Đời sống đức tin

Tỉnh thức và cầu nguyện

Mùa Vọng là thời gian trông đợi ngày Chúa đến. Xét về ý nghĩa của sự trông đợi của Mùa Vọng thì chúng ta cử hành ba biến cố của việc Chúa đến: trước hết là biến cố Chúa đến trong thời gian và hằng năm biến cố này được cử hành long trọng vào ngày đại lễ Giáng Sinh 25.12; tiếp đến là biến cố Chúa đến trong đời sống của mỗi người qua việc họ sẵn sàng đón tiếp Chúa; và cuối cùng là biến cố Chúa đến trong vinh quang của ngày cánh chung. Nói chung ý nghĩa của ba biến cố này là tâm tình tràn đầy niềm hy vọng mừng Chúa đến viếng thăm, đó cũng là chủ đề mà các bài đọc kinh thánh mà chúng ta vừa nghe.

Bài đọc Cựu ước cho thấy: việc Thiên Chúa đến là để làm thỏa mãn khát vọng của loài người.

Ngôn sứ Giêrêmia đã chứng kiến những trang lịch sử đau buồn nhất của đất nước Israen và khát vọng lớn lao đối với họ là được giải thoát khỏi kiếp lưu đày. Trước tình cảnh tang thương đó, ngôn sứ đã loan báo cho dân biết rằng cảnh lưu đày sẽ không kéo dài lâu, vì sẽ tới những ngày Thiên Chúa sẽ gởi đến Một Đấng cứu thoát họ.

Còn trong bài đọc Tân ước, thì thánh Phaolô lại cho thấy:  việc Chúa đến mời gọi mọi người sống niềm hy vọng bằng tình yêu thương, qua thực tế đời sống của các tín hữu Thêxalonica.

Chuyện xẩy ra là vì nghĩ rằng Chúa sắp đến rồi, nên các tín hữu Thêxalônica sống buông thả, lười biếng. Từ đó sinh ra nhiều tệ nạn. Thánh Phaolô cho rằng đó không phải là thái độ đúng đắn. Thái độ đúng đắn là phải bồi dưỡng tình thương như trong thư ngài nhấn mạnh : “Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết… Có như thế thì… anh em mới được bền tâm vững chí không có gì đáng chê trách… trong ngày Chúa Giêsu quang lâm”.

Như vậy, lời Chúa hôm nay là mời gọi chúng ta cần sẵn sàng đón Chúa bằng việc tỉnh thức, cầu nguyện liên lỉ và kiên trì sống đức tin bằng một đời sống xứng đáng. 

Chúa Giê-su trong bài Tin mừng của Thánh Luca đã mô tả cách cụ thể những dấu chỉ cụ thể báo hiệu về Ngày Cánh Chung để mời gọi người môn đệ phải chú ý tới ngày Chúa đến bằng hai thái độ:

  • Thái độ thứ nhất là chú ý đón Chúa: vì thế không nên để mình xao lãng vì những ảnh hưởng bên ngoài như lo chè chén say sưa hoặc chỉ lo chuyện sống chết, chỉ lo chuyện thế gian… Nếu bất cứ lúc nào cũng nghĩ đến việc Chúa đến thì dù cho có thình lình, đột ngột, họ cũng không ngỡ ngàng.
  •  Thái độ thứ hai là kiên trì trong việc cầu nguyện liên lỉ : cầu nguyện để xin Ngài mau đến, cầu nguyện để xin ơn đứng vững trước những trào lưu thế gian lôi cuốn.

Chúng ta xác tín về sự hiện diện của Chúa trong đời sống mỗi ngày. Niềm xác tín này sẽ là trợ lực lớn lao để chúng ta hân hoan sống tâm tình mùa vọng hôm nay bằng một đời sống cầu nguyện liên lỉ và biết xa lánh những lôi cuốn của thế gian để có thể trở nên những ngọn đèn luôn cháy sáng của niềm tin yêu và hy vọng. 

Xin cùng với quý ông bà và anh chị em đọc lại lời Tin mừng như là một tâm tình tóm kết rất chí lý thúc đẩy chúng ta trong ngày khởi đầu của Mùa Vọng này: ” Các con hãy giữ mình, kẻo lòng các con ra nặng nề, vì chè chén say sưa và lo lắng việc đời, mà ngày đó thình lình đến với các con, như chiếc lưới chụp xuống mọi người sống trên mặt đất. Vậy các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người!“. Amen.

Nước tôi không thuộc về thế gian này

Chuyện kể rằng, có một ông lão lang thang dựng lều trú ngụ trước hoàng cung. Nhà vua triệu vào chất vấn ông lão: Nhà người nghe cho rõ đây đâu phải là trạm nghỉ chân của Ngươi? Ông lão liền hỏi: Tâu bệ hạ, trước hoàng thượng, ai sở hữu hoàng cung này ạ? Đức vua trả lời: phụ vương của trẫm, người đã băng hà. Thế vậy, ai đã sở hữu chỗ này trước phụ vương của hoàng thượng? Tiên đế của phụ vương trẫm, ông ấy cũng đã qua đời. Ông lão liền nói: Thế thì đây cũng chỉ là một trạm nghỉ chân; ai cũng chỉ ở chỗ này một thời gian ngắn rồi đi mà thôi.

Câu chuyện giả tưởng trên cho ta thấy Vua chúa trần gian là thế, dù có trị vì đến “muôn tuổi” thì rồi cũng có lúc ra đi. Còn Chúa Giê-su thì khác, Ngài mới là Vua muôn đời, là Vua vũ trụ vì Ngài không thuộc về thế giới của các vị vua trần thế và vượt quá những gì thuộc về giá trị thế gian.

Vua Giê-su đã được Ngôn sứ Đanien trong bài đọc I loan báo như là một nhân vật rất đặc biệt được gọi là Con Người. Con Người đã phải chịu rất nhiều đau khổ. Tuy nhiên, Đanien thấy Đấng Lão Thành (tức Thiên Chúa) trao cho Con Người quyền thống trị tất cả loài người. Nhân vật Con Người ấy chính là hình ảnh tiên báo Đấng Messia. Và Đức Giêsu chính là Đấng Messia hoàn thành lời tiên tri ấy.

Và như mô tả trong sách Khái huyền ở bài đọc II, thì vua Giê-su đã lấy máu mình rửa sạch mọi tội lỗi của con người vì yêu thương họ. Sau khi chịu nạn chịu chết, Ngài được tôn lên làm Vua mọi loài và làm cho chúng ta trở thành công dân trong vương quốc của Ngài.

Vương quốc của Vua Giê-su là vương quốc mà như Đức Giê-su nói với quan Phi-la-tô là “ không thuộc về thế gian này”, nhưng là vương quốc của sự thật và tình yêu.  Một vương quốc không có biên giới vì vũ trụ này là vương quốc của Chúa và bất cứ nơi đâu có người sống trong chân lý và tình yêu thì ở đó vương quốc của Chúa hiển trị.  Một vương quốc không có quân đội vì bất cứ ai thuộc về chân lý, sống theo lương tâm ngay chính, sống hòa thuận, thương yêu và làm những việc lành thì là người bảo vệ và thuộc về vương quốc này.

Qua ý nghĩa Lời Chúa hôm nay, mỗi người chúng ta sẽ phải làm gì để xứng đáng dự phần vương quốc của Đức Giê-su mỗi ngày một hơn? Mỗi chúng ta đã lãnh nhận bí tích thánh tẩy và nhờ đó trở thành công dân của vương quốc của Đức Giê-su.  Vương quốc mà Chúa Giê-su thiết lập đang khởi đầu ngay tại trần thế này, và được sánh ví như hạt cải và như men trong bột. Hạt cải có trở thành cây lớn, men có làm dậy nở thúng bột hay không cần phải nhờ vào sự tăng trưởng của mỗi người chúng ta trong đời sống đạo mỗi ngày.  

