Đời sống đức tin

Tỉnh thức và cầu nguyện

Hôm nay chúng ta bắt đầu bước vào Mùa Vọng, là thời gian chuẩn bị mừng đại lễ Giáng sinh. Từ những ngày qua, các cửa hàng ở phố Hàng mã và các trung tâm mua sắm bắt đầu trưng cây thông và các đồ trang trí giáng sinh rất nhộn nhịp…và dịp này cũng là thời gian bận rộn của dịp mua sắm cuối năm. Cũng vì những ồn ào và bận rộn bên ngoài này mà mỗi chúng ta cũng dễ dàng bị cuốn theo nó mà thờ ơ với đời sống thiêng liêng, gắn bó với Chúa.

Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su gói gọn thái độ bàng quang này qua biến cố hồng thủy xẩy ra trong thời ông Nóe, lúc đó: “thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy.”(Kn 6-7)

Đức Giê-su không muốn nói những người thời ông Noe là xấu hoặc làm điều ác gì. Thực sự là họ biết tận hưởng niềm vui sống. Họ quan tâm đến các nhu cầu hoàn toàn bình thường của đời sống, vậy tại sao Chúa lại khiển trách họ “vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng.” Nói như thế Chúa Giê-su có ý trách cứ họ hời hợt trong lối sống. Những người thời đó có thể cho rằng cuộc sống đời này kéo dài mãi và họ quên mất sự mỏng dòn chóng qua của thân phận con người.

Cũng như thời ông Noe, nhân loại hôm nay cũng dễ chiều theo một đời sống như thế. Những tiến bộ về đời sống vật chất làm cho người ta ngủ mê trong những tiện nghi và đầy đủ. Nhiều người tin rằng thế giới như hiện tại không bao giờ kết thúc, cho đến ngày mà họ bị đánh thức một cách bất ngờ bởi một biến cố xẩy ra. Ví dụ như biến cố hai chiếc máy bay lao vào hai tòa tháp đôi tại thành phố New York, ngày 11/09/ 2003, hay các trận động đất và sống thần đã xẩy ra trong những năm qua…tất cả những biến cố đó cho thấy sự an toàn của đời sống này thật mong manh và người ta phải suy nghĩ về phận người.

Tòa tháp đôi ở thành phố New York từng là biểu tượng của sự giàu có, của sự thống trị quyền lực kinh tế của nước Mỹ. Vậy mà cuộc tấn công vào tòa tháp đôi này đã làm thay đổi lịch sử và thay đổi lối sống. Người ta có thể tự hỏi là có bao nhiêu người trong số 3000 nạn nhân tử vong hôm đó đã sẵn sàng cho cuộc gặp gỡ với Chúa…hay cũng như Chúa Giê-su nói trong bài Tin mừng: mọi người không hay biết gì cho tới khi nạn hồng thủy đến cuốn đi hết thảy.

Đối với đời sống mỗi chúng ta cũng thế, có thể là nạn hồng thủy như thế chưa bao giờ xẩy ra cho mỗi chúng ta. Nhưng thực ra trong đời sống chúng ta, có nhiều dự tính đã được hoạch định với biết bao nhiêu là tâm huyết, vậy mà đùng một cái nó tan thành mây khói. Có thể có nhiều nguyên nhân như là: mất việc làm, hay một căn bệnh bất ngờ xẩy đến do tuổi tác, hoặc một tại nạn làm cho mình mất khả năng làm việc, hay một người thân bất ngờ ra đi. Mọi cái dường như không được như ý hoặc vì thiếu điều kiện hoặc vì bắt chợt một cơn bệnh bất ngờ xẩy đến, hay một tại nạn bất ngờ làm cho mọi dự tính bị ngưng trệ. Chúa Giê-su hôm nay nói với mỗi chúng ta là: hãy tỉnh thức và hãy sẵn sàng bởi vì  không biết khi nào những điều đó sẽ xẩy ra với mỗi chúng ta.\

Mỗi chúng ta cần phải luôn tỉnh thức và chuẩn bị cho tất cả những điều có thể xẩy đến, không phải để lo lắng và sợ hãi nhưng là để biết dùng thời gian thích hợp mà xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn. Vậy việc Chúa đến sẽ là một cuộc viếng thăm mong đợi và được đón nhận với niềm vui.

Thời gian của Mùa Vọng không chỉ giới hạn vào 4 tuần lễ để chuẩn bị lễ Giáng sinh, nhưng Mùa Vọng còn giúp cho mỗi chúng ta có một đời sống, một tâm tình bền bỉ trong niềm hy vọng. Mặc dù còn nhiều thử thách như tai ương, bệnh tật, nghèo khổ, nhưng chúng ta tin rằng cuộc sống chỉ có giá trị khi được sống và cái chết không phải là tiếng nói cuối cùng. Mùa Vọng cho chúng ta lẽ sống trong tình yêu và hy vọng  ngay lúc này. Đó là lời mời gọi xây dựng một đời sống, một thế giới tốt đẹp hơn theo thánh ý Chúa.

Như sách ngôn sứ Isaia mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc thứ nhất, đã cho thấy viễn cảnh tốt đẹp được khơi lên nếu dân Giuda ăn năn sám hối và canh tân đời sống, và thời thái bình sẽ đến khi người ta “ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến”. Thật vậy, dự phóng của Chúa dành cho con người là một dự phóng của hòa bình và tình huynh đệ.

Mỗi tín hữu chúng ta hãy vững tin để biến đổi đời sống mình và sống giây phút hiện tại  mà không hề sợ hãi, bởi vì mỗi ki-tô hữu đều đang sống trong niềm hy vọng hướng tới ngày Nước Chúa hiển trị. Mỗi giây phút của đời sống là lúc mà Chúa Ki-tô đến gõ cửa lòng mỗi người chúng ta. Ước gì mỗi ngày và mỗi giờ, cuộc viếng thăm của Chúa không làm cho mỗi chúng ta bị bất ngờ, nhưng là niềm vui mừng bởi vì chúng ta cũng như người đầy tớ sẵn sàng chờ đợi và đón tiếp người chủ trở về và ngồi vào bàn ăn với Ngài. Vậy hãy sẵn sàng vì Chúa sẽ đến. Amen.

Hôm nay anh được ở trên thiên đàng với Ta

Cử hành phụng vụ Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội hoàn vũ suy tôn Chúa Giê-su Ki-tô là Vua vũ trụ.

Tại sao Giáo Hội lại mừng lễ Chúa Giêsu Kitô Vua vào Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ? Thưa vì Năm phụng vụ tượng trưng cho chu kỳ thời gian bắt đầu từ Thiên Chúa và cuối cùng trở về với Ngài. Thiên Chúa là khởi đầu và là cuối cùng của lịch sử. Kết thúc năm phụng vụ, Giáo Hội nhắc lại giây phút chấm dứt, giây phút vũ trụ đạt đến cùng đích tột cùng là Thiên Chúa, giây phút Chúa Giêsu Kitô trở lại trong vinh quang.

Vậy chúng ta suy tôn Chúa Ki-tô là Vua theo nghĩa nào?  Nếu đọc và suy niệm Lời Chúa hôm nay, thì chúng ta sẽ thấy Vua Ki-tô được mô tả trong Kinh Thánh không giống như các vị vua trần thế, như chính Ngài đã nói với quan tổng trấn Philatô: Nước tôi không thuộc về thế gian này. Bài Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy Vương quyền của Chúa Giêsu hoàn toàn mới lạ.

1.Vương quyền ấy là gì? Lời nhạo báng của quan quyền, lính tráng và người do thái cho thấy vương quyền của Chúa Giê-su: “Hắn đã cứu được người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki tô của Thiên Chúa, người được Thiên Chúa tuyển chọn” (Lc 23,35). Chúa Giê su chính là Đấng Ki-tô, người được Thiên Chúa xức dầu, là Đấng Thiên Sai. Lời tuyên xưng của tên trộm lành cũng cho thấy điều đó: Khi nào về Nước của Ngài, xin nhớ đến tôi.

