Đời sống đức tin

Đi vào sa mạc cuộc đời

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY – B

Mùa chay đến với chúng ta từ ngày thứ Tư – Lễ Tro. 40 ngày chay thánh này cho chúng ta cơ hội trở về suối nguồn của đức tin qua bí tích rửa tội đã lãnh nhận. Trong suốt thời gian này, chúng ta được mời gọi để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn như chính Ngài đã hướng dẫn Chúa Giêsu trong hoang địa. Như Chúa, chúng ta sẽ đối diện với những thử thách và cám dỗ. Nhưng nếu chúng ta biết đón nhận Chúa Thánh Thần thì Lời Chúa sẽ trở nên sức mạnh. Chúa Giêsu chiến thắng sự dữ và muốn nối kết tất cả các con cái Chúa trong sự chiến thắng của Ngài trước cái chết và tội lỗi.

Câu chuyện cám dỗ trong Sa mạc được thuật lại trong ba sách Tin mừng nhất lãm, nhưng trong mỗi trình thuật lại có các sắc thái khác nhau, tương ứng với từng sứ điệp thần học mà mỗi tác giả muốn chuyển tải. Trong bài Tin mừng Chúa nhật hôm nay, Thánh sử Mác-cô thuật lại việc Chúa Giê-su được Thần khí đẩy vào trong hoang địa, Ngài ở đó 40 đêm ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú và các các thiên sứ hầu hạ Người.

Chúng ta thấy hoang địa hay sa mạc mà Thánh Mác-cô nói tới trong thời gian 40 đêm ngày Chúa Giê-su ở đó… là địa điểm chủ đạo trong Do thái giáo. Nơi này không chỉ có ý nghĩa địa lý mà thôi nhưng còn mang ý nghĩa biểu tượng rất lớn. Sa mạc lại nhắc cho chúng ta về mạc khải của Chúa đối với dân Ngài.

Thực vậy Sa mạc nơi mà Thiên Chúa dẫn dắt dân Israen để giải phóng dân khỏi ách nô lệ Ai cập. Nhưng sa mạc cũng là nơi của những bất toàn và thử thách. 40 năm lang thang trong Sa mạc, dân Chúa đã từng sẵn sàng chối bỏ sự tự do để làm nô lệ cho những cám dỗ của vật chất khi họ quên mất địa vị làm con Chúa. Sa mạc là nơi mà dân Chúa đã từng nhiều lần phản ứng chống lại Chúa và Maisen. Chúa Giêsu cũng vậy, tại Sa mạc Chúa cũng bị cám dỗ bởi cái đói, bởi quyền lực và vật chất nhưng Chúa đã không để cho mình chiều theo cám dỗ vì Ngài là Con yêu dấu của Chúa Cha. Ngài muốn trung thành đến cùng khi dùng Lời Chúa Cha để chiến thắng cám dỗ của Sa-tan.

Chúng ta biết rõ sa mạc của cuộc đời đầy dẫy những cám dỗ vì lối sống thế gian tục hóa đề cao sự hưởng thụ vật chất. Trong thư mục vụ Mùa Chay, Đức TGM Giuse cũng quả quyết: “Con người ngày nay chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của một xã hội lấy vật chất làm thước đo. Người ta từ chối mọi ràng buộc, chối bỏ Thiên Chúa và coi lựa chọn theo sở thích cá nhân là một lý tưởng. Nhiều người tự tin thái quá và đề cao bản thân. Họ tưởng đã đạt đến tự do nhưng thực chất lại đang sống dưới ách thống trị của các ngẫu tượng, biến mình trở thành nô lệ cho những đam mê bất chính và cho những thói cũ lối mòn”. Thực vậy, người ta tìm kiếm để được sở hữu nhiều hơn bằng bất cứ phương tiện nào. Vì thế mà tâm hồn con người trở nên chai đá không còn khả năng mở ra với Lời Chúa và biết chia sẻ cho những người đói khát. Khi đóng cửa lòng mình với Chúa, chúng ta trở nên khép kín với tình yêu Chúa và chối bỏ địa vị làm con Chúa.

“Xuyên qua sa mạc, Thiên Chúa dẫn ta tới tự do”. Đó là chủ đề của Sứ điệp Mùa Chay năm nay của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô. Ngài so sánh cuộc xuất hành của dân Do Thái ra khỏi Ai Cập với hành trình mùa Chay của người tín hữu.

Qua việc bước vào hoang địa ăn chay 40 đêm ngày, Đức Ki-tô nêu gương cho chúng ta để nhắc nhở chúng ta rằng, 40 ngày chay thánh là thời gian đi vào hoang địa đời mình để lắng nghe Lời Chúa, để biết làm mới lại đời sống của chúng ta mọi ngày và để đón nhận một quả tim mới, một tâm tình mới.

Chúa Giêsu đã đẩy lui mọi cám dỗ của Satan nhờ vào sự trung thành với quyền năng của Chúa Cha. Trung tín với Thiên Chúa là hành trang cho suốt hành trình của người tín hữu. Theo Chúa Giêsu, mỗi chúng ta hôm nay được mời gọi làm mới lại những ân ban mà chúng ta đã lãnh nhận nơi bí tích rửa tội bằng một tình yêu mãnh liệt kín múc từ nơi Thiên Chúa. Được dìm mình trong nước thánh tẩy để đạt tới đời sống tự do, nên mỗi chúng ta cần phải trở về với cội nguồn đức tin mà để cho Chúa Giêsu dẫn dắt trên con đường hoán cải.

Hôm nay và trong suốt hành trình Mùa Chay Thánh, chính Chúa Giêsu mời gọi chúng ta: Triều đại Thiên Chúa đã đến gần, hãy biến đổi lòng mình để tin vào Tin mừng, biến đổi đời sống để xác tín rằng Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta. Amen.

Tình yêu vượt thắng khổ đau

Chúa nhật V thường niên – Năm B

Đời là bể khổ, lời than của nhà Phật cho thấy kiếp khổ của con người. Tuy nhiên, các bài đọc kinh thánh hôm nay cho thấy chính niềm tin vào tình thương của Thiên Chúa sẽ giúp cho người ta vượt thắng được nỗi khổ đau của kiếp người để sống trong bình an.

Trước hết trong bài đọc I, chúng ta lắng nghe lời cầu nguyện của ông Gióp trong hoàn cảnh hầu như là mất tất cả: của cải, gia đình, sức khỏe…Ông đã đi tới tận cùng của sự đau khổ. Sách thánh cho chúng ta thấy một sự tương phản lạ lùng trong cuộc đời của ông Gióp: có lúc tuyệt vọng nhưng có lúc lại hy vọng, có khi kêu trách Chúa nhưng lại có phút giây suy tôn ca ngợi Chúa, hay có khoảng khắc ông đã kêu xin Chúa nhưng có những phút giây lại chống đối Chúa. Tuy nhiên mẫu gương của ông Gióp là cho dù có đau khổ đến tận cùng, và có những lúc chông chênh trong thử thách như thế thì ông Gióp vẫn cứ phải tin, vẫn phải một lòng trung tín và phó thác cuộc đời mình cho Chúa cùng với lời nguyện xin rằng: “Lạy chúa, từ sâu thẳm con kêu lên cùng Chúa, xin Ngài lắng tai nghe tiếng con van nài”.