Để mỗi người chúng ta tự trả lời với Chúa trong ngày cuối cùng của năm phụng vụ, xin chia sẻ câu chuyện sau:

Vừa khi cuộc thế chiến thứ hai kết thúc, một toán lính đồng minh đã tình nguyện đến giúp đỡ người dân ở một làng nhỏ ở miền Bắc nước Ba-lan tái thiết lại những gì đã bị chiến tranh tàn phá.

Dân làng không yêu cầu họ làm công tác gì, cũng không xin giúp đỡ thuốc men, thực phẩm hay nông cụ. Họ chỉ xin các binh sĩ đồng minh giúp họ tái thiết một pho tượng đã bị bể nát tan tành. Từ nhiều thế kỷ qua, pho tượng này là niềm tự hào của người dân trong làng. Giờ đây pho tượng chỉ còn là những mảnh vụn nằm vung vãi dưới đất. Liệu những người lính đồng minh có thể làm được công tác khó khăn này không?

Quả thực, công tác khó khăn. Nhưng cuối cùng các binh sĩ cũng nhặt lại được từng mảnh vỡ và dựng lại được pho tượng. Chỉ có điều là có hai phần chi thể trong pho tượng là họ không thể tìm thấy.

Họ dựng pho tượng giữa quảng trường của ngôi làng và phủ lên đó một tấm vải lụa. Tấm vải này chỉ được mở ra bằng một nghi thức do ông xã trưởng chủ tọa.

Khi dân chúng trong làng tề tựu đông đủ trước quảng trường. Ông xã trưởng đọc diễn văn cám ơn các binh sĩ đồng minh và cho mở tấm vải lụa ra. Mọi người kêu lên với tất cả kinh ngạc. Pho tượng tuyệt đẹp nhưng lại không có đôi tay. Dưới chân pho tượng Chúa Kitô Vua không có đôi tay này, mọi người đọc được hàng chữ viết thật lớn sau đây: “Ta không có tay. Các con có thể cho Ta mượn đôi tay của các con được không?”

“Ta không có tay, các con có thể cho Ta mượn đôi tay của các con được không?” Vâng, câu nói  cảm động này cho thấy Chúa Ki-tô đang rất cần những  đôi tay của chúng ta để xây dựng vương quốc của Ngài. Trong cuộc sống hôm nay, vẫn còn đó những bất công xã hội, những thù hằn ghen ghét, những mảnh đời đau khổ vì nghèo đói, bệnh tật và bị bỏ rơi… Hơn lúc nào hết, Vua Ki-tô cần đến đôi tay tương trợ của những thần dân là chúng ta để xây dựng một xã hội biết tôn trọng sự thật, sự sống và môi trường sống, trong sự hiệp nhất và yêu thương. Cách đây hai ngàn năm, Chúa Giê-su đã đi lại, đã nói và đã làm biết bao nhiêu điều tốt đẹp, ngày nay hơn bao giờ hết, Ngài cũng muốn cho các hoạt động yêu thương của Ngài được tiếp tục thực hiện nơi cuộc sống chứng tá của mỗi người chúng ta.

Lạy Chúa,  xin cho chúng con nhận ra sự hiện diện sống động của Chúa trong phụng vụ thánh thể mà chúng con đang cử hành. Xin soi sáng cho chúng con để chúng con nhận ra Chúa nơi anh chị em xung quanh mà hết tình yêu thương họ bằng chính tình yêu chúng con thể hiện nơi Chúa bởi vì chính vì họ mà chúng con được mời gọi để sống tình yêu liên kết mật thiết với Chúa mỗi ngày. Amen.

Tình yêu Đức Ki-tô thúc bách

Ngày 1.11, chúng ta cùng với Giáo Hội hoàn vũ suy tôn cách chung tất cả các thánh nam nữ trên nước trời, hôm nay cùng với Giáo hội tại Việt Nam chúng ta tôn vinh các riêng các vị thánh tử đạo Việt Nam là cha ông chúng ta.

1,. Tử đạo là gì?

Các vị thánh tử đạo Việt Nam là ai? Thưa các Ngài là những người làm chứng tá cho lòng trung tín với Đức Ki-tô, đấng mà các ngài chọn để làm lẽ sống cho cuộc đời mình.

Như Thánh linh mục Phêrô Lê Tùy, khi bị bắt, biết ngài là Đạo Trưởng Gia-tô nên viên quan dụ dỗ: “Ông nghe ta đi, ai thấy ông bị bắt cũng động lòng trắc ẩn. Không ai muốn ông phải án tử hình, ta đây cũng vậy. Bây giờ ông nghe ta, làm một tờ khai nói mình là lang y chữa bệnh, có thế ta mới cứu ông được“. Cha Tùy trả lời: “Tôi không sợ chết, vì chết cách nào tôi cũng không ngại. Ai cũng phải chết. Dù chết trên chăn êm nệm ấm, dầu bị cọp tha cá rỉa, dầu bị lột da hay xé xác làm trăm mảnh cũng đều là chết thôi; cho nên tôi không sợ chết“.  Còn Thánh Anê Thành, một người mẹ của 6 đứa con. Trong cơn đau đớn vì bị tra tấn đã nhắn nhủ cô con gái đến thăm người trong tù rằng: “Con chuyển lời mẹ nói với các anh chị em con : Hãy coi sóc việc nhà, giữ đạo sốt sắng, đọc kinh sáng tối, dâng lễ mỗi ngày, cầu nguyện cho mẹ vác thánh giá Chúa đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta sẽ đoàn tụ trên Nước Thiên Đàng“. Lời sau cùng của bà là: “Giêsu Maria Giuse, con phó thác hồn con và thân xác con trong tay Chúa, xin ban cho con trọn niềm tin ở Chúa.”

Gương hai vị thánh trên đây đã cho thấy các vị tử đạo đã can trường giữ vững đức tin trước mọi thử thách gian lao. Các ngài đã sẵn sàng liều đánh đổi cả cái quý giá nhất của mình là mạng sống là để được chết vì Chúa Ki-tô, đấng đã chết cho toàn thể nhân loại. Và như thế tử đạo vì Chúa Ki-tô đối với các ngài là niềm hạnh phúc như lời Chúa Giê-su nói : “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. (Mt 5,10-12).

Sự trung tín, vâng phục và tình yêu với Đức Ki-tô đã phác họa lên bức chân dung Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, và đã biểu lộ được sức sống mãnh liệt kín múc từ Chúa Giê-su tử nạn và phục sinh. Nếu sức sống này sánh ví như hạt lúa miến phải mục nát đi mới trổ sinh hoa trái, thì chính cái chết của các ngài lại trở nên những hạt giống đức tin trổ sinh nhiều bông trái là các tín hữu.  Đó cũng chính là chân lý mà ông Tertuliano rút ra từ sự tử đạo của các Ngài khi ông nói : Máu các thánh tử đạo là hạt giống trổ sinh các ki-tô hữu.

2. Sống tử đạo bằng sự trung tín và vâng phục

Như thế, là những hoa quả trổ sinh từ hạt giống các thánh tử đạo anh hùng, chúng ta bày tỏ biết ơn các ngài đã gây dựng gia tài đức tin trên quê hương việt nam từ mấy trăm năm nay. Đồng thời, trong vinh dự là những người con cháu đang kế thừa truyền thống cao đẹp này, chúng ta cần phải sống theo gương cha ông.

