Đời sống đức tin

Ai liều mạng sống vì Ta sẽ cứu được mạng sống

Đoạn Tin mừng của thánh Macco cho thấy hành trình rao giảng công khai của Chúa Giê-su cho tới thời điểm này đã thu hút rất đông dân chúng theo Ngài ở Galilea, tại các miền Tia và Si-đôn và trong Miền Thập Tỉnh, vùng đất của dân ngoại nằm ở phía đông biển hồ Giê-nê-gia-rét.

Trong bối cảnh đó, Đức Giêsu dò hỏi các môn đệ xem dư luận nghĩ sao về Ngài. Các môn đệ đã phản ảnh với ngài rằng có nhiều dư luận hơi khác nhau, nhưng tựu trung mọi người đều nghĩ Ngài là một ngôn sứ. Phần Phêrô thì lên tiếng nói thay cả Nhóm 12 tuyên xưng niềm tin : “Thầy là Đức Kitô”.

Tuy nhiên thì Chúa Giê-su đã hoàn toàn ý thức được sứ mạng của mình và tiên báo về cuộc chịu nạn mà ngài sẽ phải chịu. Chúa tiên báo vì Chúa biết rõ sứ mạng giải phóng con người mà Chúa thực hiện qua lời giảng dạy và hành động, đã làm cho nhiều người thấy chói tai, đặc biệt là các biệt phái và luật sỹ, các người lãnh đạo chính trị và tôn giáo. Sự giải phóng con người đã đụng đến truyền thống và luật lệ làm ảnh hưởng tới chỗ đứng của họ như:

  • Chữa bệnh trong ngày Sabbat
  • Ăn uống với những người tội lỗi
  • Bảo vệ người phụ nữ ngoại tình
  • Đụng đến những người cùi hủi
  • Đến thăm và ăn uống tại nhà Mát-thêu và nhà ông Gia-kêu, những người thu thuế cho đế quốc Roma v.v…

Chính vì sứ mạng giải phóng con người bằng tình yêu này mà Chúa Giê-su đã tự nguyện đi vào con đường đau khổ, con đường mà người đời khó chấp nhận, ngay cả Phêrô, người vừa đại diện nhóm 12 tuyên tín Thầy là Đấng Ki-tô cũng đã can ngăn Chúa.

Con đường đau khổ này chính là con đường thập giá: bị bắt,  bị lột áo, bị đánh đòn và mang trên mình những thương tích của sự tra tấn và để người ta chế nhạo, sỉ vả và cuối cùng là cái chết nhục nhã trên cây thập giá.

Nhờ vào cuộc khổ nạn của Chúa mà cây thập giá từ biểu tượng của lòng hận thù và sự tàn bạo, đã trở nên biểu tượng chiến thắng của tình yêu. Các lãnh đạo tôn giáo ở Giuđêa đã kết án tử Chúa Giê-su, nhưng họ đã không thể giết được tình yêu của Đấng bị treo trên thập giá. Đức Giê-su trở nên hiện thân của Người Tôi Tớ đau khổ mà Tiên tri Isaia đã tiên báo trong bài đọc I: Người Tôi Tớ này bản thân vô tội nhưng phải chịu rất nhiều đau khổ vì tội loài người.

Vâng phục cho đến chết trên cây thập giá, Chúa Giê-su muốn  liên đới với cảnh đời đau khổ của loài người.   Ngài trở nên một quy chiếu, một bản mẫu cho nhưng ai chọn đi theo Ngài. Vâng, cả cuộc đời Ngài đã nhắc đi nhắc lại với chúng ta rằng: ta không đến để được phục vụ nhưng là để phục vụ.

Đây là điều đi ngược với sự khôn ngoan thế gian, nơi mà người ta cố công chiếm cho mình một chỗ đứng, ai cũng muốn mình phải là người chiến thắng, người sở hữu, người thống trị. Tất cả những bon chen, tranh giành  đây đó đều bị chi phối bởi cái tham sân si của lòng người như thế.  

Thật vậy, trong bối cảnh của cuộc sống hôm nay, cụ thể tại môi trường sống của chúng ta, vẫn còn đó những khó khăn, những thử thách của cái nghèo, của sự bất công mỗi ngày một lan tràn, của bầu khí tôn sùng vật chất vô thần… có không ít anh chị em giáo dân đã giống như Phêrô can ngăn Chúa, giống như đám đông dân chúng khi xưa muốn “ rút lui và không theo Chúa nữa” vì Chúa không đáp ứng nhu cầu vật chất của họ.

Tuy nhiên, như lời Chúa nói trong bài Tin mừng: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta. Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai chịu mất mạng sống mình vì Ta và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống mình”, thì  những ai muốn trung thành đi theo Chúa Giê-su, đích nhắm của họ cần phải khác, không phải là trở thành kẻ thống trị, kẻ chỉ biết hưởng thụ và khẳng định bản thân mình trên người khác cho bằng nhắm tới cái khả năng yêu thương, phục vụ và tình liên đới với anh em.

Thực vậy, với một lý tưởng sống như thế, xã hội của chúng ta đã và đang trở nên đẹp hơn qua những vẻ đẹp của những con người hành động trong đức tin để biết sống yêu thương và phục vụ: ta có thể kể tới những gương mặt như mẹ Têrêsa Calcuta, người đã dành cả đời xả thân chăm sóc những người hấp hối bên lề xã hội; như linh mục Maximilien Kolbe đã quảng đại chết thay cho bạn tù tại trại tập trung Đức quốc xã; như Đức GTM Romeo tại El Salvador vì đứng về phía người nghèo nên đã bị giết chết bởi những phát đạn khi ngài đang dâng lễ trong nhà thờ; hay như ông Nelson Madela đã chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartrai tại Nam Phi; cũng vậy, chúng ta thấy nhiều tu sỹ và các tình nguyện viên trên khắp vùng miền đã hết lòng chăm sóc các bệnh nhân mắc bệnh Sida trong các trung tâm điều trị, hay giúp đỡ những người nghiện hút ma túy…

Thế giới  cũng ngày càng đẹp hơn nhờ những người mẹ trong gia đình, không ngại thức thâu đêm để chăm sóc cho đứa con bị ốm bệnh, những người cha làm việc quần quật suốt ngày, mồ hôi nhễ nhại để chăm lo cho hạnh phúc gia đình, những người con biết vâng phục cha mẹ và rèn luyện bản thân để trở nên người có ích cho xã hội.

Và cuộc sống hôm nay cũng đẹp hơn khi có nhiều bạn trẻ đã dám hy sinh, quảng đại tình nguyện tham gia những chiến dịch bảo vệ môi trường và sự sống,  trợ giúp những nạn nhân gặp thiên tai tại vùng sâu vùng xa nghèo khó, tham gia những kỳ tiếp sức mùa thi giúp các thí sinh nghèo hoặc chính các bạn sẵn sàng tham gia các hội đoàn như hội ve chai, hội tông đồ để làm việc bác ái.

Chúa Giê-su Kitô đã trao ban chính sự sống mình cho loài người chúng ta và hôm nay ngài mời gọi mỗi chúng ta hãy noi gương bắt chước và trở nên “đồng hình đồng dạng” với Ngài.

Ý thức một cách sâu xa hơn lời mời gọi này của Chúa Giê-su để nhờ vào sức mạnh của bí tích Thánh Thể được chiêm ngắm và lãnh nhận mỗi ngày, anh chị em và tôi hãy sẵn sàng vác thập giá đời mình và liều mất mạng sống vì Thầy Giê-su để mang lại cho tha nhân và cho chính bản thân mỗi chúng ta niềm hạnh phúc đích thật mà Chúa hứa ban. Amen.