Bên cạnh đau khổ của ông Gióp, còn có đau khổ khác mà thánh Phaolô trong bài đọc II đã nói với chúng ta, đó là sự đau khổ của những người làm chứng cho Tin mừng của Đức Ki-tô. Cuộc sống của những các nhà truyền giáo này được đánh dấu bởi sự bách hại, thiếu thốn và thử thách mọi bề, cụ thể chúng ta thấy hôm nay vẫn còn có biết bao nhiều người tín hữu bị bách hại đây đó như tại Irac, tại Syrie, tại Trung quốc hay tại nhiều nơi trên thế giới. Tuy nhiên, dù có trăm bề thử thách thì các ngài vẫn cứ một lòng loan báo Tin mừng nước Chúa vì niềm tin yêu và hy vọng đến nỗi mà thánh Phaolo phải thốt lên “ khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng”.

Từ gương sống của ông Gióp, hay của những người làm chứng tá cho Tin mừng nước Chúa, đưa chúng ta đến sự cảm nhận rõ ràng rằng dù nguyên nhân đau khổ có là gì thì như bài Tin mừng hôm nay thuật lại, sự hiện diện của Chúa Giê-su là một câu trả lời cho tất cả mọi đau khổ ở đời này để gia tăng niềm tin. Cụ thể việc Chúa chữa lành bệnh cho bà mẹ vợ của ông Phêrô trong bài Tin mừng như là dấu chứng cho thấy Chúa Giê-su cũng sẽ làm điều đó cho mỗi chúng ta. Có thể chúng ta không bị bệnh thể lý nhưng hiện tại có thể đang bị tổn thương và tê liệt bởi tội lỗi, bởi sự thù oán, hay bởi sự kiêu ngạo dưới nhiều hình thức và Đức Giê-su như một vị bác sỹ sẽ đến và gõ cửa lòng chúng ta, đặt tay lên chúng ta để chữa lành mọi thuơng tổn về tinh thần và thể xác miễn là ta sẵn sàng tin tưởng và phó thác nơi Ngài.

Quả vậy, một ngày bận rộn của Chúa ở thành Capharnaum để rao giảng Tin mừng, chữa lành tật bệnh, làm việc từ sáng sớm đến chiều hôm và ngay cả khi cầu nguyện đã cho ta thấy tình thương của Thiên Chúa. Thánh sử Tin mừng Marcô đã miêu tả rất sống động hình ảnh những người đau khổ cả về thể xác lẫn tinh thần bao quanh Đức Giêsu và Ngài không tránh xa, nhưng hòa mình với họ, xả thân để cứu chữa họ, như là một chiếc phao giữa biển khổ cuộc đời để cho mọi người bám. Vâng, Đức Giu-su đã đến với con người trong bất cứ nơi nào và trong hoàn cảnh nào để họ được sống và sống dồi dào.

Ngày nay đau khổ cũng vẫn là một nan đề. Có rất nhiều người cùng cảnh ngộ với ông Gióp ngày xưa. Đó là những người đau khổ vì nghèo, đói, bệnh tật, bất công, áp bức v.v. Và đối diện với đau khổ, Đức Giêsu không trả lời cho câu hỏi “Tại sao đau khổ” nhưng Ngài dạy phải làm gì trước đau khổ.

“Là những cá nhân, cuộc sống bon chen hôm nay làm cho chúng ta bị cám dỗ bởi sự dửng dưng vô cảm trước những đau khổ của anh em đồng loại. Nhìn thấy những tin tức ngập tràn những hình ảnh đau khổ nơi nhân loại, chúng ta cảm thấy bất lực trong việc giúp đỡ họ. Chúng ta có thể làm gì để tránh cảm giác bất lực này?”

Đây chính là thao thức mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã từng đặt ra để “xóa bỏ sự thờ ơ toàn cầu hóa” . Và đối với mỗi cá nhân, Đức Thánh Cha đã đề nghị cụ thể 3 phương thức thực hành. Đây cũng là những điều cụ thể để tôi cũng như là quý ông bà và anh chị em sống Lời Chúa hôm nay. Đó là cầu nguyện cho anh chị em đang gặp đau khổ, làm việc bác ái trợ giúp họ và nỗi đau của người khác như lời nhắc nhở mỗi chúng ta về sự bất toàn của cuộc sống để mà hoán cải đời sống bản thân mỗi ngày. Amen.

Tôn thờ Đức Ki-tô

Chúa nhật IV thường niên – Năm B

Trong kho tàng truyền thuyết công giáo, có câu chuyện kể về một chàng trai vóc dáng cao lớn vạm vỡ. Vốn dĩ sinh ra trong một gia đình lương dân, chàng chỉ ấp ủ một ước mơ lạ lùng là tìm cho được một vị quân vươngcao cả nhất để tuyệt đối tuân lệnh và phụng sự suốt đời.

Thế rồi chàng đã tìm gặp được một vị vua có tiếng là oai phong lẫm liệt nhất trong vùng. Chàng vui mừng vì ngỡ đã tìm được minh chủ theo ước nguyện. Nhưng rồi không ngờ, một hôm, chàng đã vô tình bắt gặp nhà vua ấy đang run rẩy quỳ lạy tại một đền miếu thờ quỷ thần. Chàng liền bỏ đi ngay, với quyết tâm ao ước sẽ được theo hầu một ma vương quỷ thần nào đó có đủ quyền phép hô phong hoán vũ. Tức khắc, ma quỷ hiện ra và dẫn dụ chàng rảo bước khắp cánh đồng mênh mông rộng lớn. Bất chợt, ma quỷ giáp mặt với một cây Thánh Giá dựng lên sừng sững ở một ngã tư đường theo phong tục của người dân Công Giáo vùng ấy. Ma quỷ hoảng sợ, lấm lét nhìn cây Thánh Giá rồi bỏ chạy mất dạng!