Đó là chúng ta hãy thực thi một đời sống đạo cách cụ thể bằng những hy sinh từ nhỏ cho đến lớn qua sự trung thành với đức tin, vâng phục lề luật của Chúa và những đòi hỏi của bậc sống mình. Tất cả đòi buộc mỗi chúng ta phải chết đi mỗi ngày để có thể chiến thắng những cám dỗ và chiến thắng cái tôi ích kỷ của bản thân mình.

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta luôn ý thức địa vị cao quý là con cháu của các vị tử đạo anh hùng, để bằng sự trung tín và vâng phục trong niềm tin, không bao giờ để mất di sản đức tin quý báu đã được mua bằng giá máu các thánh tử đạo và không ngừng trao ban di sản vô giá này cho anh chị em xung quanh chúng ta. Amen.

Tấm lòng

Người đời thường đánh giá theo bề ngoài, còn Thiên Chúa thì đánh giá theo tấm lòng. Tấm lòng thành này phản chiếu qua gương sống của hai người phụ nữ được thuật lại trong hai bài đọc Kinh thánh mà chúng ta vừa nghe.

Mang thân phận là những bà góa, không được mọi người chú ý và coi trọng trong xã hội thời đó, hơn nữa lại là những bà góa nghèo, nhưng các bà góa nghèo này đã biểu lộ một tình yêu với Chúa và tha nhân không chỉ bằng tình cảm xuông nhưng còn bằng những hành động cụ thể.

Quả vậy, nếu yêu là hành động, thì tình yêu được diễn tả bằng sự cho đi mà không hề tính toán. Bà góa nghèo Sarepta trong bài đọc I đã trao tặng ngôn sứ Ê-li-a không phải những cái bà dư thừa, mà là chính chiếc bánh cuối cùng của mẹ con bà. Sở dĩ bà làm như thế vì bà có lòng tin tưởng phó thác vào lời hứa của Thiên Chúa. Cũng thế bà góa nghèo trong Tin mừng đã bỏ 2 đồng bạc và trong hòm tiền của Đền Thờ, không đáng giá trị bao nhiêu. Bà góa nghèo tiền nhưng đã làm một nghĩa cử đẹp vì bà là người giàu lòng. Đức Giê-su quan sát và thấy được đây là hình ảnh đẹp nên gọi các môn đệ đến chỉ cho họ thấy và dạy họ noi gương.

Cũng vậy, Mẹ Têrexa kể rằng một hôm Mẹ đang đi trên đường phố thì gặp một người ăn xin. Người này nói : “Thưa Mẹ Têrêxa, ai nấy cũng cho Mẹ hết. Hôm nay tôi cũng xin được cho mẹ. Trọn ngày hôm nay tôi chỉ xin được 30 xu. Tôi muốn cho mẹ hết”. Mẹ Têrêxa suy nghĩ một lúc : “Nếu tôi lấy 30 xu này thì người ăn xin này sẽ không có gì để ăn đêm nay, nhưng nếu tôi không lấy thì ông sẽ đau lòng. Vì thế tôi đưa tay ra nhận số tiền. Quả thực tôi chưa từng thấy một khuôn mặt nào rạng rỡ niềm vui như gương mặt người ăn xin này khi ông nghĩ rằng ông cũng có cái gì đó cho Mẹ Têrêxa”.

Và Mẹ Têrêxa kể tiếp : “Thật là một hy sinh lớn đối với người nghèo này. Ông đã phải ngồi ngoài nắng suốt ngày mới kiếm được 30 xu. 30 xu chẳng là bao và cũng chẳng làm được gì cho đáng. Nhưng khi ông đưa cho tôi và tôi nhận lấy thì nó trở thành hàng ngàn bởi vì nó được cho với biết bao tình. Thiên Chúa không nhìn đến tầm vóc lớn lao của việc ta làm, Ngài nhìn tấm lòng của ta khi làm việc đó.”

Những hình ảnh đẹp như trên giúp cho chúng ta suy tư về ý nghĩa cao quý của tình yêu: đó là tình yêu luôn được diễn tả bằng hành động. Tấm lòng thành của người đàn bà góa làm cho hành động bỏ tiền vào hòm tiền đền thờ của bà trở nên cao đẹp. Vậy,  hành động chỉ đẹp khi nó diễn tả bằng một tâm tình thật của một tình yêu được đón nhận từ chính Thiên Chúa. Nếu không thì những gì thể hiện ra bên ngoài chỉ là sự giả hình và khoe khoang như hình ảnh của các luật sỹ và Pha-ri-sêu trong bài Tin mừng. Họ rất cao sang, vinh dự với áo thụng, chức quyền, được người ta bái chào ngoài đường, được ngồi chỗ nhất. Thế nhưng đó chỉ là cái vỏ, che đậy bên trong là những tâm hồn kiêu căng, tham lam, ức hiếp những kẻ yếu đuối.

Hình ảnh đẹp của người đàn bà góa nghèo là lý do tốt nhất để mỗi người chúng ta học được bài học của tình yêu, của sự cho đi. Thánh Vi-cen-te Phao-lô rất có lý khi nói: Hạnh phúc thay cho những người nghèo vì có những người nghèo biết cho đi.

Yêu là không tính toán. Người đàn bà góa nghèo đã cho đi tất cả mà không hề toan tính là biểu tượng sống động của một Thiên Chúa là Đấng giàu lòng xót thương, Ngài đã cho chúng ta tất cả qua chính người con yêu dấu của Ngài là Đức Giê-su Ki-tô.

“ Cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm”,  xin cho mỗi người chúng ta cảm nghiệm được lời của thánh Augustino để  luôn biết yêu thương tha nhân như Chúa yêu thương chúng ta bằng sự trợ giúp tha nhân cách quảng đại mỗi ngày một hơn. Amen.

Niềm hạnh phúc

Bài giảng trên núi mở ra với các Mối Phúc Thật. Thật là tuyệt vời khi chương trình đời sống này được gửi tới các con cái Nước Trời, không khởi đi từ những đòi buộc như: bạn phải làm điều này, phải làm điều kia…” nhưng là bởi sự lặp đi lặp lại: phúc thay cho bạn”. Chúa Giê-su mở ra một lời mời gọi cho hạnh phúc, cho niềm vui. Ơn gọi của các tín hữu, chính là tìm kiếm hạnh phúc.

Từ  ngữ “ Phúc thay”,  được nói tới 55 lần trong Tân Ước. Đạo của Chúa Giê-su không phải là đạo buồn sầu, hướng về những gì là tiêu cực, nhưng là một con đường giúp cho mọi người được hạnh phúc.

Các mối phúc không phải là một loại thuốc an thần thiêng liêng,  giúp chấp nhận các khó khăn của đời sống để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn. Các mối phúc đây là một lời mời gọi và là một sứ mạng được trao phó cho chúng ta là những người đón nhận Tin mừng.