Ephata

Tiếp tục suy niệm Tin mừng Chúa nhật theo Thánh Mác-cô, hôm nay thánh sử thuật lại việc người ta đưa đến cho Chúa Giê-su một người bị câm điếc. Dường như họ muốn đặt ra cho Chúa một câu hỏi: Tại sao lại như thế? Và họ nghĩ bệnh câm và điếc là một sự trừng phạt của Chúa. Tuy nhiên, Chúa Giê-su đã tỏ cho mọi người thấy đâu là nguyên do của sự đau khổ. Cái khổ đối với Chúa không phải là một sự trừng phạt nhưng là một sự thử thách. Và loài người được trao ban sứ mạng là phải làm giảm thiểu cái khổ trên toàn cõi đất này.

Với Chúa Giê-su, sự đau khổ lại là con đường dẫn tới vinh quang Thiên Chúa, dẫn tới vinh quang của tình yêu. Và chính Ngài đã đi con đường đó, con đường của thập giá để đến vinh quang phục sinh.

Chính Chúa đã ra tay chữa lành người câm điếc để chứng mình cho sứ vụ tình yêu của Chúa. Ngài đến mang lấy khổ đau của con người để biến thời đại của đau khổ thành thời đại của lòng thương xót.

Những gì đang xảy ra trong thời đại hôm nay dường như nhắc nhở mỗi chúng ta rằng: sai lầm duy nhất của Chúa chính là Ngài không hiện hữu. Câu nói chơi chữ này là để khẳng định Thiên Chúa đang hiện hữu và ngài cần phải hiện hữu. Vậy khi người ta chủ chương chủ nghĩa vô thần, không tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa, tức là người ta đã dựng lên cho họ cái thực tại tồi tệ nhất, vì đâu còn ý nghĩa của cuộc sống khi con người đối diện với cái khổ.

Thiên Chúa đang hiện hữu và Kinh thánh đang nói với chúng ta về một Thiên Chúa mà bận tâm của Ngài chính là chỉnh sửa, chữa lành và giải thoát. Đó chính là điều mà cộng đoàn vừa nghe trong bài đọc I: Các ngươi hãy nói với những tâm hồn xao xuyến: Can đảm lên, đừng sợ! Này đây Thiên Chúa các ngươi đến để phục thù. Chính Người sẽ đến và cứu thoát các ngươi. Vâng, Chúa Giê-su đến để thực hiện lời ngôn sứ. Chính thánh Gioan Tẩy Giả, vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu Ước đã làm chứng Chúa Giê-su chính là Đấng Messia toàn dân đang mong đợi qua những dấu lạ tỏ tường mà Chúa Giê-su thực hiện, đó là “người mù được thấy, kẻ què đi được, kẻ câm nói được, kẻ điếc được nghe…”

Nhìn vào lịch làm việc của Chúa Giê-su, ta sẽ thấy được sứ mạng của Ngài. Một nửa thời gian là dành cho những lời giảng dạy để giải thoát con người khỏi sự lầm lạc, để thấy được những đòi hỏi cấp bách của tình yêu. Một nửa thời gian còn lại, Chúa đã dùng để giải nghĩa tình yêu bằng chính sự đồng cảm của Ngài với những mảnh đời đau khổ đang bao quanh Ngài mỗi ngày sống. Họ là những người cùi hủi, quỷ ám, bất toại, mù lòa, câm điếc, què quặt, động kinh v.v…Chính Chúa đã nói với họ lời ngôn sứ Ezekiel rằng: “Cứ việc sống! ” Ta làm cho ngươi nẩy nở như hoa ngoài đồng. Và Người chữa lành họ. Vâng, nếu Thiên Chúa yêu thích cái khổ, thì chỉ vì từ cái khổ Ngài sẽ mang đến niềm vui và bình an.

Thiên Chúa không cộng tác và tiếp tay với cái khổ nhưng là nâng đỡ và khích lệ mỗi người đi con đường giúp bản thân và tha nhân vượt thắng cái khổ, đó là: “ Điều mà anh em muốn làm cho những kẻ bé nhỏ của ta đây là anh em làm cho chính ta vậy.”

Chúa Giê-su mỗi lần chữa bệnh hay trừ quỷ để giải thoát nhiều người khỏi cái khổ thân xác đã giúp cho họ nhận ra một điều lớn hơn, đó chính là cái khổ tâm hồn. Cái khổ tâm hồn còn nguy hiểm hơn nhiều cái khổ thể xác. Vâng thiếu vắng tình yêu là cái khổ trầm trọng nhất.

“ Ephata – Hãy mở ra”, Lời của Chúa Giê-su liên hệ tới tất cả chúng ta và tất cả mọi người, ở đây cũng như ở trên toàn thế giới, không phải hôm qua mà cả hôm nay. Như người thầy thuốc chỉ biết đi thăm những người ốm, Chúa Giê-su ưu tiên đến với những người cần đến Ngài, đặc biệt là những ai đang mang trong mình căn bệnh tâm hồn cần được chữa trị. Vì bị điếc, vì bị câm mà họ đã không biết nghe và không biết nói sứ điệp của tình yêu.

Bệnh điếc này thuộc về những ai không biết mở lòng mình ra để lắng nghe và thực hành lời con tim. Họ là những người không biết nghe tiếng kêu than của những anh chị em đang sống trong cảnh lầm than, bị loại trừ và cùng khổ. Cuộc sống bon chen hôm nay dễ làm cho người ta thờ ơ với tha nhân. Khi họ nói “ không liên quan, đó không phải việc của tôi” là họ đang nói: tôi bị điếc một tai, tôi không nghe những gì từ người khác, tôi đang dửng dưng với đồng loại để đi theo chủ nghĩa “Mackeno”, sống khép kín ích kỷ với mọi người.

Cùng với bệnh điếc, là bệnh câm thuộc về những ai không dám lên tiếng bảo vệ danh thơm tiếng tốt cho anh chị em xung quanh khi họ bị chế nhạo và bị vu khống. Người câm cũng là người keo kiệt trong lời nói mà đáng lẽ ra họ cần phải nói để sưởi ấm các tâm hồn, khuyến khích  và nâng đỡ những con người yếu đuối, hay bảo vệ những người bị kết án bất công trong xã hội.

Lời Chúa hôm nay cần được vang vọng và thực hiện. “Ephata – Hãy mở ra”. Vâng hãy mở cửa lòng mình ra với Chúa Giê-su, mở lòng ra với anh chị em xung quanh. Chúa có thực hiện phép lạ của Ngài hay không cũng tùy thuộc vào mỗi chúng ta. Hãy biến đổi con tim mình, cho dù con tim có chai cứng như đá thì nó cũng có thể trở nên một con tim bằng thịt, một con tim biết yêu thương.

Để kết luận, mỗi chúng ta hãy biết đón nhận lời mời gọi của Chúa trong sách Khải huyền: Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta.

Mục đích tối hậu của cuộc đời mỗi chúng ta chính là như thế: Vâng, ai nghe tiếng ta và mở cửa, ta sẽ vào nhà người ấy. Xin cho chúng ta luôn sẵn sàng nghe tiếng Chúa và mau mắn mở cửa để đón Chúa và tha nhân. Amen.