Chàng trai thấy vậy liền dứt khoát không thèm theo ma quỷ nữa, mà đứng lại trước Thánh giá, ngắm nhìn cây Thánh giá thật lâu, rồi chàng quyết tâm từ nay sẽ xin theo Thánh Giá. Chàng cứ đứng đó chờ mãi mà chẳng thấy chủ nhân cây Thánh Giá. Nơi đó gần một khúc sông cạn. Một hôm, có một câu bé đến nhờ chàng cõng mình qua sông, vì không có đò ngang. Chàng lực sĩ sẵn sàng. Nhưng mới bơi được một đoạn ngắn, chàng cảm thấy chú bé quá nặng, liền hỏi lý do. Cậu bé đáp “Ta nâng đỡ cả trái đất trên tay Ta, làm sao mà không nặng cho được” Cậu bé còn cho biết thêm mình chính là chủ nhân của cây Thánh Giá. Thế là chàng lực sĩ xin theo phò tá vị Chúa Tể trái đất ấy và Ngài đã dạy chàng : con muốn phụng sự Ta, con cứ đứng ở khúc sông này, mỗi lần có ai muốn sang sông thì con hãy cõng người ấy sang. Chàng lực sĩ tuân theo. Từ đó trở đi, người ta gọi tên chàng là Christophe, nghĩa là người đã mang Chúa Kitô trên vai.

Ngày nay, Hội Thánh tại một số quốc gia Châu Âu vẫn mừng lễ Thánh Christophe vào ngày 25 tháng 7 hằng năm, để nêu một tấm gương theo Đức Ki-tô và phụng sự Thiên Chúa trọn vẹn cả cuộc đời.

Thánh Christophe là người mang Chúa Ki-tô vì ngài đã chọn Chúa Ki-tô làm minh chủ để phụng sự. Cũng như thánh Christophe,  chúng ta đã chọn Chúa Ki-tô và bước đi theo Ngài qua bí tích Thánh tẩy nên được gọi là Ki-tô hữu, có nghĩa là người mang danh Ki-tô và thuộc về Ngài, bởi vì đối với những người có đức tin thì không ai xứng đáng hơn Đức Giêsu Kitô.  

Xác tín này của chúng ta có nền tảng chắc chắn vì dựa trên mạc khải của Chúa, cụ thể là qua các bài đọc Kinh Thánh mà chúng ta vừa nghe.

Thực vậy, sứ điệp mà các bài đọc kinh thánh gửi đến cho chúng ta hôm này là sứ điệp của Tin mừng vì chính Chúa Giê-su Ki-tô đã đến và trở thành lẽ sống và là nguồn hy vọng cho tất cả những ai tin vào Ngài.

Bài đọc thứ nhất đã loan báo về sứ điệp vui mừng này khi nói về hành trình mà dân Do thái đã phải trải qua một thời gian dài 40 năm trong sa mạc. Trước khi vượt qua sông Giorđan để vào đất hứa mà Chúa đã hứa với cha ông họ, ông Môisen thấy mình đã gần đất xa trời nên yên ủi dân chúng, khuyên họ đừng buồn tiếc về việc ông ra đi. Đàng khác, ông nói tiên tri cho họ rằng Thiên Chúa sẽ cho nổi lên một vị ngôn sứ tài danh nhất trong lịch sử, không những không kém gì ông mà còn trổi vượt hơn ông để dẫn dắt họ. Vị ngôn sứ tuyệt hảo đó sẽ là Đấng Kitô, Đấng Trung gian toàn hảo vì Người vừa là Con Thiên Chúa và vừa là con loài người.

Và trong bài Tin mừng chúng ta vừa nghe, thánh Marcô đã cho thấy Đức Giêsu Kitô chính là Vị ngôn sứ ngoại hạng mà Môisen đã tiên báo. Ngài quả là vị ngôn sứ có uy quyền trong lời nói và hành động.

Ngài là vị ngôn sứ có uy quyền bởi vì trong khi những luật sĩ kèn cựa bàn cãi không dứt về những đoạn văn của Kinh thánh, thì Đức Giêsu khẳng định: Ngài không lặp lại học thuyết của người khác, mà trình bầy học thuyết của Ngài, ví dụ Ngài nói: “Còn Ta, Ta dạy rằng…”, điều ngày cho thấy Ngài có uy quyền trong lời giảng dạy.

Còn trong hành động thì Ngài đã cho thấy trong bài Tin mừng, đó là Ngài chỉ cần nói một lời là quỷ ô uế phải xuất khỏi người bị nó nhập, đến nỗi khán thính giả phải thốt lên: “Ngài dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả các thần ô uế”.

Chính vì cảm nghiệm được quyền năng vô biên của Đức Ki-tô mà Thánh Phaolô đã từ bỏ con đường bách hại đạo Chúa để chọn Đức Ki-tô một cách dứt khoát và dành trọng cuộc đời mình trung thành phụng sự Ngài. Mang lấy Đức Ki-tô trong mình nên Ngài đã làm chứng cho Đức Ki-tô bằng chính kinh nghiệm của mình như trong bài đọc II cho thấy: Ngài mời gọi tín hữu Côrintô hãy gắn bó mật thiết với Đức Ki-tô. Lời mời gọi này được gửi tới mọi bậc sống và ơn gọi trong Giáo Hội, dù là người xây dựng gia đình hay là người sống đời độc thân bởi vì một khi người ta đã gặp được Đức Ki-tô thực sự thì cả cuộc đời của họ sẽ được biến đổi tùy theo ơn gọi mà mỗi người được lãnh nhận.

Qua việc lắng nghe và suy niệm Lời Chúa hôm nay, mỗi chúng ta đang hiện diện trong thánh lễ này được mời gọi hồi tâm và xét lại đời sống đức tin của mình, bởi vì có thể chúng ta đang ở trong tình trạng như câu chuyện kể rằng có một ngôi chùa kia quanh năm suốt tháng vắng vẻ “như chùa Bà Đanh”. Với ý định thu hút tín đồ thập phương, vị sư trụ trì liền thỉnh một tượng Phật to về đặt trong chùa. Thế nhưng tình thế vẫn không thay đổi. Vị sư liền tìm đến một thiền sư ẩn tu trong núi sâu vấn kế. Vị thiền sư trả lời: “Vì thầy chỉ thỉnh tượng Phật chứ không thỉnh Phật.” Vâng, hôm nay mỗi chúng ta có thể cũng rơi vào tình huống tương tự nếu vì tham sân si cuộc đời mà chúng ta chỉ mang danh ki-tô hữu mà chưa mang Đức Ki-tô trên vai, chưa sống lời dạy của Đức Ki-tô và chưa đem Chúa Ki-tô vào trong cuộc sống của thế giới này.

Lạy Chúa, Chúa đã đến trong thế gian, để mang ơn cứu độ cho nhân loại qua sứ vụ Thiên Sai. Xin ban cho chúng con biết nhận ra và đáp trả lời mời gọi của Chúa, để đón nhận ơn giải thoát của Chúa và kiến tạo hạnh phúc cho anh chị em xung quanh chúng con. Amen.

Lưới người như lưới cá

Chúa nhật III thường niên B

Chúa Giê-su kêu gọi ông Simon và Anrê, Gioan và Giacôbê bước sang một đời sống mới. Những tháng năm còn lại của đời họ sẽ trở nên quà tặng cho mọi người: trở nên kẻ lưới người như lưới cá.

Quả vậy một trong những chiều kích chính yếu của đời sống ki-tô hữu là mang lại hoa trái, khi biết sử dụng tốt thời gian được tặng ban, trong suốt hành trình cuộc đời họ.