Ngay sau các mối phúc, Chúa Giê-su giải thích điều mà ta phải làm mỗi ngày để được hạnh phúc: như “ người ta nói với anh: đừng giết người. Còn ta, ta nói với anh là đừng nguyền rủa, cũng đừng làm cho anh chị em mình phiền lòng. Người ta nói với anh là đừng ngoại tình, còn ta, ta nói với anh là hãy giữ đôi mắt và tầm hồn trong sạch. Người ta nói với anh: mắt đền mắt, răng đền răng. Còn ta, ta nói với anh là đừng để mình nuôi lòng hận thù; nhưng hãy là người kiến tạo bình an. Người ta nói với anh: hãy yêu thương người thận cận và ghét kẻ thù. Còn ta, ta nói với anh là hãy yêu thương kẻ thù và làm những điều tốt cho những kẻ ghét anh em. Người ta nói với anh: của lễ dâng trên bàn thờ phải là ưu tiên. Còn ta, ta nói với anh: khi anh dâng của lễ trên bàn thờ mà chợt nhớ có người anh em đang lỗi phạm đến anh, thì hãy để của lễ trước bàn thờ và đi làm hòa với người anh em đó trước đã rồi mới về dâng của lễ”.

Vâng, Chúa Giê-su nói về hạnh phúc khi tình yêu được trao ban cho người khác. Đó chính là điều làm nên các mối phúc cũng như là sự phán xét trong ngày chung thẩm: khi ta đói các người đã cho ta ăn; khi ta khát các người đã cho ta uống, khi ta mình trần các người đã cho mặc và khi ta đâu yếu, các người đã đến viếng thăm ta…

Chúa Giê-su chính là chìa khóa để hiểu các mối phúc. Ngài là Đấng không nỡ bẻ cây lau bị dập, không nỡ dập tắt tim đèn còn khói. Ngài nếu gương cho chúng ta: hãy học cùng ta vì ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.

Tin mừng về các mối phúc thật giới thiệu cho chúng ta về Chúa Giê-su là Đấng đã xoay mình về những người đau ốm, tàn tật, liệt lào, và đau khổ. “ Ngài thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ bơ vơ, vất vưởng, như đàn chiên không người chăn dắt”. Chúa Giê-su tự đồng hóa với những người đau khổ, khi Ngài nói: điều mà anh em làm cho một trong những người bé mọn đây…là làm cho chính Ta vậy”.

Trong bài giảng trên núi, Chúa Giê-su biểu lộ như là một Mai sen mới đến để quy tụ dân Thiên Chúa. Ngài ban bố lề luật Nước trời và mời gọi người nghe thay đổi đời sống, hoán cải, và có cái nhìn mới đối với mọi sự.

Vậy ngay từ lúc này, mỗi chúng ta cần  mang lấy một lối sống mới, và điều đó là nền tảng của niềm vui của các mối phúc thật. Vấn đề là biết chọn lựa những giá trị có thể làm biến đổi chúng ta, và mang đến nhiệt huyết cho mọi người xung quanh. Các mối phúc muốn biến con tim bằng đá của chúng ta thành con tìm bằng thịt.

Trong một xã hội có nhiều biến động, mỗi chúng ta cần thiết trở nên những con người của hòa bình, sẻ chia và tương trợ lẫn nhau. Cần phải thay đổi cái tâm tính ích kỷ của mỗi chúng ta thành một tâm tính huynh đệ, đượm tình hiệp thông.

Xung quanh chúng ta đã có biết bao nhiều vị thánh của hòa bình, như Mẹ thánh Têrêsa thành Calcutta, thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II, hay các con người kiến tạo hòa bình như các bậc vĩ nhân của các thời đại…Nhưng chứng nhân như thế cũng đang tiếp tục xuất hiện trong mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn mà chúng ta đang sống. Họ làm cho chúng ta hiểu rằng một người mà thôi cũng có thể làm nên một sự khác biệt quan trọng trong đời sống của mọi người.

Chuyện kể rằng tại một ngôi làng kia, đang chịu cảnh nghèo đói bởi đất đai thì khô hạn và cằn cỗi, bà con giáo dân đến xưng tội với cha xứ. Để ra việc đền tội, vị linh mục trẻ đã trao cho mỗi người một hạt cây và họ phải trồng nó để được tha thứ. Có thể nói là những tín hữu này đã phạm nhiều tội lắm bởi vì sau ba mươi năm, số cây mà họ trồng đã tăng trưởng và làm cho cả làng trở nên mát mẻ, làm cho cảnh hạn hán không còn và làm cho đời sống của làng này trở nên xanh tươi. Vâng, kính thưa…với sự sáng suốt đó mà vị linh mục trẻ đã thay đổi đời sống của mọi người trong cả làng quê đó.

Quả vậy, Chúa Giê-su hôm nay mời gọi chúng ta hãy thực hiện đồng thời bằng việc hoán cải và thay đổi thế giới: Phúc cho những ai kiến tạo hòa bình, họ sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Amen.

Mến Chúa yêu người

Trong cuốn tự thuật của thánh nữ Têrêsa, thánh nhân ghi lại cảm nhận của mình như sau: Tình Thương Bác Ái là chìa khóa của ơn gọi tôi”. Nhờ đó mà Thánh Têrêsa đã trở nên vị thánh tiến sỹ của Tình yêu.

Vâng, cuộc đời nên thánh của thánh Têrêsa được dệt bằng con đường thơ ấu không có gì khác ngoài việc thực thi điều mà Chúa Giê-su tóm kết trong bài Tin mừng hôm nay khi một người thông luật hỏi: « Thưa thầy,  điều răn nào là điều răn trọng nhất » và ngài đã không ngần ngại trả lời : « Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của người hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình ».

Tại sao nhà thông luật lại hỏi Chúa như thế, Thưa vì trong luật Do thái có tất cả 613 điều luật khác nhau, trong đó có 365 điều luật cấm và 248 luật phải giữ. Trong một rừng luật như thế, đâu là điều cốt yếu phải giữ ?  Chúa Giêsu đã chọn lọc ra hai điều luật quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người và liên kết hai điều đó lại: mến Chúa thì phải yêu người, yêu người thì phải mến Chúa. Cả hai điều ấy có thể tóm lại thành một điều duy nhất là yêu thương. Yêu thương là cốt lõi của tất cả mọi khoản luật khác.

Khi tóm kết mọi khoản luật bằng luật tình yêu, Chúa Giêsu không chỉ giảng dạy mà đã làm chứng điều mình dạy bằng cả cuộc sống và cái chết của mình. Và không chỉ là thánh Têrêsa hay tất cả các vị thánh đã học theo gương Chúa mà sống điều cốt lõi của ơn gọi làm con Chúa là Yêu Thương, mà còn là lời mời gọi cho tất cả những ai tin theo Ngài trong mọi thời đại.

Khi xác tín được điều cốt lõi của ơn gọi làm con Chúa là yêu thương, chúng ta hôm nay phải thực hiện giới luật mến Chúa và yêu người như thế nào ?

Trước hết , nếu yêu mến Chúa hết lòng hết linh hồn hết trí khôn, thì khi tuân giữ mọi giới luật giúp ta bày tỏ tình yêu này với Thiên Chúa.  Quả vậy ta có thể nói ngược lại rằng nếu đã yêu mến Chúa thì đương nhiên phải chu toàn lề luật mà Chúa dạy. Chính Chúa Giêsu đã nói : «  Ai yêu mến Thầy thì hãy tuân giữ lời Thầy ».

Yêu thương là chu toàn lề luật, lề luật của Chúa đòi buộc ta phải yêu thương tha nhân như chính mình. Để có thể yêu tha nhân như chính bản thân mình, ta cần phải yêu mến Chúa hết lòng để có thể yêu tha nhân bằng tình yêu của Thiên Chúa như Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ khi xưa : Anh em hãy yêu thương nhau như thầy yêu thương anh em.

Yêu như Thầy Giê-su yêu được gọi là bác ái Kitô giáo. Tình yêu này vượt trên tình yêu nhân loại như Thánh Phaolô đã viết cho anh chị em ở Corinto: « “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.”