Dân này thờ kính Ta bằng môi miệng

Đọc tin mừng theo Thánh Mác-cô, chúng ta thấy thánh sử nêu lên 12 cuộc tranh luận giữa Chúa Giê-su và những người lãnh đạo tôn giáo thời đó. Hôm nay, thánh Mác cô thuật lại cuộc tranh luận liên quan tới truyền thống người Pharisêu. Đó là việc các biệt phái và luật sỹ chất vấn Chúa Giê-su: “Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa? “

Chúa Giê-su tôn trọng truyền thống tiền nhân, với điều kiện là nó phải sống động, thực tiễn và giúp cho việc thăng tiến đời sống con người. Truyền thống phải giải phóng con người và giúp cho con người sống tốt hơn, xét về phương diện luân lý và tôn giáo. Vấn đề không đơn giản chỉ là lặp đi lặp lại những hành vi cử chỉ bên ngoài cho bằng hành động phù hợp với điều mà con người thấy là quan trọng cho đời sống toàn diện của mình.

Ông Ghandi, vị lãnh đạo nổi tiếng của Ấn độ, đã từng rất ngưỡng mộ Bài giảng trên núi của Chúa Giê-su, đã nói: “ Tôi rất cảm phục và yêu mến Đức Giê-su, nhưng tôi không thể yêu mến các ki-tô hữu bởi vì họ nói mà không làm”. Ông nói thế vì ông đã trải qua một biến cố làm cho ông mất niềm tin vào những người theo Chúa. Xẩy ra là một lần ông đến tham dự thánh lễ tại một nhà thờ ở Nam Phi, tại đây người ta đã ngăn không cho ông vào khi nói với ông rằng nhà thờ này chỉ dành cho người da trắng, còn ông là người da đen xin ông hãy đến nhà thờ dành cho người da màu cách đây hai dãy phố. Ông Ghandi từ đó đã không bào giờ đặt chân tới nhà thờ công giáo nào nữa. Câu chuyện này gợi lên cho chúng ta thấy sự phân biệt đối xử đã từng diễn ra trong nhiều năm tại  nước Mỹ hay tại Nam Phi nơi mà những người da đen không được tham dự thánh lễ dành cho những người da trắng.

Trải qua thời gian, nơi này nơi khác trong Giáo Hội đã từng có những tập tục thành kiến và phân biệt như thế. Và Chúa Giê-su đã lên án những kiểu tập tục và truyền thống phản Tin mừng này. Trong dụ ngôn người Sa-ma-ri-ta-nô nhân hậu, Chúa đã khuyến cáo các thượng tế và tư tế rằng họ cần phải quan tâm chăm sóc người bị nạn bên vệ đường hơn là xa cách họ chỉ vì phải theo những quy định của truyền thống tiền nhân và giữ luật tế lễ cấm đụng đến người bị thương hay người đã chết. Lời khiển trách của Đức Giê-su gửi tới người Phariseu khi xưa thật xác thực khi ngài nói: “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình!”

Đức Giê-su có thái độ cứng rắn với các luật sỹ và pharisêu bởi vì họ thực hành tôn giáo theo lối hình thức bên ngoài mà không sống theo cốt lõi của Lề Luật nên họ trở nên những người dẫn đường đui mù và giả hình.

Vậy Đức Giê-su mời gọi chúng ta hôm nay cùng suy gẫm về việc thực hành đạo và thực hành đức tin trong đời sống. Nguồn cội của việc thực hành là gì nếu không phải là đi xuất phát từ sâu thẳm nơi con tim. Chúng ta nên nhớ không phải cái gì cũng quan trọng như nhau trong đời sống. Anh chị em hãy nhớ lại điều mà Chúa Giê-su dạy về việc dâng lễ: “Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5, 23-24). Chúa muốn nhấn mạnh ở đây là việc làm hòa còn quan trọng hơn tất cả của lễ dâng trên bàn thờ.

Đặt nền tảng trên tinh thần của Tin mừng, chúng ta hãy đặt lại những bậc thang giá trị trong việc giữ luật. Đã từng xẩy ra là có nhiều anh chị em cứ lo lắng bất an và cho là đã mắc tội trọng khi chót uống một chút nước trước khi rước lễ vì nghĩ rằng mình vi phạm luật kiêng ăn kiêng uống một giờ trước khi chịu lễ. Hay cho là trầm trọng vì trót ăn thịt trong ngày thứ Sáu hàng tuần. Trong khi đó có những điều còn trầm trọng hơn việc lỡ uống chút nước hay ăn thịt trong ngày thứ Sáu như sự bất hòa, ghen tương, giận ghét, dối trá, nói hành nói xấu còn đang tồn tại trong tâm hồn chúng ta thì lại chẳng mảy may lo lắng buồn sầu.

Dân này thờ kính ta bằng môi miệng nhưng lòng chúng thì xa ta”, lời khiển trách của Đức Giê-su cho thấy lề luật của Chúa phải đi vào nguồn mạch của nó trong sâu thẳm tâm hồn con người. Quả vậy, chính từ bên trong tâm hồn xuất phát ra những dụng ý tốt hay dụng ý xấu.

Để mỗi chúng ta ngày càng trưởng thành hơn trong đức tin, chúng ta cần biết lắng nghe và suy niệm lời Chúa để Lời Chúa luôn là động lực và trở nên nguồn ánh sáng và sức sống của chúng ta. Trong bài đọc II, Thánh Gia-cô-bê tông đồ đã nói rõ ràng rằng “hãy ngoan ngoãn nhận lãnh lời đã gieo trong lòng anh em, lời có sức cứu độ linh hồn anh em”. Lời Chúa được sánh ví như hạt giống là hình ảnh rất sống động cho thấy mảnh đất tâm hồn chúng ta là nơi mà hạt giống này được gieo vãi và tự nó sẽ phát triển và tăng trưởng. Hạt giống này sẽ trổ sinh hoa trái nếu nó được chăm sóc và vun trồng.

Hôm nay, Đức Giê-su chỉ ra cho chúng ta cuội nguồn của sự tốt hay sự xấu, đó chính là con tim con người, vâng “từ bên trong, từ tâm trí người ta xuất phát những tư tưởng xấu, hay tốt”. Nếu con tim chúng ta con chai đá thì hôm nayĐức Giê-su muốn thay trái tim chai đá này của chúng ta bằng một trái tim bằng thịt, đó là một con tim biết yêu thương.  Ngài mời gọi anh chị em và tôi tiếp tục nhìn lại thang giá trị của mình để đặt lại vị trí ưu tiên cho những gì là quan trọng nhất trong cho đời sống đức tin của người tín hữu giữa lòng đời hôm nay. Amen.

Lựa chọn

Nội dung các bài đọc kinh thánh chúa nhật XXI thường niên hôm nay xoay quanh chủ để về sự chọn lựa. Bài Tin mừng cho thấy Chúa Giê-su khi chứng kiến nhiều môn đệ bỏ đi đã hỏi các tông đồ: “Cả các con, các con có muốn bỏ đi không?”. Và trong bài đọc I, Giô-su-ê, vị thủ lãnh dân Do thái trong thời Cựu ước đã đặt câu hỏi cho dân chúng rằng: “Nếu các ngươi không muốn tôn thờ Thiên Chúa, thì cho các ngươi lựa chọn”.

Ngày nay trong Giáo Hội, cũng giống như thời đầu của Ki-tô giáo, nhiều người đã rút lui, đã từ chối theo Đức Giê-su. Hàng nghìn người rời bỏ Giáo Hội và cộng đoàn ki-tô giáo bởi vì theo họ,  Thiên Chúa quá đòi hỏi mà họ thì có nhiều điều quan trọng hơn phải làm cho cuộc sống thường ngày của họ.