2.Nước của Chúa Giê-su như thế nào? Nước của Chúa Giêsu không nhằm tư lợi cá nhân như các thủ lãnh khiêu khích, cũng không để ra oai quyền uy như bọn lính thách thức. Nước của Người là Nước Tình Yêu, vương quyền của Người là để phục vụ. Vì thế, Người đã không “xuống khỏi thập giá”, nhưng đã “kéo mọi người” lên với Người (Ga 13, 32). Người đã không “cứu lấy chính mình”, nhưng đã “cứu lấy mọi người” khỏi chết muôn đời nhờ cái chết của Người. Người đã sẵn lòng chịu chết giữa hai tên gian phi, như lời Kinh Thánh rằng : “Người đã hiến thân chịu chết và bị liệt vào hàng phạm nhân” (ls 53,12). Người đã hoà mình trong đám người tội lỗi, đã chịu chung số phận của họ, Người đã sống và đã chết giữa đám tội nhân, như lời đồn đại về Người : “Bạn của người thu thuế và phường tội lỗi” (Mi 11,19).

Như vậy, vương quyền của Chúa Giê-su là vương quyền của Yêu Thương.

3.Vương quyền tình yêu đó được biểu lộ qua hình ảnh một vị Vua đầu đội mạo gai, với ngai vàng là thập giá. Chính từ biểu lộ của một tình yêu hy sinh mạng sống vì người mình yêu như thế mà vị Vua Giê-su đã ban ơn cứu độ cho một thần dân đầu tiên là anh trộm lành: “Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”. Anh đã nhận được vào Vương quốc của Chúa Giê-su ngay lập tức vì anh đã tỏ lòng kính sợ Chúa và ăn năn sám hối. Anh biểu lộ thái độ của người sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ. Nghĩa cử của anh trộm lành đã đánh động nhưng tâm hồn thiện chí. Đó chính là viên sỹ quan sau đó cũng đã được Vua Giê-su chinh phục khi ông ta thốt lên lời ca ngợi và tôn vinh Thiên Chúa: Người này quả thật là công chính”.

Từ hơn 2000 năm qua, Vua Giê-su vẫn luôn đón nhận vào trong vương quốc tình yêu của Người  những thần dân biết duy trì tinh thần hiệp nhất, phục vụ và yêu thương. Và chỉ những ai biết sám hối ăn năn, tin nhận vào quyền năng và tình thương của Chúa như anh trộm lành, mới được vào trong vương quốc của Người. Chỉ những người biết kính sợ Thiên Chúa và tin tưởng vào sự sống đời sau mới được ban cho Nước Trời.

Xin cho mỗi chúng ta hôm nay suy tôn Đức Giê-su Ki-tô là Vua biết cộng tác với Chúa để xây dựng Nước Trời ngày trong cuộc sống này khi kiến tạo sự bình an và yêu thương. Amen.

Niềm hy vọng

Tin mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta câu chuyện những người theo phái Sát-đu-sê đến gặp Chúa Giê-su không phải vì họ muốn tranh luận nghiêm túc với Chúa về  ý nghĩa thần học cho bằng bắt lỗi và nhạo cười Chúa. Những kẻ buôn bán trong đền thờ bị Chúa Giê-su xua đuổi cũng chính là những người theo phái Sát-đu-sê này. Ngài đã kết án họ về việc biến Nhà cầu nguyện thành nơi buôn bán. Chính vì thế họ luôn tìm cách chống lại Chúa vì Chúa trở thành mối nguy hiểm cho họ.

Quả vậy, những người Sát-đu-sê khi chịu tránh nhiệm trông coi Đền thờ, đã bắt tay với Đế quốc Roma, để làm sao vơ vét được nhiều tiền bạc, quyền lực cũng như kiểm soát dân chúng. Sự sống sau khi chết chẳng làm họ bận tâm trong niềm tin và ước vọng tương lai của họ. Câu hỏi mà họ đặt ra cho Chúa Giê-su về việc ai sẽ là chồng của người phụ nữ đã cưới bẩy người chồng ở đời sau là để làm cho Chúa mất uy tín đối với dân chúng mà thôi.

Khi nhắc lại cho chúng ta rằng Thiên Chúa là Chúa của sự sống, bài Tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta suy nghĩ lại về niềm hy vọng Ki-tô giáo với khẳng định: cái chết chỉ là một cuộc vượt qua.

Trong thư thứ nhất của thánh Phêrô tông đồ, thánh nhân đã nhắc lại là mỗi người tin phải “luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của mình”. Niềm hy vọng này cho thấy một ý nghĩa khác với cái chết, nó không phải là kết thúc, nó cho thấy hành trình đời người không kết thúc ở nấm mồ. Các Ki-tô hữu tiên khởi đã diễn tả niềm hy vọng này khi dùng từ ngữ Hy lạp là “koimitérion”, để chỉ nơi mà người ta chôn cất những người chết. Từ ngữ này đã được dịch là là “vườn thánh”, muốn nói lên ý nghĩa là “ quán trọ” mà thôi.

Chính vì thế mà Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu Thessalonica rằng: “Thưa anh em, về những ai đã an giấc ngàn thu, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng. Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Giê-su đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giê-su, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giê-su.”

Ngày từ đầu tháng 11, chúng ta đã cử hành đại lễ mừng các Thánh trên trời và ngày mồng 2, là ngày tưởng nhớ các linh hồn đã qua đời. Tháng 11 là tháng nói lên sự liên đới của toàn thể nhân loại. Chúng ta cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời và những người này tiếp tục đồng hành với chúng ta trong cuộc hành hương tiến về cõi sống, như lời cầu nguyện trong sách lễ mà chúng ta đã cất lên: Lạy Chúa, xin ban cho họ được nghỉ yên muôn đời và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên các linh hồn ấy. Xin cho linh hồn những người qua đời được lên trước tôn nhan đấng tối cao”.

Là người tín hữu, mỗi chúng ta không phải là những người sợ nghĩ đến cái chết. Ông Pascal đã có một niềm tin vĩ đại khi nói rằng: Các hữu thể nhân loại vì không thể tìm thấy phương thế chữa cho thoát khỏi sự chết, nên đã đi tìm hạnh phúc khi tránh suy nghĩ đến nó.” Đối với tín hữu Chúa, họ không sợ suy niệm về sự chết để chuẩn bị cho giây phút quan trọng đón nhận cái chết đến với họ.

Chắc chắn chúng ta cần phải chiến đấu liên lỉ để chống lại bệnh tật, để giành giật lấy sự sống. Tuy nhiên, không nên quên rằng, nếu ý khoa đã nhiều lần thành công trong các trận chiến chống lại tử thần thì cuối cùng cái chết vẫn luôn là tiếng nói cuối cùng. Nhưng, cái chết không phải là tận cùng. Nó chỉ là một cuộc vượt qua, một sự biến đổi.

Đức Ki-tô nhắc lại cho phái Sát đu sê hôm nay rằng, Thiên Chúa của Abraham, của Isaac, của Gia cóp là Thiên Chúa của kẻ sống. Khi Chúa Giê-su nói tới Thiên Chúa của các bậc tổ tiên, tức là nói tới Thiên Chúa của sự sống và luôn trung thành với lời hứa của Ngài.

Niềm hy vọng ki-tô giáo khẳng định rằng sự sống, tình yêu, lòng tốt và bao dung , cũng như niềm khát khao công lý luôn ở trong mỗi chúng ta cũng như ở  trong cuộc đời của những người khác, những điều đó sẽ không bao giờ biến mất bởi sự chết.

Vậy mỗi chúng ta hôm nay một lần nữa hãy cảm nghiệm thật sâu sa hơn lời dạy của sách thánh, đó là “đừng buồn sầu và chán nản như những kẻ không có niềm hy vọng”, và hãy “hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của chúng ta”. Amen.

Phúc thay cho ai kiến tạo hòa bình

Bài giảng trên núi mở ra với các Mối Phúc Thật. Thật là tuyệt vời khi chương trình đời sống này được gửi tới các con cái Nước Trời, không khởi đi từ những đòi buộc như: bạn phải làm điều này, phải làm điều kia…” nhưng là bởi sự lặp đi lặp lại: phúc thay cho bạn”. Chúa Giê-su mở ra một lời mời gọi cho hạnh phúc, cho niềm vui. Ơn gọi của các tín hữu, chính là tìm kiếm hạnh phúc.