Tất cả những thực hành của Đức Mến này được đặt vào trong những cấp độ của tình yêu : người  ta không chỉ buộc yêu thương mình nhưng còn buộc phải «  thương người như thể thương thân » nữa. Yêu thương tha nhân không chỉ dừng lại ở những người ruột thịt, những người ta quen biết, những người ta mang ơn, những người ta có bổn phận chăm sóc…mà còn yêu thương những người xa lạ và hơn thế nữa tình yêu này còn được mở rộng đến cả những kẻ bất lương và địch thù của mình. Người ta không chỉ buộc không làm cho người khác điều mà mình không muốn người khác làm cho mình, mà còn buộc phải làm cho người khác điều mà mình muốn người khác làm cho mình nữa. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II mà chúng ta vừa kính nhớ tuần qua là một chứng tá hùng hồn cho chúng ta thấy nét đẹp của tình yêu kitô giáo khi ngài đã không nuôi thù hận nhưng quảng đại tha thứ vô điều kiện cho địch thù của mình. Bằng chứng là ngài đã đến nhà tù thăm, chúc lành và tha thứ cho anh Ali Agca, người đã bắn 3 phát đạn để ám sát ngài tại Roma vào năm 1981.

Lời Chúa hôm nay một lần nữa nhắc nhớ mỗi người chúng ta về sứ mạng và ơn gọi của mỗi kitô hữu là Yêu thương. Mến Chúa và yêu người là hai thực hành cốt lõi của Tình yêu kitô giáo này. Yêu Thiên Chúa chắc chắn dẫn đến yêu tha nhân. Tình yêu tha nhân cần đặt nền trên lòng yêu mến Thiên Chúa. Người tín hữu chúng ta tới nhà thờ vì lòng yêu mến Chúa thì sẽ tỏ bày lòng mến này với tha nhân trong cuộc sống ngoài đời. Nếu ngoài cuộc đời, ta gặp Chúa nơi anh chị em, thì trong nhà thờ, ta gặp anh chị em nơi Chúa. Thánh Gioan đã nói: Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy (1Ga 4,20). Do đó, “ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng phải yêu thương anh em mình” (Ga 4,21).

Chính vì lẽ đó, để kết luận bài chia sẻ hôm nay, xin quý ông bà và anh chị em cùng với tôi cất lên tâm tình của thánh Phanxicô At-xi qua lời Kinh Hòa Bình để cùng quyết tâm thực hành giới luật yêu thương mà Thiên Chúa muốn chúng ta trao tặng cho anh chị em xung quanh:  

    Lạy Chúa từ nhân,

    Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.

    Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa

    Ðể con đem yêu thương vào nơi oán thù,

    Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục

    Ðem an hoà vào nơi tranh chấp,

    Ðem chân lý vào chốn lỗi lầm.

    Ðể con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng,

    Ðể con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.Amen.

Lên đường và đi ra

“Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng”…Lời thánh Phaolô cho thấy sứ mạng và bản tính của Giáo hội là truyền giáo.  Truyền giáo là ơn gọi của Giáo Hội, thì cũng là trách nhiệm gắn liền với mọi người Kitô hữu chúng ta. Bao lâu còn là Kitô hữu, bấy lâu còn phải loan báo Tin Mừng.

Loan báo Tin mừng bằng cách « lên đường và ‘đi ra’ đến với người khác » như lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nhưng đâu là điểm tựa để người tín hữu có thể lên đường truyền giáo đúng nghĩa ?  Thưa, điểm tựa vững vàng nhất cho nhà truyền giáo hôm này là noi gương Chúa Giêsu.

Chúa Giê-su trong ba năm tại thế đã lên đường rời bỏ quê hương Nagiarét mà ngài đã gắn bó suốt 30 năm  để đến với dân ngoại, đến với những người bệnh tật, đui mù, nghèo khó và quỷ ám…Hành trang ngài mang theo là thể hiện tình yêu thương với mọi người, bằng cách : quên mình, xả thân vì người khác. Làm gương cho người khác qua hình mẫu: nói đi đôi với làm.

Đời sống của Chúa là : đến với người khác trước khi họ đến với mình, điều này thể hiện qua chính lời nói của Ngài: “chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì thầy ra đi cốt để làm việc đó.”

Lời của Đức Thánh Cha Phanxicô trong sứ điệp niềm vui của Tin mừng đã ghi rõ: Trung thành noi gương Thầy mình, Hội thánh hôm nay thấy tuyệt đối phải ra đi rao giảng Tin mừng cho mọi người, mọi nơi, mọi dịp, không do dự, không miễn cưỡng hay sợ hãi… dấn mình vào đời sống hằng ngày bằng lời nói và hành động (EG 23)

Vậy được mời gọi «  dấn mình vào đời sống hằng ngày bằng lời nói và hành động », chúng ta hãy học truyền giáo bằng đời sống cụ thể ngay tại gia đình mình. Xin được đề nghị ba điểm cụ thể :

a- Thứ nhất là cầu nguyện và hy sinh: Đây là  hoạt động đầu tiên của việc truyền giáo. Thánh Têrêsa Hài đồng Giê-su không đi truyền giáo nhưng lại trở thành quan thầy của các xứ truyền giáo nhờ vào đời sống cầu nguyện trong nhà dòng kín và bằng đời sống hy sinh liên lỷ. Thánh nhân đã tâm niệm: nhặt một cái kim vì lòng yêu mến Chúa cũng đủ cứu rỗi một linh hồn. Chuyện thuật lại rằng nhờ việc cầu nguyện liên lỉ cho một tử tội mà tử tội này lúc chịu hành quyết  đã  xin được xưng tội để ăn năn sám hối. Không ai có thể nói là tôi không có thì giờ để cầu nguyện. Không ai có thể nói là tôi không có cơ hội để hy sinh.

b- Thứ hai là hiệp nhất yêu thương: Đức Kitô đã muốn được sinh ra và lớn lên trong gia đình thánh của thánh Giuse và Mẹ Maria. Vậy mỗi gia đình công giáo là “gia đình của Thiên Chúa” và không thể không tràn ngập bầu khí hiệp nhất và yêu thương. Việc học giáo lý, năng đi tham dự thánh lễ, đọc kinh cầu nguyện, tham gia các hoạt động tôn giáo là rất cần, nhưng cần phải đi đôi với nếp sống đạo đức nổi trội trong gia đình về sự hiệp nhất yêu thương, bầu khí này sẽ giúp cho  việc truyền giáo hữu hiệu, như lời Chúa Giê-su dạy: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ của Thầy là anh em hãy thương yêu nhau”. Một khi tất cả nếp sống của các gia đình công giáo phảng phất hương thơm của tình hiệp nhất yêu thương thì dù ở đâu, nếp sống ấy cũng là truyền giáo. Ví dụ: Một cô gái ngoại giáo yêu một chàng trai công giáo, bà con láng giềng trong giáo xứ thấy cô ta đẹp người đẹp nết, nên giục cô ta vào đạo ngay, nhưng cô trả lời: “Cháu cần tìm hiểu xem đời sống những người có đạo thế nào đã”. Sau một thời gian tìm hiểu gia đình bạn trai, cô thấy mẹ của bạn mình không chỉ siêng năng đọc kinh, dự lễ, mà còn là mối giây sống tình yêu thương hiệp nhất trong gia đình, bà cùng với chồng bảo ban nâng đỡ đời sống con cháu  và nhất là yêu quý và coi cô như con cái trong nhà. Không những thế bà còn tham gia công tác bác ái của các hội đoàn giáo xứ và khu phố bằng cả sự chân thành.   Cô gái in trong lòng hình ảnh tốt đẹp về gia đình của bạn trai và về đạo công giáo. Bởi đó cô nhất quyết xin theo học đạo để trở nên người con Chúa trước khi tổ chức đám cưới. Việc cô theo đạo không phải để lấy chồng nhưng vì cô thấy đạo công giáo là đạo tốt.