Từ thời này qua thời khác, chúng ta có thể suy nghĩ về những sự chối bỏ đức tin và tự hỏi về chính sự trung thành của bản thân mình. Và kính thưa…thực tế là ta không thể ở lại trong sự trung thành nếu ta không sống trong tình yêu của Chúa.

Bài đọc I cho thấy sau khi đã cùng toàn dân Do thái hoàn toàn chinh phục Đất Hứa và chia phần cho các chi tộc, Giôsuê thấy mình đã già đã cảm thấy rằng cái chết đang gần kề.  Và vị thủ lãnh trong dân tộc Do thái này không muốn dân nhớ về ông nhờ vào những chiến công hiển hách mà ông đã lập được cho bằng muốn mọi người nhớ về sự trung thành của ông đối với Thiên Chúa. Ông đã nhóm họp dân chúng lại ở Sichem, trung tâm tôn giáo của Israel và đặt câu hỏi cho họ: “Nếu các ngươi không muốn tôn thờ Thiên Chúa, thì cho các ngươi lựa chọn…” và ông khẳng định: “Phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ tôn thờ Chúa”. Và theo gương ông, dân đã tuyên xưng niềm tin và sự trung thành vào Thiên Chúa khi nhắc lại tất cả những gì Ngài đã làm cho họ.

Thật là quan trọng khi chúng ta nhớ lại những gì mà Chúa đã làm cho đời sống của chúng ta: như sức khỏe, gia đình, nghề nghiệp, con cái, bạn hữu…. Tại vùng Quebec, một thành phố của Canada, người ta thấy trên biển số của các phương tiên giao thông đều ghi câu: “Je me souviens – tôi ghi nhớ”, có nghĩa là “ đừng quên nguồn gốc của mình”; câu này có ý nhắc nhớ mọi người Quebec nhớ về nguồn gốc của dân tộc họ. Truyền thống này gợi cho chúng ta câu hỏi còn quan trọng hơn, đó là tôi có luôn nhớ tôi là người công giáo là người con của Chúa hay không?

Như một danh nhân Do thái đã nói về truyền thống của người Do thái rằng: “chúng tôi không phải là một dân tộc được chọn, nhưng là một dân tộc chọn lựa”. Câu nói chơi chữ này cho thấy một sự lựa chọn căn bản rất là quan trọng cho cuộc sống của chúng ta và nó có ảnh hưởng tới mọi người xung quanh. Quyết định của Giô-su-ê đã đóng một vai trò quan trọng cho việc lựa chọn của dân để cùng với ông họ tuyện xưng: “Không thể có chuyện chúng tôi bỏ Chúa mà tôn thờ những thần ngoại”. Và sự lựa chọn của Phê-rô “Lạy Thầy, bỏ thầy chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”, đã ảnh hưởng đến sự chọn lựa của các anh em khác là quyết tâm trung thành với Đức Ki-tô. Vậy quyết định của chúng ta cũng thế, sẽ luôn có ảnh hưởng tới mọi người trong gia đình và mọi người xung quanh.

Một sự chọn lựa căn bản cũng là một sự lựa chọn để Chúa hoạt động trong cuộc đời mình, sự chọn lựa này phải được lặp đi lặp lại bằng chính những hành động cụ thể trong tình yêu, bác ái và sẻ chia cho người khác. Những người yêu nhau không chỉ chọn nhau trong ngày thành hôn mà thôi, nhưng sự chọn lựa này phải được làm đi làm lại hàng nghìn lần qua những năm tháng sống đời gia đình, trong lúc hạnh phúc cũng như trong những lúc thử thách và khó khăn.

Cuối bài Tin mừng hôm nay, Phê-rô đã tặng cho chúng ta một lời tuyên xưng tuyệt vời nhất: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”. Quả là một lời đáp trả khiêm nhường nhưng đầy ý nghĩa.

Với chúng ta hôm nay, cũng như thời Đức Giê-su và thời của Giô-su-ê, một số đông ki-tô hữu đã chối bỏ niềm tin tôn giáo để theo các thần khác và tôn thờ các ngẫu tượng: có thể là tiền bạc, danh vọng, nghề nghiệp, của cải vật chất…Và họ đã thấy gì mới nơi những ngẫu tượng này, là điểm đến của hạnh phúc đích thật hay còn khát khao và không thể lấp đầy các khoảng trống trong cuộc đời họ?

Hôm nay Đức Giê-su cũng đang hỏi tôi và anh chị em: “Cả các con, các con có muốn bỏ đi không?” Vâng, sự trung tín nơi Chúa chỉ có thể được nếu mỗi chúng ta luôn biết yêu mến và tin tưởng tuyên xưng niềm tin vào Đức Giê-su: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”. Amen.

Đức Mẹ như Hòm Bia Thiên Chúa

Chiều thứ Bẩy hôm nay chúng ta mừng lễ Vọng Đức Mẹ linh hồn và Xác lên trời. Khác với chúng ta, Mẹ Chúa Cứu Thế đã không phải đợi đến ngày cánh chung mới được lên trời cả hồn và xác. Thiên Chúa không thể để cho thân xác Đức Mẹ phải hư nát khi đã hoàn tất cuộc đời lữ hành trần thế, bởi vì Thiên Chúa đã chọn Đức Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Chính Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập thể làm người sau 9 tháng 10 ngày cự ngụ trong cung lòng của Đức Mẹ. Nhờ đó Đức Mẹ đã có phúc trên hết mọi người nữ vì cả cuộc đời Mẹ đã kết hiệp mật thiết với Chúa Giê-su con mẹ trong hành trình cứu độ, vậy nên  thân xác của Đức Mẹ không thể tan rữa nơi nấm mồ nhưng trở nên bất tử như thân xác phục sinh của Chúa Giê-su con Mẹ. Đó chính là ý nghĩa mà các bài đọc Kinh thánh hôm nay đã chứng minh cho chúng ta.

Trong bài đọc thứ nhất, quang cảnh rước Hòm Bia Thiên Chúa tại Giêrusalem mà sách Sử biên niên thuật lại, cho thấy mối tương quan giữa Hòm Bia Thiên Chúa và Đức Maria. Thực vậy, việc cưu mang Chúa Giêsu – Ngôi Lời nhập thể trong 9 tháng mang thai, Đức Mẹ trở nên Hòm Bia Thiên Chúa mới.

Hòm Bia Thiên Chúa từ thời ông Maisen là một chiếc hòm bằng vàng chứa hai tấm bia đá khắc 10 giới răn, cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Ngài. Thiên Chúa đã đồng hành với dân Ngài trong những năm tháng du mục trong sa mạc sau khi thoát khỏi ách nô lệ của Ai-cập và trong cuộc chinh phục tiến về Đất hứa. Câu chuyện mà chúng ta vừa mới nghe xẩy ra vào thời điểm mà dân Chúa đã thành lập một vương quốc ổn định ở Đất hứa dưới triều đại của Vua Đavít. Sau khi hoàn tất việc xây cất cung điện và dọn chỗ cho Hòm Bia Thiên Chúa tại thành Giêrusalem, Vua Đavít đã cho tổ chức một cuộc rước long trọng, cung nghinh Hòm Bia Thiên Chúa vào nhà xếp do ông dựng lên để hiến dâng của lễ toàn thiêu và cầu an trước Thiên Chúa.