Hiện tại đời sống này là cuộc đời tạm. Từ lúc thành thai cho tới lúc lìa thế, các môn đệ của Đức Ki-tô cần tiếp tục ra đi để tiến về phía trước: sau 9 tháng trong bụng mẹ, rồi được sinh ra, tiếp tục trưởng thành từ tuổi thơ ấu cho đến lúc già cả kòm hom…họ đều phải chuyển mình và thích ứng với một thực tại mới. Trong Tin mừng, Chúa Giê-su đã biến đổi bốn môn đệ và tập trung họ lại. Từ nay họ trở nên những kẻ đành lưới người.

Ba bài đọc của chúa nhật III hôm nay nói với chúng ta về thời gian đi qua: “ Còn 40 ngày nữa Ninive sẽ sụp đổ” đó là lời loan báo của ngôn sứ Giona; còn thánh Phao lô thì nói: “ thời giờ vắn vỏi”; và Chúa Giê-su thì tuyên bố: “ Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến”.

Qua dòng lịch sử, thời gian luôn là chủ đề được bàn tới. Có tác giả đã viết: “Thời gian là con vật hung dữ nuốt chửng mọi thứ … tuổi trẻ, sức khỏe, của cải, thể lực, những dự án đắt giá nhất”; “Giết thời gian, đó là điều mà con người luôn muốn làm. Nhưng cuối cùng, thì chính nó lại giết chết con người.”; “ Thời gian qua nhanh đến nỗi ta không còn thấy nó”.

Trong Kinh Thánh, thời gian là một yếu tố tốt đẹp và tích cực. Đó là một món quà được trao tặng cho chúng ta, là món quà của Thiên Chúa. Nó giúp chúng ta mang lại hoa trái, hoán cải đời sống và tham dự vào việc sáng tạo một thế giới nhân bản hơn. Theo Chúa Giê-su và thánh Phaolô, thì thời gian là một cánh cửa mở ra một tương lai tốt đẹp hơn. Không phải là khóc than vì thời gian qua mau, cho bằng đón nhận cách quảng đại “thời đại mới”. Đây là một lời mời gọi nhìn đời sống dưới lăng kính vĩnh cửu. Chúng ta đang ở giữa một thế giới mới mà ngôn sứ Isaia đã gợi lên khi viết rằng: “Và đây ta sẽ tạo nên một trời mới đất mới”.

Các bài đọc hôm nay nhắc lại cho chúng ta rằng đối với dân thành Ninivê, hay đối với các môn đệ của Chúa Giê-su, và cả chúng ta, thì thời gian là một thời kỳ hồng phúc giúp chúng ta hoán cải.

Chúa Giê-su đã sống trong thế kỷ của chiến tranh, bạo hành và bất công. Các bạo chúa thống trị và các đội quân lã mã áp bức người dân mà chẳng màng chi tới những hậu quả tiêu cực đối với những người mà họ đàn áp. Chỉ cần đọc vài trang lịch sử cũng đủ giúp cho chúng ta thấy bạo lực gây ra bởi đế quốc La mã. Trong một thế giới nô lệ và bị lạm dụng quyền lực như thế, Thiên Chúa đã sai Con mình đến để ban tặng một viễn tượng mới, một viễn tượng khác, nhân văn hơn và công lý hơn, để mà đem lại niềm hy vọng và khuyến khích các môn đệ ngài tạo dựng một thế giới mới, một thế giới huynh đệ. Nếu ai muốn “Nước Thiên Chúa” theo cách mà Thiên muốn cho thế giới này, thì Nước đó đang ở rất gần và ở trong tầm tay của mỗi người.

Đối mặt với các ác ở khắp mọi nơi, chúng ta vẫn hy vọng rằng mọi người sẽ “hoán cải” và họ sẽ thay đổi lối sống. Đức Ki-tô khuyến khích mỗi người hãy bắt đầu thay đổi chính mình: “ để thế giới đổi thay, cần những con người thay đổi…Hay hoán cải.”

Để sống trong một thế giới tốt đẹp hơn, chúng ta cần thay đổi quan niệm về mọi sự và “ tin vào Tin mừng”, như là 4 môn đệ đầu tiên đã thực hiện: Vâng “ Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”…”Hãy trở nên những kẻ lưới người như lưới cá”. Amen.

 

Hãy đến mà xem

“ Thưa Thầy, Thầy ở đâu?” và Chúa Giê-su đáp: “ Hãy đến mà xem”.

Khi đọc các sách Tin mừng, chúng ta thấy có nhiều hạng người đi tìm Chúa Giê-su:

– Người đi tìm Chúa để được nghe lời Ngài,

Người thì tìm đến Chúa để xin chữa lành bệnh tật,

– Người thì tìm Chúa để bắt bẻ Chúa,

– Ông Gioan tẩy giả tìm Chúa để loan báo cho mọi người biết về Chúa,

– Các môn đệ đi tìm Chúa để theo Chúa.

Trước hết, về câu trả lời của Chúa Giê-su: “ hãy đến mà xem”, chúng ta thấy vấn đề ở đây không chỉ là một lời mời đến chiêm ngưỡng nơi mà Chúa ở đâu, nhưng còn là đến để theo kiểu nói việt nam mình là nhìn tận tay, day tận mắt, một sự tiếp xúc cụ thể để tạo nên niềm tin, như là niềm tin của các tông đồ, của nhưng người tin vào chứng tá của các tông đồ.

Thứ đến, lời mời này của Chúa Giê-su nhắc tôi nhớ đến một câu ngạn ngữ của người Pháp:

– “Bạn hãy nói cho tôi bạn gắn bó với ai, tôi sẽ nói với bạn bạn là ai”. Hay ngạn ngữ việt nam mình: “ Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”.

– Thực vậy, sống thân mật với Chúa Giê-su, ta sẽ dần dần trở nên giống Chúa. Ta sẽ nhìn với đôi mắt của Chúa, sẽ yêu với con tim của Chúa, sẽ hành động với sức mạnh của Chúa.

Cuối cùng, chúng ta cũng thấy lời mời này của Chúa Giê-su cũng là một lời kêu gọi:

– Chúa Giê-su gọi các môn đệ, cũng như Chúa gọi tất cả mọi người đi vào mối tương quan với Chúa.

– Ngài mời gọi mọi người đón nhận ơn cứu độ, chia sẻ đời sống với Chúa và trở nên những cộng tác viên của Chúa.

Nói về ơn gọi của Chúa không có nghĩa là Chúa gọi một cách trực tiếp. Ngài thường kêu gọi nhờ vào các trung gian: như các biến cố xẩy ra, các cuộc gặp gỡ, các lời nói được đọc và được nghe….Như trong Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy chính Gioan là người đã giúp cho Anrê gặp được Chúa Giê-su, và chính nhờ Anrê mà Simon cũng gặp được Chúa. Nói rộng hơn thì chính nhờ Giáo Hội, có nghĩa là chúng ta, mà Chúa Giê-su hiện diện.