c- Điểm cuối cùng cần phải thực hiện để truyền giáo là làm chứng tá bằng sự hội nhập và xây dựng xã hội : Ngày hôm nay, xã hội đang phải đối diện với biết bao vấn đề : các tệ nạn tiếp tục nảy sinh, môi trường sống bị ô nhiễm trầm trọng, các giá trị đạo đức luân lý bị băng hoại. Chính vì thế nỗ lực của xã hội hôm nay là xây dựng nếp sống lành mạnh, có văn hoá, văn minh. Vậy ngay tại các gia đình công giáo, mọi thành viên sống chứng tá cho xã hội bằng chính việc tham gia và công tác tích cực vào việc loại bỏ các nếp sống không văn hóa và kém văn minh bằng việc bảo vệ môi trường sống được xanh sạch đẹp, loại trừ các tệ nạn như lô đề, cờ bạc, rượu chè và nghiện hút, cũng như bảo vệ sự sống con người ngay từ khi còn trong bụng mẹ để xây dựng một nền văn minh sự sống và tình thương. Cụ thể các hoạt động của Caritas của các giáo phận trong mùa dịch bệnh đã thu hút nhiều tấm lòng của các anh chị em tình nguyện viên cũng như sự giúp đỡ tinh thần và vật chất của những người công giáo để làm chứng tá Tin mừng trong lãnh vực này.

Để kết luận, xin được trở lại nội dung Tông huấn «  niềm vui của Tin mừng » của Đức Thánh Cha Phanxicô, hướng dẫn Hội thánh thực hiện việc Tân phúc âm hóa, nhằm loan báo Tin mừng cho thế giới hôm nay, trong đó Đức Thánh Cha nhắn nhủ rằng : « nhiệm vụ truyền giáo phải là nhiệm vụ hàng đầu » và chúng ta ‘không thể thụ động và thản nhiên ngồi đợi trong các nhà thờ của chúng ta » chúng ta cần phải chuyển đổi từ một mục vụ thuần túy bảo tồn sang một mục vụ dứt khoát mang tính truyền giáo (EG 15). Vậy, những gì mà tôi và quý ông bà anh chị em chia sẻ với nhau trong ngày khánh nhật truyền giáo hôm nay là để khai triển một vài điểm nhấn cụ thể mà Đức Thánh Cha đã gợi lên trong lời dạy của ngài, mưu cầu thực hiện « một mục vụ dứt khoát mang tính truyền giáo » mà Ngài trăn trở để cho Tin mừng đến với muôn dân, cách riêng trên quê hương Việt Nam chúng ta.

Lạy Chúa, xin tuôn tràn ơn sủng của Ngài trên mỗi người chúng con để với nhiệt huyết tông đồ mà Chúa ban tặng, chúng ta trở nên những chứng tá nhiệt thành đem Tin mừng của Chúa đến với tha nhân và ước gì có nhiều người nhận ra tình thương của Chúa qua chính đời sống chứng ta đức tin hằng ngày của chúng con. Amen.

Bánh hằng sống

Bài đọc thứ nhất kể về ngôn sứ Elia, vị ngôn sứ đã có một trải nghiệm đủ mọi cung bậc trong sa mạc. Sau lần ngôn sứ giết các sư sãi baal, ông bị hoàng hậu Giêsabel truy nã gắt gao. Ông phải chạy trốn lên núi Horép. Dọc đường ông đã hoàn toàn kiệt sức, mệt mỏi không còn muốn sống. Ông đã xin cho được chết khi cầu nguyện rằng: “Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con.” Nhưng Thiên Chúa không bỏ ông: Chúa đã ban cho vị ngôn sứ bánh ăn để thêm sức mạnh tiếp tục hành trình.

Kinh nghiệm của vị ngôn sứ cho chúng ta thấy khi mọi sự trở nên tăm tối, thì Lời Chúa lại soi sáng và mở ra một con đường. Niềm vui này liên hệ tới mọi người chúng ta.

Nhiều khi chúng ta đối đầu với những thất vọng, những bế tắc làm cho chúng ta dễ buông xuôi. Vậy cần biết bao sức mạnh để vượt qua sự mệt mỏi. Những sức mạnh này đến từ sự nâng đỡ của tình bạn, từ một lời nói, một cái nhìn gia tăng niềm tin tưởng.

Và trên bình diện đức tin, như bánh thiên thần giúp cho Elia thêm sức mạnh, Chúa Giê-su trong Tin mừng hôm nay cho thấy chính Ngài là Bánh Hằng Sống”, là của ăn đàng để tiếp tục chúng ta tiếp tục hành trình đức tin, vượt qua mọi thử thách.

Khi loan báo về Bánh Hằng Sống, Chúa Giê-su mời gọi mọi người đón nhận Ngài. Không phải là thành kiến với Chúa như đám đông dân chúng hôm nay nhưng là để cho Chúa Thánh Thần tác động để có một tâm hồn rộng mở mà nhận thấy nơi Chúa Giê-su hình ảnh của Chúa Cha.

Với một niềm tin như thế, mỗi người mới có thể hiểu sâu sa hơn ý nghĩa của “Bánh Hằng Sống” mà Chúa Giê-su trao ban cho nhân loại. Như Chúa Giê-su nói thì chính Ngài là “ bánh hằng sống bởi trời. Nếu ai ăn bánh này thì sẽ có sự sống đời đời”. Vị chân phước trẻ Carlo Acutis đã nói rằng “Thánh thể là một đại lộ để đi về trời”.  Thực vậy mỗi lần cử hành Thánh lễ, chúng ta sẽ khám phá được tình yêu lớn lao mà Chúa Giê-su Ki-tô ban tặng cho chúng ta và cho thế giới.

Qua mỗi Thánh lễ, chúng ta đặt niềm tin tưởng vào lời Chúa Giê-su khi Ngài nói: “ Đây là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”. Chúng ta tin tưởng nơi Chúa Giê-su bởi vì Ngài chính là “ Đường, là sự Thật và là sự Sống”. Chúng ta tin vào sự tự hiến của Chúa bởi vì yêu thương chúng ta bằng một tình yêu vượt quá những gì mà chúng ta có thể tưởng tượng.

Trong thư của Thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Êphêsô, thánh nhân kêu gọi mọi người sống trong tình yêu và sự hiệp nhất. Đó chính là một điều kiện cần thiết để sống bí tích Thánh Thể, bí tích của Tình yêu. Chúng ta không thể thực sự làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa nếu chúng ta không sống tình yêu này…Một tình yêu luôn biết chia sẻ và trao ban như chính Chúa Giê-su trở nên mẫu gương để chúng ta noi gương bắt chước…Những nghĩa cử yêu thương mà mọi người dành cho nhau trong những ngày đại dịch Covid này là một bằng chứng hùng hồn cho thấy Chúa Giê-su đang sống và chính từ nơi bí tích của sự sống được cử hành mỗi ngày mà chúng ta tìm gặp được niềm vui và hạnh phúc, ngay cả trong những giây phút khó khăn nhất.