Vào ngày mừng lễ Đức Mẹ linh hồn và xác lên trời, ở khắp mọi nơi đều tổ chức những cuộc rước kiệu trọng thể tượng Đức Mẹ như là Hòm Bia Thiên Chúa khi xưa ở giữa dân Chúa, bởi vì thực sự Mẹ Maria đã trở nên Hòm Bia Thiên Chúa mới vào ngày mà Mẹ đã hiến dâng đời mình cho chương trình của Thiên Chúa, trở nên cung lòng cho Con Thiên Chúa ngự trị. Như thế bài sách thánh tiên báo điều xẩy đến với Đức Maria là ngày hôm nay, ngày Đức Mẹ được ban thưởng lên trời cả hồn và xác. Thân xác của Đức Mẹ như Hòm Bia Thiên Chúa, đã được triều thần thánh trên trời và Giáo hội lữ hành trần thế khải hoàn tung hô, rước về thành Giêrusalem trên trời, ngự trị trong vinh quang của Đức Ki-tô phục sinh.

Đức Mẹ về hưởng phúc vinh quang cả hồn lẫn xác, điều đó liên hệ gì tới mỗi chúng ta? Phải chăng thân xác chúng ta chưa bao giờ thai nghén Chúa Giêsu và thân xác đó một ngày nào đó sẽ chết. Điều này liên hệ tới người phụ nữ trong bài Tin mừng mà chúng ta vừa nghe, đã nói với Chúa Giê-su cũng như với mỗi chúng ta: “ Phúc cho dạ đã cưu mang Thầy”, nhưng Chúa Giê-su đã trả lời bà ta: “Những ai nghe và giữ lời Thiên Chúa thì có phúc hơn”. Đức Mẹ Maria không gì khác hơn là một minh chứng cho những gì mà Thiên Chúa muốn thực hiện đối với những ai biết lắng nghe Lời Chúa và giữ Lời Chúa trong lòng như Đức Maria. Thiên Chúa muốn trao ban cho mỗi người chúng ta tất cả những gì mà Ngài đã ban tặng cho Đức Mẹ với điều kiện là mỗi người biết đón nhận Lời Chúa cùng với niềm tin và phó thác như Đức Mẹ.

Mỗi khi tham dự thánh lễ, chúng ta đón nhận Lời Chúa và Thánh Thể vào tâm lòng mình. Khi chúng ta lắng nghe Lời Chúa và rước Mình và Máu chúa là chúng ta trở nên Hòm Bia Thiên Chúa; như Đức Mẹ, chúng ta mang Chúa ở trong đời sống chúng ta. Khi đón Chúa vào trong thân xác thì thân xác đó sẽ không còn chết nữa. Một thân xác mang Chúa Giê-su là sự sống thì thân xác đó trở nên bất tử, như Đức Mẹ đã được an hưởng và được Giáo hội long trọng suy tôn.

Vậy mừng lễ Đức Mẹ Linh Hồn và Xác lên trời hôm nay, mỗi chúng ta hãy biết sống kết hiệp mật thiết với Chúa như Đức Mẹ đã nêu gương cho chúng ta, bằng việc trao phó chính đời sống mình cho Chúa Giê-su, qua việc lắng nghe Lời của Chúa và thực hành yêu thương như Chúa Giê-su yêu thương, trong thời gian chờ đợi ngày mà Lời Chúa trong bài đọc 2 loan báo: đó là “khi xác hay chết này mặc lấy sự trường sinh thì lúc ấy ứng nghiệm lời đã ghi chép rằng: “Sự chết đã tiêu tan trong chiến thắng. Hỡi tử thần, chiến thắng của ngươi ở đâu?” Vậy chúng ta hãy “ cảm tạ ơn Thiên Chúa, Đấng đã ban cho chúng ta chiến thắng nhờ Đức Giê-su Kitô, Chúa chúng ta”. Amen.

Cùng với Mẹ Maria, đặt niềm tin nơi Đức Ki-tô phục sinh

Trong ngày đại lễ hôm nay, chúng ta mừng kính Đức Mẹ là Mẹ của Đức Giê-su đã được hưởng phúc trên thiên đàng cả hồn lẫn xác. Đây là một tín điều đã được Đức Giáo Hoàng Pio XII tuyên tín vào ngày 01.11.1950. Để sống tín điều này hôm nay chúng ta cùng chia sẻ 3 điểm chính sau:

  1. Ý nghĩa của mầu nhiệm lên trời của Đức Maria

Để hiểu ý nghĩa của việc Đức Maria lên trời trong vinh quang Thiên Chúa, ta cần suy niệm thư của thánh Phaolô gửi tín hữu Cô-rin-tô trong bài đọc II.

Trong thư, thánh Phaolô nhấn mạnh về hiệu quả của mầu nhiệm Phục sinh của Đức Ki-tô. Nhờ và quyền năng Chúa Cha, ngài đã không phục sinh cho riêng Ngài nhưng cho tất cả mọi người. Nói cách khác, sự sống lại của Ngài là cho chúng ta.

Quả vậy, trong câu đầu tiên, thánh Phaolô đã viết rõ: Đức Kitô đã từ cõi chết sống lại, là hoa quả đầu mùa của những kẻ yên giấc. Trước đó, ngài còn viết rằng: chính trong Chúa Ki-tô mà tất cả mọi người sẽ được sống. Tiếp đến, ngài gợi lên hai khía cạnh liên đới của thân phận con người. Đó là loài người cùng liên đới với nhau trong một điểm chung là ai cũng phải chết, nhưng bên cạnh đó loài người lại cùng liên đới với nhau trong sự phục sinh của Đức Ki-tô, đấng đã cho mọi người được tham dự vào sự sống thần linh nhờ vào mầu nhiệm cứu chuộc của Ngài.

  • Lên trời và phục sinh

Từ ý nghĩa mà thánh Phaolô xác tín, chúng ta suy ra rằng Đức Maria được lên trời cả hồn lẫn xác là nhờ vào mầu nhiệm phục sinh của Đức Ki-tô. Như Đức Ki-tô là hoa quả đầu mùa của những kẻ yên giấc thì Đức Mẹ là hoa quả đầu mùa của những người sống lại,  và Mẹ được dự phần vào vinh quang Thiên Chúa với Đức Ki-tô. Mẹ đi trước chúng ta vào trong cuộc sống mới của màu nhiệm Phục sinh và đang đồng hành với chúng ta. Nói cách khác, vinh quang của Mẹ mà chúng ta suy tôn hôm nay sẽ là vinh quang của mỗi chúng ta mai sau vì chúng ta sẽ được sống lại trong ngày sau hết.

Chút nữa chúng ta sẽ tuyên xưng niềm tin: tôi tin kính một Thiên Chúa, là chúng ta khẳng định rằng: tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, tôi tin hằng sống vậy.

Vậy thì kính thưa….chúng ta có tin rằng như Đức Mẹ, mỗi chúng ta sẽ hoàn thành cuộc sống mình trong sự sống vĩnh cửu, nhờ vào sự kết hợp liên lỉ với Thiên Chúa và với tất cả anh chị em xung quanh chúng ta trong cùng một niềm tin không?

Mẹ Maria đi trước chúng ta, nhưng Mẹ không bỏ rơi mà đang đồng hành cùng chúng ta…Vai trò của Mẹ là cầu xin cho chúng ta với con của Mẹ là Đức Ki-tô phục sinh. Vâng, nguồn mạch của Ki-tô giáo là mối tương quan duy nhất và hỗ tương của người tín hữu với Đức Ki-tô phục sinh nhờ vào quyền năng Chúa Thánh Thần để đưa chúng ta vào trong tình yêu thương của Thiên Chúa Cha. Mối tương quan này được nuôi dưỡng và củng cố nhờ vào bí tích thánh thể mà chúng ta cử hành mỗi ngày.