Ở đây tôi muốn lưu ý là chúng ta không biết gì nhiều về tông đồ An-rê, bởi vì ta thấy Ngài ít xuất hiện trong các sách Tin mừng, tuy nhiên thì chính vị tông đồ ẩn mình này đã dẫn đến với Chúa Giê-su người em của mình, người được gọi là đá, trên đá đó mà Giáo Hội được xây dựng. Không có An-rê, sẽ không có Phêrô.

Vậy mỗi chúng ta được mời gọi ý thức về giá trị của những bước khởi đầu nhỏ bé như thế. Tuy nhiên thì lời mời gọi của Chúa lại để cho con người được tự do đáp trả. Kinh thánh đã cho thấy nhiều sự đáp trả khác nhau:

– Có sự đáp trả ngay lập tức, như ông Abraham, khi được gọi ông đã lập tức ra đi.

– Lại có những do dự, như ngôn sứ Giêrêmia khi được gọi đã thưa với Chúa: lạy Chúa, con không biết ăn nói, con còn quá trẻ.

– Và có những chối từ, như chàng thanh niên giàu có trước lời mời gọi của Chúa Giê-su, anh đã ra đi buồn bã vì anh ta có nhiều của cải.

Chúng ta cũng thế, chúng ta đã được gọi vào ngày lãnh nhận bí tích rửa tội, chúng ta đã nhận được một ơn gọi, có thể lúc nào đó Chúa trao phó cho chúng ta sứ mạng và Ngài muốn chúng ta tự do đón nhận. Chúng ta hãy xin Chúa chiếu soi chúng ta, và xin Ngài ban cho chúng ta sức mạnh để như Gioan Tẩy Giả, An-rê và Phêrô, trở nên các nhân chứng của ánh sáng và bình an. Amen.

Hãy vui lên

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG – B

Sứ điệp Chúa nhật III Mùa vọng hôm nay mời gọi chúng ta là : “Hãy vui lên, vì Chúa đã gần đến” (1 Tx 5,16). Màu hồng của phụng vụ cho thấy niềm vui này là dấu chỉ của niềm tin yêu và hy vọng của chúng ta. Vậy, mỗi tín hữu phải là một con người của niềm vui. Đức chân phước giáo hoàng Phao lô VI đã viết rằng : không ai bị loại ra khỏi niềm vui của Thiên Chúa, chính vì thế trong tông thư « niềm vui của Tin mừng » Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng đã nói: Có những Kitô hữu sống như chỉ có Mùa Chay mà không có Phục Sinh. Thật là tiếc cho những ai như thế và cho cả những ai sống cùng với họ, bởi vì họ cần hiểu là ân sủng của Chúa luôn ban xuống cho tất cả mọi người như là suối nguồn của niềm vui, dẫu rằng : người ta không sống niềm vui cùng một cách trong mọi giai đoạn và hoàn cảnh của cuộc đời, nhất là trong những lúc khó khăn. Tuy nhiên ta có thế nói rằng : niềm vui thích nghi và biến đổi, luôn tồn tại, ít ra như một tia sáng phát ra từ sâu thẳm của con tim rằng mình được yêu thương vô cùng.

Thánh Gioan Tẩy giả được mô tả trong bài Tin mừng mà chúng ta vừa nghe như là chứng nhân của niềm vui đó bởi vì chính ngài đã là người cảm nhận và loan bao niềm vui này cho nhân loại khi ngài đến làm chứng cho Ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ánh sáng đó là Đấng ở giữa mọi người mà biết bao người đã không nhận ra Ngài. Quả vậy, Đức Giê-su là niềm vui được Thiên Chúa trao ban cho nhân loại. Chính Ngài là Đấng đã được xức dầu để « loan Tin mừng cho người nghèo khó, bắng bó những tâm hồn đau thương, báo tin ân xá cho những kẻ bị lưu đày, phóng thích cho những tù nhân, công bố năm hồng ân của Thiên Chúa ».

Niềm vui nơi Đức Giê-su nối kết chúng ta với thế giới hôm nay, một thế giới vẫn đang tồn tại bạo lực, bất công và những ích kỷ nhỏ nhen của con người. Chính Đức Thánh Cha Phanxicô đã phải thốt lên : « khi mà tâm hồn con người khép lại vì những lợi lộc riêng của mình thì không còn chỗ cho người khác, vì người ta không còn biết nghe tiếng Chúa…ngay cả nhiều tín hữu cũng để cho mình ở trong nguy cơ này…nhiều người đã ngụp lặn trong đó và biến mình thành những con người thật đáng thương ».

Trong những ngày chúng ta chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh này, chúng ta lo trang trí đèn hoa, lo dựng cây thông giáng sinh, lo làm hang đá, điều này thật tốt nếu nó đưa chúng ta gặp gỡ Đức Ki-tô. Trái lại chính những lo lắng bên ngoài này có nguy cơ làm cho chúng ta quên mất Đấng là nhân vật chính của ngày lễ này. Vậy thì chính lúc này đây, trong tĩnh lặng của tâm hồn, mỗi chúng ta hãy đặt vào đó sứ điệp của Thánh Gioan Tiên hô : « Ở giữa các ông, có một Đấng mà các ông không biết » để mà xác tín lại niềm tin yêu của mình.

Điều quan trong nhất là hãy làm cho Đức Ki-tô hiện diện cách rõ nét trong đời sống đạo của mỗi chúng ta, và làm cho ngài hiện ra rõ nét cho thế giới hôm nay. Như chứng tá của Gioan Tẩy Giả làm chứng cho Đức Ki-tô, mỗi chúng ta sẽ có niềm vui đích thật khi làm chứng tá cho ngài. Để kết luận, xin chia sẻ với cộng đoàn câu chuyện về Mẹ thánh Têrêsa Calcutta :

Một ngày kia mẹ Tê-rê-sa Can-quýt-ta đã đến thành phố Men-bơn (Melbourne) nước Úc. Một hôm, mẹ đã đi thăm một ông lão nghèo không ai biết đến. Ông sống trong một căn phòng tồi tệ, đồ đạc ngổn ngang bụi bặm. Căn phòng không cửa sổ và tối tăm vì không một bóng đèn. Mẹ Tê-rê-sa liền bắt tay vào việc thu dọn đồ đạc. Ông lão kia nói to: “Xin cứ để yên cho tôi”. Nhưng mẹ vẫn tiếp tục làm công việc quét dọn. Sau khi mọi thứ đã ngăn nắp sạch sẽ, mẹ Tê-rê-sa đã tìm thấy một chiếc đèn dầu nằm trong một góc phòng. Chiếc đèn bám đầy bụi bặm, chứng tỏ đã lâu ngày không có ai đụng đến. Mẹ liền lau chùi chiếc đèn sạch sẽ rồi hỏi: “Lâu nay ông đã không thắp đèn phải không ?”. Ông ta đáp: “Thắp đèn làm chi ? Nào có ai thèm đến thăm tôi đâu ? và tôi cũng chẳng cần phải tiếp xúc nói chuyện với ai”. Mẹ lại hỏi: “Thế ông có hứa sẽ thắp đèn lên nếu có các nữ tu của tôi đến thăm ông không?”. Ông đáp: “Vâng, nếu tôi nghe có tiếng người đến thì tôi sẽ thắp đèn lên”.