Trong ngày Chúa nhật hôm nay, chúng ta đến cùng Chúa Giê-su để được Ngài đón tiếp, vì như Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói, thì Ngài chính là “khuôn mặt của lòng thương xót”. Cuối Thánh lễ, khi linh mục chủ tế nói: Anh chị em hãy đi bình an. Điều đó có nghĩa là mỗi chúng ta được sai đi và cùng nhau thực thi sứ vụ trên hành trình đức tin. Khi được nuôi dưỡng bởi Mình và Máu Chúa Ki-tô, chúng ta cam kết trở nên chứng nhân của niềm hy vọng. Xin Thiên Chúa gìn giữ chúng ta trong sứ vụ mà Ngài trao phó. Amen.

Cho thì có phúc hơn nhận

Người thanh niên trong bài Tin mừng hôm nay có đầy đủ phẩm chất của một người trẻ mẫu mực vì anh không trộm cắp, không rượu chè, không hút sách, không nghiện ma túy… tóm lại anh tuân giữ các lề luật từ nhỏ. Có thể nói các bậc làm cha làm mẹ đều hài lòng khi có một đứa con trai như thế.

Hơn thế nữa, anh có hoài bão thật đẹp khi hỏi Chúa Giê-su: “Lạy thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời?” Câu hỏi cho thấy anh có một con tim khao khát đi tìm chân lý, khao khát đi tìm lẽ sống cho đời mình. Và như thánh Mác-cô thuật lại thì Chúa Giê-su “chăm chú nhìn người ấy và đem lòng yêu mến” trước khi nói với anh ta: “con chỉ thiếu một điều, là con hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và con sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta”.  Đem bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó, đúng là một thử thách đối với người thanh niên giàu có này. Và anh đã không vượt qua được bản thân mình, đã buồn rầu lặng lặng ra đi để rồi Chúa đã phải thất vọng khi thốt lên: “những kẻ cậy dựa vào tiền bạc, thật khó mà vào nước Thiên Chúa biết bao”.

Thực tế thì Chúa Giêsu đã từng tham dự những bữa tiệc do những người biệt phái giàu có và thu thuế thết đãi, từng nhận sự giúp đỡ về tiền bạc vật chất của những người phụ nữ nhân đức giàu có.

Như vậy là Chúa Giê-su chỉ lên án những ai ham mê của cải và chỉ biết cậy dựa vào tiền bạc. Người kết án những ai làm nô lệ cho tiền bạc và chỉ trích sự keo kiệt và tích cóp. Người thanh niên giàu có đã đặt một câu hỏi hay cho Chúa nhưng lại chỉ muốn dừng lại ở động từ “CÓ”: “tôi phải làm gì để CÓ sự sống đời đời”. Nếu anh chỉ biết dừng lại ở mức độ sở hữu thôi thì thật là khó mà CÓ được Nước Trời. Ngược lại khi anh thay cái động từ CÓ bằng động từ CHO thì sự sống đời đời sẽ đến với anh.

Ai tôn thờ tiền của sẽ không đạt tới hạnh phúc vì suốt đời họ chỉ mong có thật nhiều tiền của mà quên mất ý nghĩa đích thật của sự sống. Hạnh phúc đích thực chỉ có được với những người biết  trao ban tình yêu và được mọi người yêu mến. Và họ biết sử dụng tiền bạc cho mục đích này; và nhờ đó tiền bạc là một đầy tớ tốt. Ngược lại tiền bạc là ông chủ tồi khi mà nó được sử dụng để phục vụ cho những âm mưu ích kỷ, hại người, khép kín mình với tình yêu đồng loại.

Tại liên hoan phim lần thứ 63 tại Berlin năm 2013, người ta trình chiếu một bộ phim với tựa đề “ xin đừng khóc thương tôi – Sudan”, nói về một linh mục có tên là Gioan Lee – thuộc dòng Salêriêng Don Bosco, người Hàn Quốc.

Tốt nghiệp bác sĩ y khoa nhưng cha đã bỏ tất cả công danh sự nghiệp sau lưng, và cha đã đáp lại tiếng gọi mãnh liệt của Thiên Chúa để trở thành một linh mục truyền giáo trong dòng Salêriêng Don Bosco. Ngay sau khi được truyền chức linh mục tại Tòa Thánh Vatican, cha đã tình nguyện đến truyền giáo tại miền Nam Sudan thuộc Phi Châu năm 2001. Cha đã từ bỏ tất cả công danh, sự nghiệp của người bác sĩ để trở thành linh mục. Và hơn thế nữa, cha còn muốn trở thành người mục tử nhân lành sống giữa đoàn chiên nghèo khổ để chăn dắt họ. Vì thế nên cha đã tình nguyện đến sống tại một xứ sở nghèo đói nhất thế giới, giữa những người đói khổ và bệnh tật trong làng Tonj thuộc miền Nam Sudan- Phi Châu trong suốt 8 năm trước khi cha qua đời vị căn bệnh ung thư ruột già vào ngày 14/01/2010. Cha đã ra đi về với Chúa khi đã sống trọn vẹn 48 năm cuộc đời tại dương thế với những ngày tháng phục vụ trọn vẹn cho những người đau khổ, bệnh tật, phong cùi, nghèo đói … tại Sudan.

Cha Gioan Lee, hy sinh công danh sự nghiệp, lợi lộc vật chất vì lời mời gọi của Chúa, cha đã có được kho tàng quý giá không ai lấy mất được.

Trong cuộc sống hôm nay, nơi người ta vẫn muốn tôn thờ thần Mamon và dành vị trí độc tôn cho nó, thì những ai khao khát đi tìm hạnh phúc đích thật giống như cha Gioan Lee càng cần phải quyết tâm thực hiện chỉ dạy của Lời Chúa hôm nay, Lời mà thư Do thái trong bài đọc II đã sánh ví là “sắc bén hơn cả thanh gươm hai lưỡi, phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của con người” (Dt 4,12). Để được thế, mỗi chúng ta hãy mặc lấy sự khôn ngoan  của Chúa; sự khôn ngoan mà “vàng đem so sánh với nó thì kể như hạt cát nhỏ bé, và bạc đem để trước nó thì kể như đất bùn”. Nhờ đó mà chúng ta sẽ nhận ra và thực hiện được lời mời gọi của Chúa, biết dùng tiền của đời này mà đổi lấy Nước Trời mai sau, qua sự quảng đại cho đi của chúng ta.

Lạy Chúa, xin cho con luôn biết ý thức tất cả những gì chúng con có được, tinh thần cũng như vật chất, đều là của Chúa ban . Xin cho chúng con biết luôn quảng đại để biết trao lại cho những ai đang cần đến chúng con giúp đỡ, nhờ đó chúng con có Chúa làm gia nghiệp đời con. Amen.

Xin vâng

Vào ngày 07 tháng 10 năm 1571, thủy quân ki-tô giáo với các chiến hạm đã đè bẹp hạm đội của Hồi Giáo tại Vịnh Lépand, thuộc Hy Lạp, giúp cho các nước Châu Âu thoát khỏi sự xâm chiếm của quân Hồi Giáo đang có tham vọng bành trướng sang Châu Âu. Chiến thắng của quân đội Ki-tô giáo đã cho thấy hiệu của của việc cầu nguyện mà Đức Thánh Cha Piô V (1566-1572) đã phát động bằng việc lần hạt Mân Côi là lời kinh mà Thánh Đaminh đã dùng để chiến thắng bè rối Albigois vào thế kỷ XIII.