Chính trong ngày mừng lễ hôm nay mà Đức Mẹ đang liên đới với chúng ta nhờ vào việc đồng hành và giúp chúng ta sống mối liên đới chặt chẽ với Đức Ki-tô phục sinh này. Như Đức Thánh Cha Phanxicô nói với 3 triệu bạn trẻ tại quảng trường Copacabana ở Rio de Janeiro trong dịp Đại Hội Giới Trẻ năm 2013 ở Braxin rằng: “chúng ta không phải là các ki-tô hữu theo thời đại, hay là mang danh ki-tô hữu nhưng chúng ta hãy đặt Đức Ki-tô phục sinh vào trong sâu thẳm của đời sống qua việc phát triển mối tương quan thân thiết với Ngài”.

  • Sống mối tương quan anh em trong Đức Ki-tô nhờ vào Mẹ Maria

Vì biết rằng Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta nên mỗi chúng ta cũng được mời gọi hãy yêu thương những anh chị em xung quanh như chính Chúa yêu thương ta và yêu thương họ. Nói cách khác, chúng ta là những người con yêu dấu của Chúa và các anh chị em xung quanh cũng là con yêu dấu của Chúa nên cũng là anh chị em của chúng ta. Đức Mẹ là đấng làm cho chúng ta ý thức được phẩm giá của thân phận làm con, thì cũng giúp ta ý thức về sự quan trọng và phẩm giá của con người dù thân phận con người có mỏng dòn và yếu đuối.

Vậy chúng ta cùng xin Mẹ giúp chúng ta biết bảo vệ phẩm giá của mỗi con người, là những anh chị em chung quanh chúng ta.

Cùng với Mẹ, chúng ta cảm tạ Chúa vì biết rằng nhờ vào sự phục sinh của Đức Ki-tô mà cuộc sống chúng ta có ý nghĩa và nhờ đó sau cái chết, mỗi chúng ta cũng được sống trong vinh quang như Mẹ trong sự hiệp thông với Thiên Chúa và tất cả mọi người.

Chúng ta cùng tạ ơn Chúa bởi vì Mẹ là đấng nhắc nhớ chúng ta ý thức về sự cao trọng và phẩm giá của thân phận con người bởi vì chúng đều là những người con trước mặt Thiên Chúa và được mời gọi sống tình anh em với nhau trên con đường lữ thữ trần gian này. Amen.

Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời

Bài đọc thứ nhất kể về ngôn sứ Elia, vị ngôn sứ đã có một trải nghiệm đủ mọi cung bậc trong sa mạc. Sau những biến cố đau thương, ngài đã hoàn toàn kiệt sức, mệt mỏi không còn muốn sống. Ngài đã xin cho được chết khi cầu nguyện rằng: “Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con.” Nhưng Thiên Chúa không bỏ ngài: Chúa đã ban cho vị ngôn sứ bánh ăn để thêm sức mạnh tiếp tục hành trình.

Khi mọi sự trở nên tăm tối, thì Lời Chúa lại soi sáng và mở ra một con đường. Niềm vui này liên hệ tới mọi người chúng ta. Nhiều khi chúng ta đối đầu với những thất vọng, những bế tắc làm cho chúng ta dễ buông xuôi. Vậy cần biết bao sức mạnh để vượt qua sự mệt mỏi. Những sức mạnh này đến từ sự nâng đỡ của tình bạn, từ một lời nói, một cái nhìn gia tăng niềm tin tưởng. Nhưng các bài đọc Kinh Thánh hôm nay còn giúp chúng ta tiến lên một bước nữa. Đó chính là Bánh Hằng Sống mà chỉ có Chúa Giê-su mới ban cho chúng ta. Ngài chính là Của Ăn Đàng bởi Lời Chúa và Thánh Thể. Mỗi tín hữu chúng ta cần có Bánh này để tiếp tục hành trình đức tin.

Chính Chúa Giê-su trong Tin mừng hôm nay đã loan báo về thứ Bánh này, đó là “ Bánh bởi trời”. Khi khẳng định “ Tôi là Bánh Bởi Trời”, Chúa Giê-su đã cho thấy Ngài thuộc về Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa. Đó chính là điều làm cho dân chúng nghe thấy chói tai, không thể chấp nhận được bởi vì họ chỉ thấy ở nơi Chúa hình ảnh của một bác thợ mộc, con ông bà Giuse và Maria, một người rất thân quen với họ từ thời thơ bé.

Trong thế giới hôm nay, thành kiến về Chúa Giê-su như thế ít được thay đổi, vì nhiều người luôn ở đặt bản thân họ trong sự vô cảm và chối bỏ. Khi lòng người ta còn đóng lại với Chúa Thánh Thần, thì Đức tin không thế đến với họ được.  Thiên Chúa luôn lôi kéo người ta đến với Chúa Giê-su, và chính họ cần phải mở lòng mình ra hay là tiếp tục đóng nó lại. Đức tin chỉ có thể triển nở nếu người ta để cho mình được lôi kéo bởi Thiên Chúa. Mọi người đều được kêu gọi đến với Chúa Giê-su với một tâm hồn rộng mở, không thành kiến, để nhận thấy nơi Chúa Giê-su hình ảnh của Chúa Cha.

Với một niềm tin như thế, chúng ta mới có thể hiểu sâu sa hơn ý nghĩa của “Bánh Hằng Sống” mà Chúa Giê-su trao ban cho nhân loại. Như Chúa Giê-su nói thì chính Ngài là “ bánh hằng sống bởi trời. Nếu ai ăn bánh này thì sẽ có sự sống đời đời”. Vị chân phước trẻ Carlo Acutis đã nói rằng “Thánh thể là một đại lộ để đi về trời”.  Thực vậy mỗi lần cử hành Thánh lễ, chúng ta sẽ khám phá được tình yêu lớn lao mà Chúa Giê-su Ki-tô ban tặng cho chúng ta và cho thế giới.

Qua mỗi Thánh lễ, chúng ta đặt niềm tin tưởng vào lời Chúa Giê-su khi Ngài nói: “ Đây là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”. Chúng ta tin tưởng nơi Chúa Giê-su bởi vì Ngài chính là “ Đường, là sự Thật và là sự Sống”. Chúng ta tin vào sự tự hiến của Chúa bởi vì yêu thương chúng ta bằng một tình yêu vượt quá những gì mà chúng ta có thể tưởng tượng.

Trong thư của Thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Êphêsô, thánh nhân khuyên các tín hữu hãy biết đón nhận món quà của Chúa. Ngài kêu gọi mọi người sống trong tình yêu và sự hiệp nhất. Đó chính là một điều kiện cần thiết để sống bí tích Thánh Thể, bí tích của Tình yêu. Chúng ta không thể thực sự làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa nếu chúng ta không sống tình yêu này. Chính Chúa Giê-su trở nên mẫu gương để chúng ta noi gương bắt chước. Chính nơi Chúa Giê-su mà chúng ta tìm gặp được niềm vui và hạnh phúc, ngay cả trong những giây phút khó khăn nhất.

Trong ngày chúa nhật hôm nay, chúng ta đến cùng Chúa Giê-su để được Ngài đón tiếp, vì như Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói, thì Ngài là “khuôn mặt của lòng thương xót”. Cuối Thánh lễ, khi linh mục chủ tế nói: Anh chị em hãy đi bình an. Điều đó có nghĩa là mỗi chúng ta được sai đi và cùng nhau thực thi sứ vụ trên hành trình đức tin. Khi được nuôi dưỡng bởi Mình và Máu Chúa Ki-tô, chúng ta cam kết trở nên chứng nhân của niềm hy vọng. Xin Thiên Chúa gìn giữ chúng ta trong sứ vụ mà Ngài trao phó. Amen.