Từ  ngữ “ Phúc thay”,  được nói tới 55 lần trong Tân Ước. Đạo của Chúa Giê-su không phải là đạo buồn sầu, hướng về những gì là tiêu cực, nhưng là một con đường giúp cho mọi người được hạnh phúc.

Các mối phúc không phải là một loại thuốc an thần thiêng liêng,  giúp chấp nhận các khó khăn của đời sống để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn. Các mối phúc đây là một lời mời gọi và là một sứ mạng được trao phó cho chúng ta là những người đón nhận Tin mừng.

Ngay sau các mối phúc, Chúa Giê-su giải thích điều mà ta phải làm mỗi ngày để được hạnh phúc: như “ người ta nói với anh: đừng giết người. Còn ta, ta nói với anh là đừng nguyền rủa, cũng đừng làm cho anh chị em mình phiền lòng. Người ta nói với anh là đừng ngoại tình, còn ta, ta nói với anh là hãy giữ đôi mắt và tầm hồn trong sạch. Người ta nói với anh: mắt đền mắt, răng đền răng. Còn ta, ta nói với anh là đừng để mình nuôi lòng hận thù; nhưng hãy là người kiến tạo bình an. Người ta nói với anh: hãy yêu thương người thận cận và ghét kẻ thù. Còn ta, ta nói với anh là hãy yêu thương kẻ thù và làm những điều tốt cho những kẻ ghét anh em. Người ta nói với anh: của lễ dâng trên bàn thờ phải là ưu tiên. Con ta, ta nói với anh: khi anh dâng của lễ trên bàn thờ mà chợt nhớ có người anh em đang lỗi phạm đến anh, thì hãy để của lễ trước bàn thờ và đi làm hòa với người anh em đó trước đã rồi mới về dâng của lễ”.

Chúa Giê-su nói về hạnh phúc khi  tình yêu được trao ban cho người khác. Đó chính là điều làm nên các mối phúc cũng như là sự phán xét trong ngày chung thẩm: khi ta đói các người đã cho ta ăn; khi ta khát các người đã cho ta uống, khi ta mình trần các người đã cho mặc và khi ta đâu yếu, các người đã đến viếng thăm ta…

Chúa Giê-su chính là chìa khóa để hiểu các mối phúc. Ngài là Đấng không nỡ bẻ cây lau bị dập, không nỡ dập tắt tim đèn còn khói. Ngài nếu gương cho chúng ta: hãy học cùng ta vì ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.

Kính thưa…Tin mừng về các mối phúc thật giới thiệu cho chúng ta về Chúa Giê-su là Đấng đã xoay mình về những người đau ốm, tàn tật, liệt lào, và đau khổ. “ Ngài thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ bơ vơ, vất vưởng, như đàn chiên không người chăn dắt”. Chúa Giê-su tự đồng hóa với những người đau khổ, khi Ngài nói: điều mà anh em làm cho một trong những người bé mọn đây…là làm cho chính Ta vậy”.

Trong bài giảng trên núi, Chúa Giê-su biểu lộ như là một Mai sen mới đến để quy tụ dân Thiên Chúa. Ngài ban bố lề luật Nước trời và mời gọi người nghe thay đổi đời sống, hoán cải, và có cái nhìn mới đối với mọi sự.

Vậy ngay từ lúc này, mỗi chúng ta cần  mang lấy một lối sống mới, và điều đó là nền tảng của niềm vui của các mới phúc thật. Vấn đề là biết chọn lựa những giá trị có thể làm biến đổi chúng ta, và mang đến nhiệt huyết cho mọi người xung quanh. Các mối phúc muốn biến con tim bằng đá của chúng ta thành con tìm bằng thịt.

Trong một xã hội đẫy rẫy những bạo lực, hận thù, bất khoan dung hôm nay (giết người cướp của ở Thường tín…chặt đầu khủng bố ở Nice…), Thiên Chúa hôm nay đề nghị chúng ta một sự chọn lựa khác biệt: không phải là ước mong mình sẽ là số một, là giàu nhất, mạnh nhất…nhưng là ước mong trở nên những con người của hòa bình, sẻ chia và tương trợ lẫn nhau. Cần phải thay đổi cái tâm tính ích kỷ của mỗi chúng ta: lúc nào cũng tôi tôi tôi, thành một tâm tính huynh đệ, đượm tình hiệp thông.

Xung quanh chúng ta đã có biết bao nhiều vị thánh của hòa bình, như Mẹ thánh Têrêsa thành Calcutta, thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II, hay các con người kiến tạo hòa bình như các bậc vĩ nhân của các thời đại, như Gandhi, Martin Luther King, Nelson Mandela…Nhưng chứng nhân như thế cũng đang tiếp tục xuất hiện trong mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn mà chúng ta đang sống. Họ làm cho chúng ta hiểu rằng một người mà thôi cũng có thể làm nên một sự khác biệt quan trọng trong đời sống của mọi người.

Chuyện kể rằng tại một ngôi làng kia, đang chịu cảnh nghèo đói bởi đất đai thì khô hạn và cằn cỗi, bà con giáo dân đến xưng tội với cha xứ. Để ra việc đền tội, vị linh mục trẻ đã trao cho mỗi người một hạt cây và họ phải trồng nó để được tha thứ. Có thể nói là những tín hữu này đã phạm nhiều tội lắm bởi vì sau ba mươi năm, số cây mà họ trồng đã tăng trưởng và làm cho cả làng trở nên mát mẻ, làm cho cảnh hạn hán không còn và làm cho đời sống của làng này trở nên xanh tươi. Vâng, kính thưa…với sự sáng suốt đó mà vị linh mục trẻ đã thay đổi đời sống của mọi người trong cả làng quê đó.

Quả vậy, Chúa Giê-su hôm nay mời gọi chúng ta hãy thực hiện đồng thời bằng việc hoán cải và thay đổi thế giới: Phúc cho những ai kiến tạo hòa bình, họ sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Amen.

Khiêm tốn trước Thiên Chúa

Dụ ngôn người pharisêu và người thu thuế cho chúng ta thấy hai thái độ cụ thể.

Người Pharisêu muốn khẳng định bản thân và khoe khoang về phẩm cách của mình. Ông tự hào vì ông thuộc một tầng lớp khác, thuộc những người Pharisêu, tức là thành phần tách biệt khỏi dân chúng tầm thường. Vì thế ông tự kiêu về chính mình và đánh gia thấp người khác là những kẻ « tham lam, bất chính, ngoại tình, hay là không như tên thu thuế kia ». Trong khi tỏ mình cách kiêu căng, ông tỏ ra sự khinh miệt người khác. Ông qui chiếu về chính mình và cho thấy ông thiếu tình yêu thương và lòng tốt.

Ngược lại, người thu thuế bắt đầu cầu nguyện bằng thánh vịnh 50 : « Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi ». Ông không xét đoán người khác, nhưng xét đoán chính mình. Ông ta than thở về sự khổn khổ của mình vì tội lỗi ông đã phạm.

Nói tới người thu thuế, thời Chúa Giê-su, họ bị coi là tội lỗi vì cộng tác với Đế quốc La mã bóc lột dân chúng khi thu thuế nộp cho người La mã. Họ cũng lợi dụng nghề này để tham nhũng, vơ vét tiền của từ những người nghèo vào túi của họ. Họ không có bạn hữu nào khác ngoài những người bạn cùng làm một nghề thu thuế như họ. Họ bị khinh miệt bởi những người đồng bào của họ. Họ cũng khỉnh rẻ chính họ vì cái nghề mà họ đang làm. Trong sự khổ sở đó mà ông thu thuế này đã cậy dựa vào lòng thương xót của Thiên Chúa.

Tất cả các bài học của dụ ngôn dựa tên hai từ ngữ được nhấn mạnh trong câu đầu và câu cuối của dụ ngôn : câu đầu tiên cho thấy ông Pharisêu tự nhận mình là « người công chính », còn câu cuối lại cho thấy ông thu thuế trở về nhà mình thì được « nên công chính », tức là ông được công chính bởi Thiên Chúa ban cho ông.