Từ đó, mỗi ngày, hai nữ tu của mẹ Tê-rê-sa được cử đến thăm ông lão và thu dọn giúp đỡ cho ông. Một hôm ông nói với một trong hai nữ tu ấy như sau: “Bây giờ tự tôi đã biết thu dọn phòng của tôi rồi. Nhưng xin chị làm ơn về nói với bà bề trên rằng: Ngọn đèn mà bà đã thắp lên trong ngày đầu thăm tôi, đến nay vẫn không ngừng được thắp sáng”.

Noi gương mẹ Tê-rê-sa Can-quýt-ta, kính thưa… mỗi chúng ta sẽ làm gì cụ thể để chia sẻ niềm vui Giáng Sinh cho người kém may mắn mà chúng ta gặp gỡ, để thắp lên ánh sáng Tình Yêu và sự hiện diện của Thiên Chúa cho anh chị em xung quanh có được niềm vui trong Mùa Giáng Sinh đang đến. Amen.

Hãy dọn đường Chúa cho ngay thẳng

Trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta nói nhiều tới việc làm đường và sửa đường. Mọi người quan tâm vấn đề này bởi vì cuộc sống phát triển nên các con đường là một phương tiện giao thông liên lạc cần thiết để người ta có thể đến được với nhau trong mọi mối tương quan của cuộc sống hằng ngày. Có những con đường tốt, đường thẳng nhưng cũng có những đường xấu và đường cong gây tai nạn và khó khăn trong việc đi lại. Đường thẳng hay cong có thể do hoàn cảnh địa lý, do điều kiện vật chất, nhưng cũng có nhiều con đường đang thẳng lại biến thành cong vì bởi lòng người lúc cong lúc thẳng, nên con đường có đoạn thẳng đoạn cong. Vậy nguyên nhân của sâu xa của đường thẳng, đường cong là do con đường tâm linh, con đường của lòng người có chính trực công minh hay là cong queo và dối trá.

Vậy chủ đề của các bài đọc kinh thánh của Chúa nhật II Mùa Vọng gửi đến cho chúng ta là việc sửa chữa con đường, đây không phải con đường vật chất nhưng là con đường tâm hồn để Chúa có thể qua đó mà đến với ta và ta qua đó mà đến với Chúa và từ đó ta có thể đến được với tha nhân.

Để giúp cho việc sửa chữa và trùng tu con đường Chúa cho ngay thẳng, chúng ta phải làm gì? Hôm nay bài Tin mừng giới thiệu cho chúng ta một chuyên gia sửa đường, đó là thánh Gioan Tiền Hô. Thánh Gioan đã thực hiện lời kêu gọi của ngôn sứ Isaia trong bài đọc thứ nhất, đó là: “Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa chúng ta trong sa mạc”. Và chính Ngài đã làm gương cho chúng ta noi theo khi ngài đã vào sa mạc, mặc áo da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng, sống đời nhiệm nhặt để kêu gọi mọi người đón Chúa đến.

Như thế, chỉ dẫn quan trọng để sửa đường tâm linh trong Mùa Vọng này là đi vào sa mạc để sửa đường Chúa. Trong lịch sử cứu độ, sa mạc luôn là khung cảnh thuận tiện cho ân sủng của Chúa hoạt động. Dân Israel đã có kinh nghiệm này khi lưu lạc ở sa mạc 40 năm để Chúa uốn nắn và thanh luyện. Chính vì lẽ đó chúng ta đi vào trong sa mạc cuộc đời trong Mùa Vọng này, tức là tách mình ra khỏi những bận tâm, lo toan của cuộc sống thường ngày để hồn mình được bình tâm, nhờ đó mà có thể thấy được tình trạng con đường cuộc đời của chính ta, của nhân loại để mà tiến hành: lấp mọi hố sâu, bạt mọi núi đồi, làm cho ngay thẳng những cong queo và san bằng những gồ ghề.

Theo ngôn ngữ kinh thánh thì việc đi vào sa mạc để sửa đường Chúa có nhiều lợi ích. Trước hết, sa mạc là nơi thuận tiện để gặp gỡ Chúa. Vâng, chính trong nơi hoang sơ này mà Thiên Chúa nói trong sâu thẳm của lòng người để họ thực hiện lời mời gọi hoán cải: hãy sửa đường Chúa đi. Để có thể nghe được tiếng Chúa thì cần đi vào sa mạc qua việc cố gắng loại trừ bớt những tiện nghi đầy đủ thường ngày, ăn uống đạm bạc, cầu nguyện nhiều hơn và hoán cải đời sống bằng việc trút khỏi mình tội lỗi, loại trừ những tính mê nết xấu, những lối sống cằn cỗi. Thánh Gioan dùng hình ảnh cụ thể là ‘hãy san bằng những gồ ghề” trên con đường, có nghĩa là bỏ đi những chướng ngại để Thiên Chúa đến với ta và để ta có thể đến với ngài.

Tiếp đến, sa mạc cũng là biểu tượng của sự cằn cỗi trong tâm hồn. Đi vào sa mạc để thấy được tâm hồn con người trong tình trạng như mảnh đất khô cằn và không có nước. Hình ảnh này làm ta nối kết với những hoang mạc trong thế giới hôm nay khi vẫn còn tình trạng người đối xử với người tàn ác như sói rừng, khi phẩm giá làm người không được tôn trọng và bảo vệ: nhiều người nam và nữ bị biến thành những phương tiện để mua bán và bóc lột; khi vẫn còn đó những hoang mạc của những mảnh hồn sống đơn độc thiếu vắng tình yêu và không biết yêu thương. Tất cả những sa mạc này đã làm cho người ta không thể hiểu, thông cảm và đón nhận được nhau. Tuy nhiên cũng chính từ nơi đó, Chúa Ki-tô đã đến và tìm kiếm con người đã cho thấy Tin mừng khởi đi từ sa mạc của đời người. Giống như trong sa mạc mênh mông khô cằn không có sự sống, nhưng khi mưa đổ xuống, đất lại trổ sinh hoa trái tốt tươi; thì nhờ sự hiện diện của Chúa, cuộc sống con người không còn khô cằn nữa vì ngài không bỏ rơi con người, sự hiện diện này như hạt giống sự sống được gieo vào lòng người không bao giờ chết, nhưng nếu có cơ hội nó sẽ nảy mầm tăng trưởng và sẽ đổi mới đời sống chúng ta.