Can đảm lên, Thầy đây, đừng sợ

Câu chuyện bão tố là một câu chuyện tràn đầy hình ảnh và biểu tượng, áp dụng cho những khó khăn trong thời thánh sử Mát-thêu viết Tin mừng, cũng như những hoàn cảnh hiện tại. Ngày hôm nay, một lần nữa bão tố lại đến với chúng ta. Bên cạnh những vấn đề mà thế giới mà chúng ta đang đương đầu, như chiến tranh, khủng bố, nạn đói, động đất, cháy rừng, lụt lội…thì dịch bệnh Covid 19 lại đang là điểm nóng, gây ảnh hưởng tiêu cực mạnh mẽ tới đời sống xã hội cũng nhưng đời sống thực hành đức tin của mỗi tín hữu.

Những khó khăn thử thách trên là nhưng cơn giông tố mà chúng ta đang gặp phải. Và có vẻ như Chúa nhắm mắt bưng tai trước những gì đang xẩy trên thế giới này. Tuy nhiên, chính Chúa Giê-su đang nói với chúng ta, như đã trấn an các môn đệ khi xưa rằng: Can đảm lên, Thầy đây, đừng sợ! Thầy ở đây cùng các con.”

Trở lại câu chuyện trong Tin mừng, chúng ta thấy Phêrô như là người đại diện cho tất cả chúng ta. Ông đã làm một hành động dũng cảm khi xin Chúa Giê-su cho đi trên mặt biển để đến với Chúa, nhưng niềm tin của ông không đủ mạnh. Sự sợ hãi xâm chiếm ông và ông bị chìm xuống. Chúa Giê-su đã phải nói với ông: “Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?” Và Ngài đã phải đưa tay ra đỡ ông lên thuyền.

Thật là thú vị khi nói tới hoàn cảnh của Phê-rô lúc này, người đã hoài nghi và cố gắng bước đi trên biển động, người đã chối Chúa những lại là người được chọn làm thủ lãnh Giáo Hội. Phê-rô sẽ có nhiệm vụ “ củng cố anh chị em mình trong đức tin”. Điều đó muốn nói với chúng ta rằng niềm tin của chúng ta không dựa trên những người phàm và yếu đuối, nhưng là trên chính Đức Ki-tô, là Đấng trao ban bình an  cho cộng đoàn ki-tô giáo trải qua những giông tố của cuộc đời.

Đức tin là một cuộc chiến đấu chống lại những nghi ngờ và sợ hãi. Chúng ta thấy sau những lời tuyên xưng đức tin vào Chúa Giê-su, Phêrô đã bỏ chạy khi Ngài đã chối Chúa ba lần: tôi không biết người này. Giữa những nghi ngờ và sợ hãi, vị tông đồ cả trong Tin mừng hôm nay cũng đã cầu nguyện năn nỉ: “ Lạy Thầy, xin cứu con với”. Cũng như là mỗi chúng ta, vị Giáo Hoàng đầu tiên đã có một niềm tin mong manh, đầy nỗi sự hãi. Tuy nhiên, khi Đức Giê-su ở với Ngài, khi Chúa cầm lấy tay Ngài, Ngài đã cảm thấy sự an toàn.

Trong thế giới đang quay cuồng này, Đức Ki-tô cũng đang có đó ở giữa những con giông tố bão bùng, Ngài vẫn là nguồn mạch của sự bình an. Trong một giây phút nào đó của đời sống, chúng ta có thể không thấy tương lai, vì những thất bại, những căn bệnh hiểm nghèo, những tang tóc xẩy đến, những vấn đề gia đình và các khó khăn đủ loại. Trong bóng đêm đen như thế, chúng ta như đang ở trên con thuyền bị sóng đánh, dưới những cơn gió thổi ngược. Và chính lúc như thế Chúa Giê-su Ki-tô lại nhắc nhớ chúng ta: “ Thầy đây, đừng sợ, thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.

Thực vậy, Chúa Giê-su Ki-tô luôn giang tay nâng đỡ chúng ta khỏi bị vùi dập bởi những cơn sóng lớn. Ngài ban cho chúng ta sự bình an không như bình an của thế gian ban tặng như chính Chúa đã nói với các môn đệ trong bữa Tiệc ly rằng: Thầy đề lại bình an cho các con. Thầy ban bình an của Thầy cho các con, nhưng thầy không ban cho các con bình an như thế gian ban tặng. Tâm hồn các con đừng xao xuyến và sợ hãi.

Vậy hôm nay khi cùng nhau dâng Thánh lễ này, một lần nữa chúng ta được mời gọi cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa Ki-tô và bình an mà Ngài ban tặng trong mỗi ngày sống. Giờ phút này đây Ngài tiếp tục nhắc lại cho chúng ta điều mà Ngài đã nói với các tông đồ trên mặt biển giông tố rằng: Can đảm lên, Thầy đây, Đừng sợ! Amen.

Bánh Hằng Sống

Hôm nay chúng ta tiếp tục suy niệm chương VI Tin mừng của Thánh Gioan. Tuần trước thánh sử trình thuật về cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và đám đông dân chúng trong sa mạc và phép lạ hóa bánh ra nhiều. Phép lạ này chiếm vị trí trung tâm trong 6 phép lạ mà thánh sứ Gioan an thuật lại.

Hôm nay là đoạn nói về diễn từ Bánh Hằng Sống. Bài giảng này diễn ra sau ngày làm phép lạ hóa bánh ra nhiều khi Chúa Giê-su và các môn đệ đi qua hồ Giênêsarét và gặp đám đông đang chờ ở đó.  

Bài giảng của Chúa Giê-su cho chúng ta thấy: “ Bánh Hằng Sống là Bánh bởi trời ban sự sống cho trần gian”. Chúa Giê-su chính là Bánh mà chúng ta có nhu cầu để được sống, như chính Chúa đã từng nói: “ Tôi đến để cho chiên được sống và được sống dồi dào” (Jn 10,10).

Chúng ta thấy có hai sự sống ở đây, cũng như có hai loại bánh. Loại thứ nhất là loại mà Chúa Giê-su nói với đám đông là loại  nuôi sống thân xác mà người ta gia sức tìm kiếm qua lao nhọc hằng ngày. Đó chỉ là thức ăn hư nát vì một đời sống chóng qua. Còn loại bánh thứ hai là loại khác, đó là “ bánh bởi trời, thứ bánh ban cho một sự sống đời đời”.

Vậy thứ bánh này là thế nào? Đây chính là thắc mắc của đám đông khi được Chúa giới thiệu. Và ngay lập tức Chúa cho họ biết “ tôi chính là bánh hằng sống, bánh bởi trời”. “ Ai đến với tôi, sẽ không bao giờ đói”. Ở đây, Chúa nhấn mạnh tới sự trọn vẹn và trên sự thỏa thuê của bánh bởi trời.

Khi nhắc đến Manna mà Thiên Chúa ban cho dân Do thái ăn trong Sa mạc khi họ đói không có gì ăn, Chúa Giê-su muốn ám chỉ đến thân phận tội lỗi của con người trong sách Sáng Thế Ký ở chương 3, trong đó Thiên Chúa đã nói với con người: “  Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn”. Loại bánh này chính là thức ăn có được do lao động vất vả, thức ăn không làm cho con người hết đói khát và khỏi phải chết, thức ăn thu được từ đất bởi lao công mệt nhọc và nước mắt.