Như chúng ta biết, Chúa Giê-su yêu thương tất cả mọi người và không phân biệt đối xử : ngài đón tiếp những người Pharisêu như ông Nicođêmô và Simon, đón tiếp bà Maria Madalena, những người nghèo khó, các trẻ em, người đau ốm, phụ nữ ngoại tình, chị samaria dân ngoại, người đàn bà góa, và cả những người thu thuế và tội lỗi.

Thiên Chúa không phá hủy nhưng chữa lành và ban thêm niềm hy vọng. Ngài không kết án nhưng là tha thứ. Ngài không đánh phạt nhưng giải thoát. Cây lau bị giập ngài không bẻ gẫy, tim đèn leo lét người không dập tắt.

Tin mừng hôm nay cho thấy : điều mà Thiên Chúa không chấp nhận đó là những so sánh bất công và những đánh giá tự mãn như ông Pharisêu : «  Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia ».

Trong bình diện chính trị, các ứng cử viên cũng thường hay đưa ra những bài diễn thuyết theo kiểu người Pharisêu. Dường như những ứng cử viên và các đảng phái chỉ biết đề cao bản thân và đảng của họ và dìm các ứng cử viên đối lập cũng như các đảng đối lập. Trong việc tranh cử, các ứng cử viên có thể dùng những mánh khóe, những lời nói gian dối, và mọi phương tiện khác để đạt được mục đích. Và thực tế là sau khi đắc cử, mấy khi họ giữ những lời họ hứa hẹn.

Bị ảnh hưởng với xã hội đề cao cá nhân, đề cao siêu nhân, chúng ta cũng thường tự cho mình hơn người khác, khi tìm kiếm chỗ nhất, địa vị cao, quyền lực, sự giàu có… ! Những ai không đáp ứng với tiêu chí và và ngang hàng với mình thì bị bỏ lại đàng sau, và bị coi thường.

Qua hai thái độ cầu nguyện này, Thiên Chúa muốn chúng ta suy gẫm về vị trí mà chúng ta đảm nhận trong đời sống và về những mối tương quan mà chúng ta phải có với Chúa và tha nhân.

Dụ ngôn của Chúa Giê-su gửi đến cho những ai tự cho mình hơn những người khác và những ai có xu hướng khinh thường những người không cùng đẳng cấp với mình trên bình diện tôn giáo, chính trị và xã hội.

Mỗi chúa nhật, chúng ta cử hành Thánh lễ bằng việc nhận ra rằng chúng ta là kẻ tội lỗi. Điều đó giúp mỗi người thấy được thân phận của mình để không lên mặt với người khác và không so sánh cũng như tự mãn với chính bản thân. Khi nhìn nhận rằng mình là tội nhân, có nghĩa là chúng ta đã sẵn sàng nhận sự tha thứ của Thiên Chúa với lòng biết ơn và khiêm tốn. 

Tham dự Thánh lễ chúa nhật là một dịp để chúng ta gặp gỡ nhau,  để cùng đón nhận lòng thương xót Chúa và sự dịu hiền của Ngài đối với mỗi người chúng ta. Chúng ta không được tự cho mình hơn người khác, bởi vì Chúa sẽ đón nhận những ai khiêm tốn, nhìn nhận thân phận yếu đuối của bản thân mình. Amen.

Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng

“Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng”…Lời thánh Phaolô cho thấy sứ mạng và bản tính của Giáo hội là truyền giáo.  Truyền giáo là ơn gọi của Giáo Hội, thì cũng là trách nhiệm gắn liền với mọi người Kitô hữu chúng ta. Bao lâu còn là Kitô hữu, bấy lâu còn phải loan báo Tin Mừng.

Loan báo Tin mừng bằng cách nào ? Thưa loan báo Tin mừng bằng cách « lên đường và ‘đi ra’ đến với người khác » như lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nhưng đâu là điểm tựa để người tín hữu có thể lên đường truyền giáo đúng nghĩa ?  Thưa, điểm tựa vững vàng nhất cho nhà truyền giáo hôm này là noi gương Chúa Giêsu.

Chúa Giê-su trong ba năm tại thế đã lên đường rời bỏ quê hương Nagiarét mà ngài đã gắn bó suốt 30 năm  để đến với dân ngoại, đến với những người bệnh tật, đui mù, nghèo khó và quỷ ám…Hành trang ngài mang theo là thể hiện tình yêu thương với mọi người, bằng cách : quên mình, xả thân vì người khác. Làm gương cho người khác qua hình mẫu: nói đi đôi với làm.

Đời sống của Chúa là : đến với người khác trước khi họ đến với mình, điều này thể hiện qua chính lời nói của Ngài: “chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì thầy ra đi cốt để làm việc đó.”

Lời của Đức Thánh Cha Phanxicô trong sứ điệp niềm vui của Tin mừng đã ghi rõ: Trung thành noi gương Thầy mình, Hội thánh hôm nay thấy tuyệt đối phải ra đi rao giảng Tin mừng cho mọi người, mọi nơi, mọi dịp, không do dự, không miễn cưỡng hay sợ hãi… dấn mình vào đời sống hằng ngày bằng lời nói và hành động (EG 23)

Vậy được mời gọi «  dấn mình vào đời sống hằng ngày bằng lời nói và hành động », chúng ta hãy học truyền giáo bằng đời sống cụ thể ngay tại gia đình mình. Xin được đề nghị ba điểm cụ thể :

a- Thứ nhất là cầu nguyện và hy sinh: Đây là  hoạt động đầu tiên của việc truyền giáo. Thánh Têrêsa Hài đồng Giê-su không đi truyền giáo nhưng lại trở thành quan thầy của các xứ truyền giáo nhờ vào đời sống cầu nguyện trong nhà dòng kín và bằng đời sống hy sinh liên lỷ. Thánh nhân đã tâm niệm: nhặt một cái kim vì lòng yêu mến Chúa cũng đủ cứu rỗi một linh hồn. Chuyện thuật lại rằng nhờ việc cầu nguyện liên lỉ cho một tử tội mà tử tội này lúc chịu hành quyết  đã  xin được xưng tội để ăn năn sám hối. Không ai có thể nói là tôi không có thì giờ để cầu nguyện và cơ hội để hy sinh.

b- Thứ hai là hiệp nhất yêu thương: Đức Kitô đã muốn được sinh ra và lớn lên trong gia đình thánh của thánh Giuse và Mẹ Maria. Vậy mỗi gia đình công giáo là “gia đình của Thiên Chúa” và không thể không tràn ngập bầu khí hiệp nhất và yêu thương. Việc học giáo lý, năng đi tham dự thánh lễ, đọc kinh cầu nguyện, tham gia các hoạt động tôn giáo là rất cần, nhưng cần phải đi đôi với nếp sống đạo đức nổi trội trong gia đình về sự hiệp nhất yêu thương, bầu khí này sẽ giúp cho  việc truyền giáo hữu hiệu, như lời Chúa Giê-su dạy: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ của Thầy là anh em hãy thương yêu nhau”. Một khi tất cả nếp sống của các gia đình công giáo phảng phất hương thơm của tình hiệp nhất yêu thương thì dù ở đâu, nếp sống ấy cũng là truyền giáo. Ví dụ: Một cô gái ngoại giáo yêu một chàng trai công giáo, bà con láng giềng trong giáo xứ thấy cô ta đẹp người đẹp nết, nên giục cô ta vào đạo ngay, nhưng cô trả lời: “Cháu cần tìm hiểu xem đời sống những người có đạo thế nào đã”. Sau một thời gian tìm hiểu gia đình bạn trai, cô thấy mẹ của bạn mình không chỉ siêng năng đọc kinh, dự lễ, mà còn là mối giây sống tình yêu thương hiệp nhất trong gia đình, bà cùng với chồng bảo ban nâng đỡ đời sống con cháu  và nhất là yêu quý và coi cô như con cái trong nhà. Không những thế bà còn tham gia công tác bác ái của các hội đoàn giáo xứ và khu phố bằng cả sự chân thành.   Cô gái in trong lòng hình ảnh tốt đẹp về gia đình của bạn trai và về đạo công giáo. Bởi đó cô nhất quyết xin theo học đạo để trở nên người con Chúa trước khi tổ chức đám cưới. Việc cô theo đạo không phải để lấy chồng nhưng vì cô thấy đạo công giáo là đạo tốt.

