cứ tiếp tục sống trong tình trạng của những người được mời dự tiệc cưới mà không mặc áo cưới.

3. Y phục tiệc cưới

Nếu tiệc cưới là hình ảnh của Nước Trời, thì chiếc áo cưới tượng trưng cho nếp sống phù hợp với Nước Trời của những người được mời. Tự nhiên được mời vào Nước Trời đã là một hồng phúc lớn lao, cho nên để đáp lại thì quý ông bà, anh chị em cũng như tôi phải có một nếp sống phù hợp với Nước Trời. Bên cạnh việc lo cho hạnh phúc đời này, mỗi người chúng ta cần phải chuẩn bị hành trang cho hạnh phúc mai sau.

Mỗi một Kitô hữu chúng ta đều có một bộ y phục lễ cưới, đó là tấm áo trắng ngày chịu phép Rửa tội. Chiếc áo tượng trưng cho đời sống đạo. Hôm nay chúng ta hãy suy nghĩ về chiếc áo này đó là đời sống hiện tại của bản thân mình: Nó còn tinh tuyền hay trở nên đẹp hơn mỗi ngày hay không? Đối với mỗi người chúng ta, cần phải xác tín rằng chiếc áo tốt đẹp nhất của người dự tiệc Thiên Chúa chính là sống yêu thương như Đức Giêsu Kitô “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em”, đó cũng là lời Thánh Phaolô khuyên dạy: “Anh em hãy mặc lấy con người mới” (Ep 4,24), “Hãy mặc lấy Đức Kitô” (Gl 3,27).

Có người đã tưởng tượng ra Thiên đàng, hỏa ngục như hai bàn tiệc. Bàn tiệc dưới hỏa ngục cũng mâm cao cỗ đầy, thế nhưng khách dự tiệc thì ngồi ủ rũ buồn thiu, bởi vì mỗi người đều cầm trong tay một đôi đũa dài đến độ thức ăn thì gắp được, nhưng không thể đưa thức ăn vào miệng. Bàn tiệc trên Thiên đàng cũng y hệt, nhưng khác một điều, là thay vì gắp thức ăn cho vào miệng mình, người ta lại gắp thức ăn và đưa vào miệng người đối diện, vì thế ai cũng vui vẻ và  được ăn uống no nê.

Ước gì niềm vui bàn tiệc Thánh thể mà chúng ta tham dự và tôn kính vào mỗi Chúa nhật cũng được tiếp tục thể hiện trong đời thường của chúng ta. Mong sao cả cuộc sống chúng ta luôn được diễn ra trong tình liên đới chia sẻ và trao ban trong niềm vui, nhờ đó chúng ta cảm nhận được hạnh phúc đích thực của Nước Trời và thắng vượt được mọi khó khăn thử thách trong cuộc sống. Amen.