Cuối cùng, sa mạc không phải là nơi lý tưởng để tìm kiếm sự yên thân nhưng ngược lại, đó lại là nơi để chiến đấu, vì sa mạc là nơi mà người ta sẽ chết khát và chết cháy vì nắng nóng. Khi chọn lựa sa mạc, thánh Gioan Tiền Hô muốn loan báo một cuộc chiến, một cuộc đấu tranh. Chúa Giê-su khởi đầu sứ mạng của mình khi đối diện với Satan ở trong sa mạc. Trải dài trong suốt hành trình rao giảng, ngài đã bị tấn công bởi thù địch. Các địch thù đã bắt ngài, kết án ngài và đóng đanh ngài trên thập giá. Hành trình đức tin cũng là một chuỗi dài của những cuộc chiến chống lại sự dữ. Hôm nay cũng như hôm qua, biết bao nhiêu tín hữu đã bị bách hại và bị kết án tử. Nhưng với Chúa Ki-tô phục sinh, thì niềm hy vọng lớn lao của chúng ta là tình yêu mạnh hơn sự chết.

Chính tình yêu của Đức Ki-tô là niềm hy vọng thúc đẩy chúng ta làm chứng tá cho Chúa hôm nay khi đi vào sa mạc của đời mình để thấy những tham sân si của phận người mà hoán cải và canh tân; đi vào sa mạc của thế giới để chia sẻ và an ủi những mảnh đời đau khổ và bất hạnh; đi vào sa mạc của cuộc đời để chiến đấu mỗi ngày với các địch thù là ma quỷ và thế gian vô thần.

Trở nên chứng tá cho Đức Ki-tô là mang lấy chính ngài trong cuộc sống mình. Chúng ta không thể loan báo Chúa cho người khác nếu chúng ta không đón nhận chính Ngài. Chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh là dọn đường để Chúa đến với chúng ta, sống tâm tình giáng sinh trước tiên là đón Chúa đến cho chính cuộc sống của ta. Ngài là nguồn suối tưới mát sa mạc cuộc đời và làm sống lại những gì cằn cối của tâm hồn mỗi người chúng ta hôm nay. Amen.

Muavong1

Tỉnh thức và sẵn sàng

Trong ngày đầu tiên bước vào Mùa Vọng này, trước hết chúng ta một lần nữa nhắc lại ý nghĩa của từ ngữ, đó là chữ “Vọng”. Chữ “Vọng” này giúp ta liên tưởng tới thời gian trông đợi: có thể là trông đợi một người, hay trông đợi một sự kiện đến với chúng ta, và trong ý nghĩa phụng vụ, Mùa Vọng là thời gian trông đợi ngày Chúa đến. Xét về ý nghĩa của sự trông đợi của Mùa Vọng thì chúng ta cử hành ba biến cố của việc Chúa đến: trước hết là biến cố Chúa đến trong thời gian và hằng năm biến cố này được cử hành long trọng vào ngày đại lễ Giáng Sinh 25.12; tiếp đến là biến cố Chúa đến trong đời sống của mỗi người qua việc họ sẵn sàng đón tiếp Chúa; và cuối cùng là biến cố Chúa đến trong vinh quang của ngày cánh chung. Tựu chung cho việc đón đợi ba biến cố Chúa đến này mời gọi chúng ta hãy tỉnh thức và chuẩn bị sẵn sàng, đó cũng là những điều mà các bài đọc kinh thánh mà chúng ta vừa nghe chỉ dạy.

Bài đọc Cựu ước đưa chúng ta vào điểm chia sẻ thứ nhất: tỉnh thức và sẵn sàng vì niềm hy vọng mà Chúa gửi đến cho nhân loại được khởi đầu từ hành trình lịch sử của dân Israel. Ngôn sứ Isaia đã loan báo sứ điệp quan trọng này trong bối cảnh dân Chúa đang bị lưu đầy ở Babilon. Tình trạng bị lưu đày nơi đất khách quê người thật là đau khổ. Nhưng vào cuối thời lưu đày, dân Do thái đã ý thức rằng họ khốn khổ là do họ tội lỗi, nên Ngôn sứ Isaia đã thay mặt dân bày tỏ 2 điều: một mặt, thú nhận tình trạng tội lỗi của dân. Mặt khác, nài xin Chúa đến để tha thứ và cứu thoát họ. Và thực tế là Thiên Chúa đã không bỏ dân Người. Sứ điệp vui mừng này được thực hiện nơi Chúa Giê-su, đấng đã xé trời mà ngự đến và hiện diện giữa nhân loại. Vâng, trong một thế giới mà sự thất vọng đang giết dần giết mòn con người thì những người tin vào sự hiện diện của Chúa lại đang có đó để trao ban niềm hy vọng cho muôn dân.

Còn trong bài đọc tân ước, thì thánh Phaolô đã làm toát lên ý tưởng thứ hai: tỉnh thức và sẵn sàng vì Chúa Giê-su phục sinh và trở thành nền tảng của những người tin. Quả vậy nơi Đức Ki-tô, Thiên Chúa thực thi ơn cứu độ cho mọi người mọi nơi và mọi thời đại. Mặc dầu đã vượt qua cõi chết và bước vào vinh quang của Chúa Cha, Chúa Giê-su đã không bỏ rơi những ai tin ngài. Ngài đã đến đón những người đi trước để thiết lập vương quốc của Ngài. Chính nhờ đó mà mỗi chúng ta sống trong niềm hy vọng sẽ đạt tới ngày đã được ấn định bởi Cha Ngài, ngày mà Ngài sẽ trở lại trong vinh quang cánh chung để dẫn đưa tất cả mọi người bước vào Vương Quốc hằng sống. Và để xứng đáng bước vào nơi mà Ngài đã dọn sẵn, Thánh Phao lô mời gọi tất cả mọi người hãy nhận biết ân sủng mà Thiên Chúa trao ban để làm sao mà trong ngày Chúa đến mọi người vẫn kiên trì trong đức tin và thực thi một đời sống không có gì phải đáng chê trách.

Như vậy, ý tưởng thứ ba đưa chúng ta trở về trọng tâm của chủ đề: tỉnh thức và cầu nguyện bằng việc kiên trì và sống đức tin bằng một đời sống không có gì đáng chê trách trong niềm hy vọng đón ngày Chúa đến. Chúa Giê-su trong bài Tin mừng của Thánh Máccô đã chỉ dạy cụ thể về việc “tỉnh thức’ và ‘sẵn sàng” như là một người đầy tớ tỉnh thức chờ chủ trở về giữa đêm khuya.