c- Điểm cuối cùng cần phải thực hiện để truyền giáo là làm chứng tá bằng sự hội nhập và xây dựng xã hội : Ngày hôm nay, xã hội đang phải đối diện với biết bao vấn đề : các tệ nạn tiếp tục nảy sinh, môi trường sống bị ô nhiễm trầm trọng, các giá trị đạo đức luân lý bị băng hoại. Chính vì thế nỗ lực của xã hội hôm nay là xây dựng nếp sống lành mạnh, có văn hoá, văn minh. Vậy ngay tại các gia đình công giáo, mọi thành viên sống chứng tá cho xã hội bằng chính việc tham gia và công tác tích cực vào việc loại bỏ các nếp sống không văn hóa và kém văn minh bằng việc bảo vệ môi trường sống được xanh sạch đẹp, loại trừ các tệ nạn như lô đề, cờ bạc, rượu chè và nghiện hút, cũng như bảo vệ sự sống con người ngay từ khi còn trong bụng mẹ để xây dựng một nền văn minh sự sống và tình thương.

Để kết luận, xin được trở lại nội dung Tông huấn «  niềm vui của Tin mừng » của Đức Thánh Cha Phanxicô, hướng dẫn Hội thánh thực hiện việc Tân phúc âm hóa, nhằm loan báo Tin mừng cho thế giới hôm nay, trong đó Đức Thánh Cha nhắn nhủ rằng : « nhiệm vụ truyền giáo phải là nhiệm vụ hàng đầu » và chúng ta ‘không thể thụ động và thản nhiên ngồi đợi trong các nhà thờ của chúng ta » chúng ta cần phải chuyển đổi từ một mục vụ thuần túy bảo tồn sang một mục vụ dứt khoát mang tính truyền giáo (EG 15). Vậy, những gì mà tôi và quý ông bà anh chị em chia sẻ với nhau trong ngày khánh nhật truyền giáo hôm nay là để khai triển một vài điểm nhấn cụ thể mà Đức Thánh Cha đã gợi lên trong lời dạy của ngài, mưu cầu thực hiện « một mục vụ dứt khoát mang tính truyền giáo » mà Ngài trăn trở để cho Tin mừng đến với muôn dân, cách riêng trên quê hương Việt Nam chúng ta.

Lạy Chúa, xin tuôn tràn ơn sủng của Ngài trên mỗi người chúng con để với nhiệt huyết tông đồ mà Chúa ban tặng, chúng ta trở nên những chứng tá nhiệt thành đem Tin mừng của Chúa đến với tha nhân và ước gì có nhiều người nhận ra tình thương của Chúa qua chính đời sống chứng ta đức tin hằng ngày của chúng con. Amen.

Cơ ngợi tình thương Thiên Chúa

CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN – NĂM C

Tin mừng hôm nay cho thấy thời Chúa Giê-su cũng như thời nay, sự biết ơn dường như hay bị lãng quên….đó là điều đáng buồn. Chính chúng ta nhiều lúc cũng thấy không muốn bày tỏ lòng biết ơn.

Một văn sỹ người Mỹ đã viết rằng: Nếu bạn nhặt được một con chó đang chết đói, bạn cho nó ăn và chăm sóc nó, nó sẽ biết ơn bạn, gắn bó với bạn và không cắn bạn. Đó là sự khác biệt giữa một con chó và một con người”. Lời phát biểu này có vẻ quá đáng và bi quan nhưng buồn thay nó lại phản ảnh thực tế như thế.

Chúng ta có cảm giác sự biết ơn không phải là thói quen của nhiều nơi và nơi nhiều người, mà đáng lẽ ra nó phải được biểu lộ nơi cửa miệng của mỗi chúng ta.  Cuộc sống hôm nay làm cho người ta tin rằng họ chẳng phải cậy nhờ ai nên chẳng cần biết ơn ai. Họ là chính họ và họ có thể tự lập với cuộc sống với sự tự nhủ rằng: điều mà tôi có, điều mà tôi là, tôi không cần ai giúp tôi ngoài chính tôi.

Mỗi chúng ta có thể tự đặt câu hỏi cho chính mình: tôi có tự cho mình là thông minh, tự chủ, đầy tài năng và thành công trong đời sống hay không? Tôi sẽ ra sao nếu không có cha mẹ, bạn bè, thầy dạy…tôi sẽ làm gì nếu tôi sinh ra ở vùng sâu vùng xa, ở những nơi không có điều kiện như ở những miền đất nghèo và hẻo lánh nào đó…

Nhiều người hôm nay khẳng định mình cho rằng không cần đến người khác, không cần đến Chúa. Họ độc lập không cần đến ai. Nhưng thực ra thì chúng ta đều nhận được từ người khác, sự sống, giáo dục, sức khỏe, tài năng. Không có họ ở bên, chúng ta sẽ không thể thành công như chúng ta đang có. Chính điều đó giúp cho mỗi chúng ta biết sống khiêm nhường, đơn sơ với lòng biết ơn.

Tin mừng hôm nay không chỉ nói đến lòng biết ơn. Người ngoại Samaria đã quay trở lại cám ơn Chúa Giê-su đã chữa cho ông khỏi mù, nhưng không chỉ có thế, ông còn quỳ sụp xuống để bày tỏ lòng kính trọng, như Tin mừng ghi rõ là ông ta “khi thấy mình được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giê-su mà tạ ơn”.

Trong thế giới tục hóa trong thế giới hôm nay, con người ta có xu hướng tục hóa đời sống, đánh mất cảm thức thiêng liêng. Ví dụ như việc trợ giúp tha nhân, bày tỏ tình thương những người nghèo, những việc mang tinh thần Tin mừng đó chỉ dừng lại ở bình diện nhân loại, chứ không phải qua đó mà nhận ra việc tạ ơn và  tán dương tình thương đến từ Thiên Chúa.

Trong khi đó, anh ngoại giáo này khi nhận được sự chữa lành đã không ngại “ quỳ xuống đất”, một cử chỉ nói lên sự thờ lạy và ngợi khen Thiên Chúa.

Một thực tế cho thấy hôm nay có nhiều người không muốn đi lễ Chúa nhật, hoặc nếu đi thì với thái độ vụ luật miễn cưỡng, để rồi tham dự với sự thờ ơ như tìm cách ngồi ở gốc cây, ngồi ở xa với sự thờ ơ lãnh đạm bằng việc coi màn hình điện thoại, hay nói chuyện riêng. Việc tham dự Thánh lễ như thế cho thấy một đời sống đạo biểu lộ một sự mất lòng tôn kính và thờ lạy đáng lý phải dành cho Chúa. Đối với những ai như thế, Chúa Giê-su cũng sẽ hỏi tới họ như trong Tin mừng rằng: Còn những người kia đâu? Chẳng lẽ họ không yêu mến Chúa hay sao?

Dâng lời cám ơn Chúa trước và sau bữa ăn. Cám tạ Chúa vào mỗi dịp cuối năm, về những gì đã lãnh nhận. Mỗi thánh lễ Chúa nhật quy tụ với nhau để dâng lời tạ ơn về những hồng ân đã nhận lãnh, về gia đình hạnh phúc, về bình an trong đời sống và lương thực hằng ngày và nhất là niềm vui được làm con Chúa. Đó là những nghĩa cử tốt đẹp mà những người con cái dâng lên Chúa.

Là Ki-tô hữu, không cần phải cầu nguyện dài dòng để xin ơn, nhưng là tạ ơn là cảm tạ Chúa. Từ “Tạ Ơn” muốn nói tới Thánh Lễ, tức là lễ tạ ơn, nói lên lòng biết ơn mà người con cái dâng lên Cha trên trời. Tham dự Thánh lễ là dự phần vào việc dâng lời tạ ơn này.