Trong đoạn Tin mừng hôm nay, viễn cảnh đau khổ mà sách Sáng thế ký mô tả đã bị đảo ngược. Chúa Giê-su loan báo một thứ bánh mới không đến từ trần thế nhưng đến từ trời cao. Một thứ bánh không phải là hoa trái của lao nhọc bởi vì chỉ cần một sự cố gắng duy nhất để có nó là đón nhận nó trong đức tin. Điều mà Thiên Chúa mong muốn nơi chúng ta là chúng ta tin rằng Đức Ki-tô là Bánh Hằng Sống.

Bí tích Thánh Thể không đơn giản là một bữa tiệc, một phụng vụ mà tất cả diễn ra theo quy tắc và trật tự, một phụng vụ mà mỗi người đóng vai được giao phó. Vấn đề không phải là các phẩm phục phụng vụ trang trọng, với các trang trí lộng lẫy, âm nhạc ấn tượng, và các bài giảng được chuẩn bị kỹ lưỡng….Vấn đề ở đây là một cuộc gặp gỡ hiệp thông làm cho đức tin nơi Chúa Giê-su, là bánh từ trời ban xuống, được gia tăng không ngừng. Chúng ta thấy vào những lúc khó khăn, hay tại các giáo điểm truyền giáo, các Thánh lễ nhiều khi phải cử hành trong hầm trú, hay trong những nhà nguyện đơn sơ, nhưng cộng đoàn tin hữu hiện diện lại tham dự cách tích cực và sốt sắng, với niềm vui và tín thác. Vậy điều chính yếu làm nên giá trị của Thánh lễ đó là sự hiện diện của Đức Ki-tô – Bánh Hằng Sống.  Sự hiện diện này làm cho Thánh lễ được cử hành ở trong nhà nguyện nhỏ bé đơn sơ có cùng giá trị và hiệu quả như Thánh lễ được cử hành trong ngôi Nhà thờ rộng lớn nguy nga .

Tin vào sự hiện diện của Đức Ki-tô còn làm nên các Ki-tô hữu đích thật. Thực vậy, chúng ta có thể hỏi một người:  điều gì làm cho một người trở nên tín hữu đích thật? Có thể họ sẽ trả lời là bí tích rửa tội. Đúng nhưng chưa đủ bởi vì trong thực tế đã có hằng trăm người đã được rửa tội nhưng sau đó họ đã không còn tiếp xúc với đạo nữa. Ngay cả đang sinh hoạt trong một giáo xứ đi nữa, thì cũng không ít người chỉ đến nhà thờ có 4 lần trong đời, để rước lễ lần đầu, chịu phép thêm sức, lễ cưới, và nghi thức an táng cuối đời mà thôi. Chúng ta vẫn thường nói vui về những anh chị em này theo là “đạo bốn bánh xe” là thế.  Vậy cái gì làm nên người tín hữu đích thật? Thưa câu trả lời thật đơn giản: đó chính là Chúa Giê-su Ki-tô. Điều quan trọng nhất đối với Ki-tô giáo là sự quy tụ xung quanh Chúa Giê-su Ki-tô. Những ai có lòng tôn kính Đức Ki-tô và để cho Ngài hoạt động trong đời sống mình mỗi ngày, họ mới chính là các Ki-tô hữu. Vâng, tin vào Đức Ki-tô và để cho Ngài hoạt động trong đời sống chúng ta mỗi ngày đó chính là sứ điệp mà Chúa Giê-su gửi đến cho chúng ta hôm nay vì chính Ngài là Bánh Hằng Sống ban xuống bởi trời. Vậy“ việc Thiên Chúa muốn cho chúng ta làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến.”

Ta mua đâu bánh cho họ ăn đây?

Suy niệm Chúa nhật XVII thường niên – B

Chúng ta đã nhiều lần nghe câu chuyện hóa bánh ra nhiều trong Tin mừng. Tuy nhiên hôm nay, chúng ta cùng chú ý tới một vài yếu tố quan trọng trong Lời nói của Chúa Giê-su: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” Khi đặt câu hỏi này, Chúa Giê-su biết rõ điều cần phải làm. Điều làm Ngài bận tâm, đó là nuôi sống đám đông không có gì ăn.

Một đứa bé lúc đó đã trao 5 chiếc bánh và 2 con cá. Chỉ cần như vậy để Chúa làm phép lạ. Ngài đã nhận từ đứa bé những chiếc bánh, là hoa màu ruộng đất và lao công của con người. Sau lời chúc tụng và tạ ơn, Chúa đã cho đem phân phát 5 chiếc bánh và 2 con cá…Cái nhận được từ đứa bé, qua đôi tay của Con Thiên Chúa đã trở nên nguồn sống bất tận.

Ở đây chúng ta cần nêu lên những cái logic và gắn kết của phép lạ. Trước hết phép lạ đến từ những gì là bình thường trong sự tôn trọng những định luật của trật tự tự nhiên. Những chiếc bánh mà đám đông ăn không phải là làm ra từ không có gì nhưng là được nhân lên nhiều. Và chúng ta thấy Chúa Giê-su đã làm phép lạ từ những vật chất đã có, ở đây là bánh và cá mà đứa trẻ trao tặng. Vậy mỗi chúng ta có thể hiểu rõ là lòng hảo tâm dành cho tất cả mọi người bắt đầu từ một sự chia sẻ đầu tiên.

Sức mạnh của phép lạ chỉ thực hiện được qua những quà tặng quảng đại của đứa trẻ. Từ đó chúng ta có thể rút ra một bài học, đó là để mang lại điều tốt cho người khác, thì cần phải trao tặng cho Thiên Chúa cái mà ta có. Bởi vì Thiên Chúa không đòi hỏi ai điều mà họ không có. Cuối cùng, điều sẽ được tặng ban cho mỗi người, không phải là một sự tích lũy ích kỷ cho riêng bản thân mình, nhưng là một quà tặng và một sự sẻ chia được trao cho Thiên Chúa, và phép lạ được thực hiện.

Chuyện kể rằng khi biết tin một gia đình nghèo theo đạo Hindu ở Calcutta bị đói nhiều ngày, Mẹ Têrêsa đến thăm họ và mang một bọc gạo lớn cho người mẹ. Bà rất ngạc nhiên khi thấy người mẹ này chia gạo thành hai phần bằng nhau và mang một bao nhỏ đưa cho người hàng xóm Hồi giáo của bà. Khi bà quay trở lại, Mẹ Têrêsa hỏi bà tại sao bà lại làm một hành động hào phóng như vậy, người phụ nữ trả lời: “Gia đình tôi có thể xoay sở với một nửa số gạo trong túi này. Còn gia đình hàng xóm của tôi có vài đứa trẻ đang chết đói”.

Lòng rộng rãi của người mẹ trong câu chuyện trở nên mẫu gương cho mỗi người chúng ta, các ki-tô hữu. Đứng trước những nỗi thống khổ mênh mang của nhân loại, mỗi chúng ta sẽ nghĩ là nguồn lực của mình chỉ như muối bỏ bể. Vâng, quả là như thế, làm sao mà đáp ứng đủ, nhưng nếu chúng ta biết trao ban những gì mình có với lòng hảo tâm và quảng đại, thì sự sẻ chia sẽ kéo theo sự chia sẻ, tình yêu tiếp nối tình yêu. Thực tế được rút ra từ nạn dịch Covid 19 đang diễn ra là tình yêu và sự chia sẻ quảng đại của những con người hảo tâm đang được nhân lên trong đời sống xã hội, và đó chính là nền tảng để xây dựng Nước Chúa ngay tại trần thế này. Amen.

Scroll to Top