Sau này Đức Thánh Cha Léo XIII (1878 – 1903) ĐGH Leo XIII ấn định Tháng Mười là Tháng Mân Côi và chọn ngày 07/10 để kính Đức Mẹ Mân Côi. Ngài đã viết 11 tông thư nói về kinh Mân côi,  ban nhiều ân xá cho người đọc Kinh Mân Côi, ủng hộ việc xây dựng Thánh Đường Mân Côi tại Lộ Đức, thêm danh xưng “Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi” vào Kinh Cầu Đức Bà, viết hiến chương cho Hội Mân Côi, khuyến khích các tu sĩ Đa Minh truyền bá Kinh Mân Côi.

Theo dòng lịch sử đầy tràn sống gió và bi thương, dân Chúa đã cảm nghiệm được sự hiện diện, bảo trợ và an ủi của Mẹ Maria. Hơn nữa chính Mẹ ban cho chúng ta ân sủng và sức mạnh trong việc chiến đấu thiêng liêng, đầy cam go và khốc liệt để bảo vệ Giáo Hội. Trong đời sống mỗi chúng ta cũng đã cảm nghiệm được cuộc chiến đấu giữa ân sủng và tội lỗi. Chúng ta chỉ có thể có được sự trợ giúp tốt nhất đó là sự trợ giúp của Mẹ Đức Giê-su Ki-tô bởi vì Mẹ dạy chúng ta biết sống theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa, vì Mẹ là hoa quả của sự khôn ngoan này.

Vâng, như sách Châm Ngôn nói thì thật hạnh phúc cho chúng ta khi biết lắng nghe lời dạy khôn ngoan, khi biết tuân giữ đường lối thánh chỉ, nếu chúng ta đem ra thực hành tất cả những nguồn cảm hứng tốt lành này. Thật không có trường học nào hơn là cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi, vì khi đó chúng ta sẵn sàng lắng nghe Thiên Chúa để hoàn thành thánh ý Ngài và phục vụ cho Nước Trời.

Trong ngày kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi hôm nay, Giáo hội mời gọi chúng ta suy niệm bài Tin mừng về biến cố Truyền Tin: Thiên Chúa đến thỉnh cầu một nữ tỳ khiêm nhu tham dự vào chương trình cứu độ của Ngài. Lời thưa “xin vâng” của Trinh nữ Maria đã mở ra cho chúng ta những cánh cửa của hồng ân cứu độ và cho chúng ta cảm nghiệm ân sủng cứu độ đó. Đức Trinh nữ đón nhận sứ điệp mạc khải, và tham dự vào đó cách toàn vẹn.  Nới Đức Trinh nữ, Ngôi Lời mặc lấy xác phàm, Lời Thiên Chúa đi vào trong nhân loại trở nên người phàm. Điều mà Đức Trinh nữ Maria đã lĩnh nhận là ân sủng được biểu hiện như là món quà tuyệt hảo, và Mẹ đã trao ban nó cho chúng ta và cho chúng ta liên kết với Mẹ.

Nhờ đức tin, chúng ta cũng được đón nhận sứ điệp cứu độ, đó là sự hiện diện của Đức Ki-tô trong đời sống chúng ta, kết hiệp với chúng ta qua bí tích Rửa tội, và bí tích Thêm Sức. Nhờ đó chúng ta cùng liên kết với tha nhân qua Ánh sáng của chân lý, niềm vui Tin mừng, Niềm vui ơn tha thứ và hòa giải. Nhưng để sống tinh thần siêu nhiên, để đáp trả những đòi hỏi của bí tích Rửa tội, chúng ta cần cầu nguyện với sự bảo trợ và mẫu gương của Đức Trinh nữ Maria.

Trước hết, đó là lời thưa của Đức Mẹ:“Này tôi là tôi tớ Chúa, hãy làm cho tôi như lời sứ thân truyền”. Với lời tuyên xưng niềm tin, sự cam kết bằng cả đời sống này, Đức Trinh nữ Maria nhân danh chúng ta để thực thi lời đó. Việc cầu nguyện bằng lời kinh Mân côi giúp cho chúng ta bắt chước Đức Mẹ để thực thi thánh ý Chúa. Chúng ta cần đến ân sủng của Chúa Thánh Thần để có thể đáp lại thánh ý Chúa như chính Đức Mẹ đã lãnh nhận qua lời sứ thần Gabriel đã loan báo cho Mẹ Maria: “ Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà và Đấng Quyền Năng sẽ phủ bóng trên bà”.

Về phần chúng ta, kính thưa…nhờ vào việc cử hành các mầu nhiệm thánh này, chúng ta cần cúi mình đón nhận ân sủng của Chúa Thánh Thần để mà quyền năng Đấng Tối Cao bao trùm lấy chúng ta, từ trong tâm trí và hành động để có thể đối diện với những biến cố và con người mà chúng ta trải qua trong đời sống.

Như thế, việc cầu nguyện và suy niệm những mầu nhiệm mân côi là phương thế hữu hiệu để ban cho chúng ta những ân sủng mà chúng ta cần cho việc hoàn thành ơn gọi của mình.

Với mầu nhiệm vui, mỗi chúng ta tiếp cận với niềm vui cứu độ, từ biến cố truyền tin cho đến biến cố tìm thấy Đức Giê-su trong Đền thờ.

Mầu nhiệm sự sáng lại vén mở cho chúng ta thấy những tiến trình của đời sống công khai của Chúa và lời dạy mà Ngài rao giảng cho đám đông dân chúng và cho các tông đồ để mọi người nghe biến đổi đời mình trở nên những người con của Giáo Hội.

Mầu nhiệm thương giúp chúng ta liên đới với công cuộc cứu chuộc mà Chúa Giê-su đã thực hiện, những đau khổ mà Ngài phải chịu vì yêu thương nhân loại  chúng ta.

Cuối cùng mầu nhiệm mừng cho chúng ta nếm cảm trước niềm vui Nước trời bởi vì chúng ta khám phá nơi đó ơn gọi và phẩm giá của mỗi chúng ta: cùng với Chúa Giê-su chúng ta được sống lại, được chia sẻ quyền năng mà Ngài có trên các tạo vật trong cương vị là Vua Vũ Trụ và chúng ta sẽ nhận được Chúa Thánh Thần để làm cho chúng ta thông hiệp với Ba Ngôi Thiên Chúa.

Vinh quang thần thiêng này làm cho bản tính nhân loại được tham dự vào bản tính Thiên chúa, điều đó phản ảnh cách rõ ràng trong biến cố lên trời cả hồn cả xác và lãnh triều thiên vinh quang trên trời của Mẹ Maria. Nhờ đó sự can thiệp của Mẹ lại ban cho mỗi chúng ta hồng ân cứu độ và ước muốn từ trời,  mỗi khi lần chuỗi năm sự sáng.

Tháng Mân côi kéo dài suốt tháng 10 là dịp thuận tiện cho mỗi chúng ta cầu nguyện mỗi ngày bằng việc lần chuỗi mân côi; lần chuỗi trong gia đình, với những người thân yêu và với bạn bè. Thiên Chúa luôn nhận lời cầu nguyện của con cái Chúa khi lời cầu nguyện này được chuyển cầu bởi Đức Trinh nữ Maria.

Chúng ta cùng cầu nguyện cách đặc biệt cho thế giới hôm nay được bình an, cho nạn dịch Covid bị đẩy lui, cho hòa bình thế giới, cho các tín hữu bị bách hại trên khắp hoàn cầu, cho các anh chị em đang gặp đau khổ trên toàn thế giới, cho thêm nhiều người tin nhận Đức Ki-tô vì chính Ngài là Đấng Cứu Độ, đã chiến thắng sự chết và nhờ đó cho chúng ta được thông phần sự sống đời đời với Ngài trong vinh quang. Amen.

Scroll to Top