Vậy người ngoại giáo Samari trong Tin mừng không chỉ là người được ơn cứu độ, mà còn là biểu tượng của người biết tạ ơn, biết nói cám ơn, biết quỳ gối xuống.

Cử hành thánh lễ hôm nay là một cơ hội tuyệt vời để nói lên lòng biết ơn với Chúa, một sự diễn tả như là hành vi tôn thờ và tán dương…một bài ca của tình yêu dâng lên Chúa. Amen.

Đức Mẹ Mân Côi

Vào ngày 07 tháng 10 năm 1571, thủy quân ki-tô giáo với các chiến hạm đã đè bẹp hạm đội của Hồi Giáo tại Vịnh Lépand, thuộc Hy Lạp, giúp cho các nước Châu Âu thoát khỏi sự xâm chiếm của quân Hồi Giáo đang có tham vọng bành trướng sang Châu Âu. Chiến thắng của quân đội Ki-tô giáo đã cho thấy hiệu của của việc cầu nguyện mà Đức Thánh Cha Piô V (1566-1572) đã phát động bằng việc lần hạt Mân Côi là lời kinh mà Thánh Đaminh đã dùng để chiến thắng bè rối Albigois vào thế kỷ XIII.

Sau này Đức Thánh Cha Léo XIII (1878 – 1903) ĐGH Leo XIII ấn định Tháng Mười là Tháng Mân Côi và chọn ngày 07/10 để kính Đức Mẹ Mân Côi. Ngài đã viết 11 tông thư nói về kinh Mân côi, ban nhiều ân xá cho người đọc Kinh Mân Côi, ủng hộ việc xây dựng Thánh Đường Mân Côi tại Lộ Đức, thêm danh xưng “Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi” vào Kinh Cầu Đức Bà, viết hiến chương cho Hội Mân Côi, khuyến khích các tu sĩ Đa Minh truyền bá Kinh Mân Côi.

Theo dòng lịch sử đầy tràn sống gió và bi thương, dân Chúa đã cảm nghiệm được sự hiện diện, bảo trợ và an ủi của Mẹ Maria. Hơn nữa chính Mẹ ban cho chúng ta ân sủng và sức mạnh trong việc chiến đấu thiêng liêng, đầy cam go và khốc liệt để bảo vệ Giáo Hội. Trong đời sống mỗi chúng ta cũng đã cảm nghiệm được cuộc chiến đấu giữa ân sủng và tội lỗi. Chúng ta chỉ có thể có được sự trợ giúp tốt nhất đó là sự trợ giúp của Mẹ Đức Giê-su Ki-tô bởi vì Mẹ dạy chúng ta biết sống theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa, vì Mẹ là hoa quả của sự khôn ngoan này.

Như sách Châm Ngôn nói thì thật hạnh phúc cho chúng ta khi biết lắng nghe lời dạy khôn ngoan, khi biết tuân giữ đường lối thánh chỉ, nếu chúng ta đem ra thực hành tất cả những nguồn cảm hứng tốt lành này. Thật không có trường học nào hơn là cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi, vì khi đó chúng ta sẵn sàng lắng nghe Thiên Chúa để hoàn thành thánh ý Ngài và phục vụ cho Nước Trời.

Trong ngày kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi hôm nay, Giáo hội mời gọi chúng ta suy niệm bài Tin mừng về biến cố Truyền Tin: Thiên Chúa đến thỉnh cầu một nữ tỳ khiêm nhu tham dự vào chương trình cứu độ của Ngài. Lời thưa “xin vâng” của Trinh nữ Maria đã mở ra cho chúng ta những cánh cửa của hồng ân cứu độ và cho chúng ta cảm nghiệm ân sủng cứu độ đó. Đức Trinh nữ đón nhận sứ điệp mạc khải, và tham dự vào đó cách toàn vẹn. Nới Đức Trinh nữ, Ngôi Lời mặc lấy xác phàm, Lời Thiên Chúa đi vào trong nhân loại trở nên người phàm. Điều mà Đức Trinh nữ Maria đã lĩnh nhận là ân sủng được biểu hiện như là món quà tuyệt hảo, và Mẹ đã trao ban nó cho chúng ta và cho chúng ta liên kết với Mẹ.

Nhờ đức tin, chúng ta cũng được đón nhận sứ điệp cứu độ, đó là sự hiện diện của Đức Ki-tô trong đời sống chúng ta, kết hiệp với chúng ta qua bí tích Rửa tội, và bí tích Thêm Sức. Nhờ đó chúng ta cùng liên kết với tha nhân qua Ánh sáng của chân lý, niềm vui Tin mừng, Niềm vui ơn tha thứ và hòa giải. Nhưng để sống tinh thần siêu nhiên, để đáp trả những đòi hỏi của bí tích Rửa tội, chúng ta cần cầu nguyện với sự bảo trợ và mẫu gương của Đức Trinh nữ Maria.

Trước hết, đó là lời thưa của Đức Mẹ: “Này tôi là tôi tớ Chúa, hãy làm cho tôi như lời sứ thân truyền”. Với lời tuyên xưng niềm tin, sự cam kết bằng cả đời sống này, Đức Trinh nữ Maria nhân danh chúng ta để thực thi lời đó. Việc cầu nguyện bằng lời kinh Mân côi giúp cho chúng ta bắt chước Đức Mẹ để thực thi thánh ý Chúa. Chúng ta cần đến ân sủng của Chúa Thánh Thần để có thể đáp lại thánh ý Chúa như chính Đức Mẹ đã lãnh nhận qua lời sứ thần Gabriel đã loan báo cho Mẹ Maria: “ Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà và Đấng Quyền Năng sẽ phủ bóng trên bà”.

Về phần chúng ta, nhờ vào việc cử hành các mầu nhiệm thánh này, chúng ta cần cúi mình đón nhận ân sủng của Chúa Thánh Thần để mà quyền năng Đấng Tối Cao bao trùm lấy chúng ta, từ trong tâm trí và hành động để có thể đối diện với những biến cố và con người mà chúng ta trải qua trong đời sống.

Như thế, việc cầu nguyện và suy niệm những mầu nhiệm mân côi là phương thế hữu hiệu để ban cho chúng ta những ân sủng mà chúng ta cần cho việc hoàn thành ơn gọi của mình.

Với mầu nhiệm vui, mỗi chúng ta tiếp cận với niềm vui cứu độ, từ biến cố truyền tin cho đến biến cố tìm thấy Đức Giê-su trong Đền thờ.

Mầu nhiệm sự sáng lại vén mở cho chúng ta thấy những tiến trình của đời sống công khai của Chúa và lời dạy mà Ngài rao giảng cho đám đông dân chúng và cho các tông đồ để mọi người nghe biến đổi đời mình trở nên những người con của Giáo Hội.

Mầu nhiệm thương giúp chúng ta liên đới với công cuộc cứu chuộc mà Chúa Giê-su đã thực hiện, những đau khổ mà Ngài phải chịu vì yêu thương nhân loại chúng ta.

Cuối cùng mầu nhiệm mừng cho chúng ta nếm cảm trước niềm vui Nước trời bởi vì chúng ta khám phá nơi đó ơn gọi và phẩm giá của mỗi chúng ta: cùng với Chúa Giê-su chúng ta được sống lại, được chia sẻ quyền năng mà Ngài có trên các tạo vật trong cương vị là Vua Vũ Trụ và chúng ta sẽ nhận được Chúa Thánh Thần để làm cho chúng ta thông hiệp với Ba Ngôi Thiên Chúa.

Vinh quang thần thiêng này làm cho bản tính nhân loại được tham dự vào bản tính Thiên chúa, điều đó phản ảnh cách rõ ràng trong biến cố lên trời cả hồn cả xác và lãnh triều thiên vinh quang trên trời của Mẹ Maria. Nhờ đó sự can thiệp của Mẹ lại ban cho mỗi chúng ta hồng ân cứu độ và ước muốn từ trời, mỗi khi lần chuỗi năm sự sáng.

Tháng Mân côi kéo dài suốt tháng 10 là dịp thuận tiện cho mỗi chúng ta cầu nguyện mỗi ngày bằng việc lần chuỗi mân côi; lần chuỗi trong gia đình, với những người thân yêu và với bạn bè. Thiên Chúa luôn nhận lời cầu nguyện của con cái Chúa khi lời cầu nguyện này được chuyển cầu bởi Đức Trinh nữ Maria.

Chúng ta cùng cầu nguyện cách đặc biệt cho thế giới hôm nay được bình an, cho nạn dịch Covid bị đẩy lui, cho hòa bình thế giới, cho các tín hữu bị bách hại trên khắp hoàn cầu, cho các anh chị em đang gặp đau khổ trên toàn thế giới, cho thêm nhiều người tin nhận Đức Ki-tô vì chính Ngài là Đấng Cứu Độ, đã chiến thắng sự chết và nhờ đó cho chúng ta được thông phần sự sống đời đời với Ngài trong vinh quang. Amen.

Thiếu vắng tình thương

Đoạn Phúc âm hôm nay là đoạn đáng sợ nhất trong các đoạn sách Tin mừng, bởi vì nó đề cập tới sự sống và sự chết đời đời. Nếu Thiên Chúa không tồn tại, nếu sự sống vĩnh cửu không có, thì Chúa Giê-su thật sai lầm khi kể dụ ngôn này. Nhưng nếu Thiên Chúa có đó, nếu sự sống vĩnh cửu là hiện thực thì Chúa Giêsu quả là đang nói với chúng ta một chuyện rất nghiêm túc là làm thế nào để đạt được sự sống ấy.

Chuyện rất nghiêm túc này, đó chính là nội dung dụ ngôn mà chúng ta vừa nghe đọc. Để hiểu rõ dụ ngôn, điều quan trọng là khám phá nhân vật trung tâm của dụ ngôn. Nhân vật trung tâm không phải là anh Lagiarô nghèo khó, cũng không phải là 5 anh em nhà phú hộ …mà chính là “ông phú hộ giàu có, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”.

Nếu đọc chăm chú dụ ngôn, chúng ta có thể thấy Chúa Giê-su không lên án sự giàu có nhưng Ngài lưu ý rằng: giàu có sẽ dễ làm cho người ta trở nên vô cảm”. Như ông phú hộ thỏa mãn tận hưởng sự xa hoa nên không còn nhìn thấy con người khốn khổ bên ngoài, mụn nhọt đầy mình, đang nằm trước cửa nhà ông.

Trong dụ ngôn, ta không thấy nói tới người nghèo là người đạo đức, cũng không nói người phú hộ là trụy lạc. Ông phú hộ không bị lên án là người áp bức anh nhà nghèo Lagiarô, hay quỵt lương anh ta, cũng như không đối xử tệ bạc với anh, hay khai thác anh…chỉ có mỗi một điều đáng nói ở đây là ông nhà giàu đã không để mắt tới anh nhà nghèo. Ông ta đã dựng lên một hố sâu giữa ông và anh nhà nghèo đau yếu.

Của cải vật chất, sự giàu có xa hoa thường che mắt nhiều người làm cho họ không thấy được nỗi thống khổ của người khác, cũng như không nhìn thấy thân phận bất toàn của phận người. Đại văn hào Nga Marxim Gorky đã từng quan niệm: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi thiếu vắng tình thương”

Nhiều người đang sống trong một tình trạng bị tê liệt về đời sống thiêng liêng. Các giá trị phúc âm không còn có ảnh hưởng trong đời sống của họ. Như Chúa Giê-su nói, “dù kẻ chết có hiện về thì họ cũng chẳng nghe”. Sự giàu có và các đặc quyền đặc lợi, đã đào lên một hố sâu ngăn cách họ với Thiên Chúa, giữa họ với những ai đang chịu đau khổ.

Dụ ngôn người phú hộ giàu có hôm nay còn cho thấy : Sự phán xét không đến vào cuối đời người. Nhưng chính ở giây phút hiện tại này mà nó xảy đến. Chính lúc này mà chúng ta liên đới với những người đang cần đến sự giúp đỡ, hay chính lúc này mà chúng ta đang đào lên những hố sâu ngăn cách giữa chúng ta với họ. Ông phú hộ đã có phương tiện để giúp đỡ anh Lagiarô mà ông đã không làm. Đó là lỗi của ông. Bản án dành cho ông là một sự chuẩn nhận những gì ông đã làm trong đời ông vì vào ngày chung thẩm Vị Thẩm Phán tối cao sẽ ban thưởng hay xử phạt dựa theo những gì mà người ta đã làm hay không làm cho tha nhân trong suốt cuộc đời họ.

Ông phú hộ trong dụ ngôn đã đánh mất cơ hội thực tiễn đó…và lúc này thì đã quá muộn. Ông đã trải qua đời mình cách vô ích, trong quần áo lụa là và yến tiệc linh đình, với những lễ hội xa hoa. Ông đã hoàn toàn quên mất sự liên đới cần phải có với người khác! “ Cho tới cuối đời, tất cả cái mà ta sẽ có thể mang theo, là những gì đã được chia sẻ với những người đang cần đến”.

Dụ ngôn hôm nay  còn dạy một bài học khác: đó là không được chểnh mảng với Lời Chúa.

“Nếu con biết, con đã làm cách khác”; “Lạy tổ phụ Abraham, xin làm ơn sai một người đến với 5 anh em con …”, đó là những câu nói đầy khẩn khoản nài xin của ông phú hộ. Và Chúa đã trả lời ông ta: “Con và các anh em con phải biết là …có Maisen và các Ngôn sứ, có Amos và Đức Giê-su, có Tin mừng. Nếu ông phú hộ đã biết lắng nghe điều mà Chúa Giê-su đã nói, ông đã trở nên Người Samaria nhân hậu rồi. Lời Chúa trong tầm tay mọi người. Nếu chúng ta từ chối không nghe Lời này, các phép lạ cũng chẳng giúp gì chúng ta. “ Dù kẻ chết có hiện về báo mộng, họ cũng chẳng sám hối, chẳng canh tân đời sống đâu”. Như sự phục sinh của Lagiarô, người em của hai chị em Mattha và Maria, cũng chẳng thuyết phục được các biệt phái và thượng tế, để rồi họ vẫn quyết định giết Chúa Giê-su.

Ngôn sứ Maisen và các ngôn sứ đã nhắc đi nhắc lại trong sứ mạng của các Ngài rằng: Hãy chia sẻ, hãy đối xử tốt với người ngoại, hãy sống tinh thần của năm hồng ân, hãy đến giúp đỡ những ai đang sống trong đau khổ, hãy biết dùng tài năng để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn”. Con đường thực tiễn của niềm tin không phải là phép lạ, cho bằng khiêm nhường lắng nghe Lời Chúa và quan tâm đến anh chị em xung quanh đang phải chịu đau khổ.

Không cần tin vào những cuộc hiện ra hay những phép lạ để có thể mở đôi mắt và con tim của con người. Không cần thiết phải đi đến những vùng sâu vùng xa mới có thể tìm thấy những người đang cần đến sự trợ giúp. Ngay tại nơi đây, trong môi trường sống của mỗi chúng ta, vẫn còn những gia đình nghèo, những người đau yếu, những người già cả neo đơn đang sống trong cảnh cô độc, những anh chị em không có công ăn việc làm, những người nghiện hút, những bạn trẻ lang thang…tất cả đang cần đến sự trợ giúp của mỗi chúng ta.

Tội quên sót, sự vô tâm với thực tế đời sống và những e ngại từ chối giúp đỡ là những lỗi lầm rất đáng khiển trách mà chúng ta mắc phải mỗi ngày. Amen.

Tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa

Trong suốt năm phụng vụ, chúng ta đã tưởng niệm những sự kiện lớn trong cuộc đời của Chúa Giêsu: nhập thể làm ngừoi, rao giảng tin mừng,  sự chết và sự phục sinh, gửi Chúa Thánh Thần đến. Phụng vụ mời gọi chúng ta hôm nay mừng lễ Chúa Ba Ngôi, vì Chúa Ba Ngôi là khởi đầu và là kết thúc của lịch sử cứu rỗi: là Alpha và omega, sự khởi đầu và kết thúc. Thánh lễ trọng thể này mời gọi chúng ta suy ngẫm về Thiên Chúa Ba Ngôi mà Chúa Giêsu Kitô đã mạc khải cho chúng ta. 

Chúa Ba Ngôi vẫn là một màu nhiệm, nhưng nó chiếu sáng cuộc sống, mang lại ý nghĩa cho những biến cố đang xảy ra trong đời sống mỗi người, nuôi dưỡng hy vọng và lấp đầy sự cô đơn của chúng ta.  Chúa Giêsu thường nói với chúng ta về Cha ngài và về Chúa Thánh Thần. Ngài đề cập đến ba ngôi Thiên Chúa khi ngài gửi các môn đệ ra đi rao giảng Tin mừng: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.” (Mt 28:19) 

Kinh thánh cho chúng ta biết, trước hết Thiên Chúa biểu lộ với nhân loại như một Người Cha dịu dàng, nhân hậu, tôn trọng sự tự do của con cái mình, luôn sẵn sàng chào đón đứa con hoang đàng, luôn sẵn sàng tha thứ. 

Tiếp đến, trong Chúa Giêsu, Con của Cha, Thiên Chúa mang một khuôn mặt con người, huynh đệ, gần gũi với chúng ta, một Thiên Chúa “anh em”. Ngài là “pontifex”, người làm cầu nối, người tạo ra mối liên hệ giữa con người và Thiên Chúa. Tình yêu của Thiên Chúa trở nên hữu hình, dễ hiểu và có thể được bắt chước. Tình yêu ấy là Emmanuel, Chúa với chúng ta, qua mầu nhiệm nhập thể của Ngôi hai Thiên Chúa làm người. 

Và cuối cùng, Chúa Thánh Thần đến đi vào trong tâm hồn mỗi con người, đó là nơi sâu thẳm nhất của con người. Chính Thiên Chúa trong chúng ta là người hướng dẫn, dạy dỗ, mời gọi hành động, an ủi và củng cố chúng ta. Ngài liên tục tái tạo và làm cho mọi thứ trở nên mới mẻ.

Chúa Kitô hứa sẽ “ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế”. Lời hứa này là nguồn gốc của niềm hy vọng của mỗi tín hữu. Thiên Chúa đồng hành và soi sáng chúng ta. Ngài giúp chúng ta đọc các sự kiện và nhận ra sự hiện diện của Ngài trong cuộc sống. Sự hiện diện này cho chúng ta sức mạnh để chiến đấu chống lại cái ác và hành động theo thánh ý Chúa. 

Một trong những đặc điểm cơ bản của Thiên Chúa là Ngài không muốn chúng ta trở thành đầy tớ của Ngài nhưng là một bạn đời của Ngài trong một giao ước vĩnh cửu. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Thầy không gọi các con là tôi tớ… nhưng Thầy gọi các con là bạn  hữu, bởi vì tất cả những gì Thầy đã nghe từ Cha Thấy, Thầy đã nói với các con” (Ga 15:15). Và hôm nay một lần nữa Chúa mời gọi mỗi chúng ta: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta (Kh, 3,20). Vậy chúng ta hãy mở rộng cửa tâm hồn để cho Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trị và biến đổi đời sống mỗi người theo như ý Chúa muốn.  

Chuyện kể rằng, một vị vua kia đến cuối cuộc đời cảm thấy buồn chán. Ông nói: “Suốt đời ta, ta đã cảm thụ được tất cả những gì mà một con người có thể cảm thụ được bằng các giác quan. Nhưng vẫn còn một điều ta chưa được thấy, đó là ta chưa thấy Chúa. Bây giờ nếu ta chỉ được nhìn thấy Chúa một thoáng thôi thì ta cũng sẽ mãn nguyện mà chết”. Nhà vua tham khảo ý kiến những bậc khôn ngoan, hứa cho họ đủ thứ phần thưởng nếu họ giúp ông thực hiện điều mơ ước ấy. Nhưng chẳng ai giúp được.

Thế rồi có một chàng chăn cừu nghe chuyện trên và tìm đến gặp nhà vua. Chàng nói: “Có lẽ hạ thần có thể giúp Bệ Hạ được”. Nhà vua rất sung sướng theo người chăn cừu leo lên nhiều ngọn đồi. Khi đến đỉnh một ngọn đồi nọ, người chăn cừu đưa tay chỉ mặt trời và bảo: “Hãy xem kìa”. Nhà vua ngước mắt nhìn lên nhưng liền nhắm lại ngay vì chói quá. Ông bảo: “Nhà ngươi muốn cho ta mù sao!” Người chăn cừu đáp: “Tâu Bệ Hạ, đây chỉ mới là một phần nhỏ của vinh quang Thiên Chúa mà Bệ Hạ còn nhìn không nổi. Thế thì làm sao Bệ Hạ có thể nhìn được Thiên Chúa bằng cặp mắt bất toàn của Bệ Hạ? Bệ Hạ phải tìm cách nhìn Ngài bằng cặp mắt khác”.

Nhà vua rất thích ý tưởng ấy, nói: “Ta cám ơn ngươi đã mở cắp mắt trí khôn của ta. Bây giờ hãy trả lời cho câu hỏi khác của Ta: Thiên Chúa sống ở đâu?” Người chăn cừu lại đưa tay chỉ lên trời: “Bệ Hạ hãy nhìn những con chim đang bay kia. Chúng sống trong bầu không khí bao quanh. Chúng ta cũng thế, chúng ta sống trong sự bảo bọc của Thiên Chúa. Xin Bệ Hạ đừng tìm kiếm nữa, mà hãy mở rộng mắt ra để nhìn, mở tai ra để nghe. Thế nào Bệ Hạ cũng thấy được Ngài. Thiên đàng ở ngay dưới chân chúng ta cũng như ở ngay trên đầu chúng ta”.

Nhà vua dừng bước, cố gắng nhìn, cố gắng lắng nghe. Thế là một cảm giác bình an lộ rõ trên khuôn mặt buồn thảm của ông. Người chăn cừu nói tiếp: “Tâu Bệ Hạ, còn một điều nữa”. Rồi chàng dẫn nhà vua đến một cái giếng. Nhà vua nhìn xuống mặt nước bằng phẳng, hỏi: “Ai sống dưới đó thế?” Người chăn cừu đáp: “Thiên Chúa”. “Ta có thể nhìn thấy Ngài không?” “Được chứ, Bệ Hạ chỉ cần nhìn”. Nhà vua chăm chú nhìn xuống giếng, nhưng chỉ thấy gương mặt của mình phản chiếu trên mặt nước. Ông nói: “Ta chỉ thấy mặt Ta thôi”. Người chăn cừu giải thích: “Bây giờ thì Bệ Hạ đã biết Thiên Chúa sống ở đâu rồi. Ngài sống trong Bệ Hạ đó”.

Nhà vua nhận ra rằng người chăn cừu khôn ngoan và giàu có hơn ông. Ông cám ơn chàng và trở về hoàng cung. Chẳng ai biết ông có nhìn thấy Thiên Chúa không, nhưng ai cũng nói rằng có một điều gì đó đã biến đổi trái tim ông, bởi vì từ đó trở đi ông đối xử rất nhân hậu với mọi người, kể cả người đầy tớ hèn hạ nhất của ông.

Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi giống như bí mật của mặt trời. Chúng ta không thể nhìn trực tiếp vào mặt trời và hiểu thành phần của nó bởi vì nó sẽ làm mù chúng ta. Nhưng mặt trời chiếu sáng và làm cho mọi thứ tồn tại. Chúa Ba Ngôi vẫn là một bí ẩn đối với chúng ta, nhưng nó chiếu sáng cuộc sống của con người, mang lại ý nghĩa cho những gì đang xảy ra, nuôi dưỡng hy vọng và lấp đầy sự cô đơn của chúng ta.  Chính sự hiện diện tuyệt vời này của Thiên Chúa trong cuộc sống của chúng ta mà chúng ta mừng lễ Chúa Ba Ngôi trọng đại trong ngày hôm nay.

Scroll to Top