Tại sao Chúa Giê-su lại dạy các môn đệ phải tỉnh thức sẵn sàng như người đầy tớ đợi chủ trở về? Thưa vì Ngài sẽ trở lại cách bất ngờ không ai có thể biết và lường trước được. Sự bất ngờ này đòi hỏi người môn đệ phải cầu nguyện để mà canh thức. Hành động cụ thể là sự canh thức, và chỉ có thể được là nhờ vào sự kết hiệp với Chúa qua việc chuyên cần cầu nguyện, và như thế họ không bị bất ngờ khi Chúa đến. Vậy đâu là điều mà mỗi người chúng ta phải làm để chứng tỏ rằng mình đang hành động canh thức để đón nhận sự hiện diện của Chúa?

Để kết luận, xin chia sẻ câu chuyện kể về việc mong đợi Chúa đán của một cụ già. Vào một ngày đẹp trời, khi ông đang ngồi trên ghế xích đu trong một khu vườn, lòng mong đợi Chúa đến. Tình cờ, một em bé gái đang chơi đã để lọt quả bóng vào sân nhà ông, cô gái chạy lại nhặt quả bóng và mở lời làm quen :

– Thưa ông, ngày nào ông cũng ngồi trên chiếc xích đu này, ông đang chờ ai vậy ?

– Cháu còn nhỏ quá làm sao hiểu được điều ông mong đợi, ông cụ đáp.

– Có lẽ cháu nhỏ thật, nhưng mẹ cháu nói : có điều gì trong lòng thì hãy nói ra, có nói ra mới hiểu rõ hơn.

Nghe cô bé nói có lý, ông cụ liền thổ lộ :

– Ông đang chờ đợi Chúa đến.

Cô bé tròn xoe đôi mắt kinh ngạc. Ông già mới giải thích :

– Trước khi nhắm mắt, ông muốn tin chắc rằng có một Thiên Chúa, ông cần một dấu hiệu cháu à!

Bấy giờ cô bé mới lên tiếng :

– Ông chờ một dấu hiệu ư ? Thưa ông, Chúa đã cho ông một dấu hiệu : mỗi khi ông hít thở không khí, mỗi khi ông nghe tiếng chim hót, mỗi khi ông nhìn hạt mưa rơi. Chúa đã cho ông một dấu hiệu trong nụ cười trẻ thơ, trong nước mắt người đau khổ. Ông ơi, Chúa ở trong ông. Chúa ở trong cháu, không cần phải tìm kiếm, vì Người luôn ở đó

“ Ông ơi, Chúa ở trong ông. Chúa ở trong cháu, không cần phải tìm kiếm, vì người đang ở đó”. Lời nói đơn sơ trong sáng của cháu bé giúp cho chúng ta xác tín về sự hiện diện của Chúa, niềm xác tín này sẽ là trợ lực lớn lao để chúng ta hân hoan sống tâm tình mùa vọng hôm nay bằng việc thực thi Lời Chúa và Giáo huấn của Giáo Hội bằng những hành động cụ thể. Xin đọc lại lời Thánh Phao-lô như là một tâm tình tóm kết rất chí lý thúc đẩy chúng ta trong ngày khởi đầu của Mùa Vọng này: “Anh em thân mến. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy hãy loại bỏ những việc làm đen tối và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đúng đắn như người đang sống giữa ban ngày: Không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng” (Rm 13,12-14). Amen.

Ta đói các người đã cho Ta ăn

Hôm nay mừng lễ Chúa Ki-tô, chúng ta cùng nhau cử hành Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ. Như là trong đời sống, mọi người đều tính sổ sách cuối năm tổng kết công việc trong suốt 12 tháng qua thế nào, thì hôm nay Tin mừng cũng đề nghị chúng ta tổng kết đời sống đức tin của mình trong những ngày kết thúc năm phụng vụ này như thế.

Việc tổng kết này được thực hiện từ những điều mà Chúa kêu gọi thực thi lề luật mới của Ngài đó là “ mọi người sẽ biết các con là môn đệ của Thầy nếu các con có lòng yêu thương nhau”. Tin mừng hôm nay giúp cho mỗi chúng ta cụ thể hóa luật mới này bằng việc nhắc nhớ chúng ta điều đã làm hay thiếu xót không làm: ta đói các con đã cho ta ăn, ta khát các con đã cho ta uống…hay ta đói các người đã không cho ta ăn, ta khát các ngươi đã không cho ta uống”

Việc tính sổ thật đơn giản chứ không như nhiều người nghĩ là việc phán xét của Chúa sẽ nhằm vào những việc lớn lao, những hành động anh hùng và thánh thiện, hay những hành vi lớn lao về đạo đức và tôn giáo.

Thực vậy, vấn đề ở đây là những việc làm hằng ngày, những hành động như các người cha người mẹ chăm sóc các con của họ, hay những con người hằng ngày vẫn sống tình giao hảo, quảng đại và nhã nhặn với những người hàng xóm, những hành vi cử chỉ nhỏ nhặt được thể hiện cho mỗi người xung quanh một cách âm thầm chứ không nhất thiết phải loan báo to tát như rao truyền trên mái nhà ….

Việc làm ở đây cũng không cần thiết là phải được làm nhân danh Chúa Giê-su, như là những hành động tôn giáo, những của lễ, những hy sinh. Như trong dụ ngôn, chúng ta thấy những người ở bên phải cũng như những người ở bên trái đều không nhận biết Chúa trong những việc làm nhỏ mọn mà họ thực hiện. Không một hành động nào mà Chúa Giê-su nêu lên dường như lại có tính tự nhiên tôn giáo cả.

Chúa Giê-su hôm nay trong ngày lễ Chúa Ki-tô Vua nhắc lại cho chúng ta rằng chúng ta bị xét xử trên tình yêu và chỉ trên tình yêu mà thôi. Ở đây chỉ cần một tình yêu rất bình thường tự nhiên: cho ăn, cho uống, đón tiếp, cho mặc, viếng thăm, chăm sóc. Những cử chỉ yêu thương nhỏ bé như thế lại có một giá trị vĩnh cửu.

Cái danh sách được Đức Giê-su liệt kê ra là không giới hạn, nên có thể tính đến cả những việc mà mỗi chúng ta có thể làm hằng ngày trong đời sống: như người cha người mẹ thức khuya dậy sớm du con ngủ, dỗ dành cho con khỏi khóc; là những đứa con chăm sóc cha mẹ già yếu trên giường bệnh. Hay trong giáo xứ chúng ta có nhưng ông bà anh chị em tham gia các công việc phục vụ, dọn dẹp quét nhà, lau bụi, dạy giáo lý…những sự phục vụ vô vị lợi, giúp đỡ người khó khăn, làm thiện nguyện tại các hoạt động cứu trợ, hiến máu nhân đạo….

Thánh Gioan Kim Khẩu đã lưu ý tới sự hoàn hảo nhất mà Chúa đòi chúng ta qua những việc làm bé mọn. Chúa không nói là người đói được an ủi, người ốm được khỏi, người ở tù được tự do. Điều quan trọng ở đây là làm cái gì đó bé mọn để việc đó được hoàn thành. Có nghĩa là đói thì cho ăn và nhờ việc làm cho ăn đó mà người đói mới được an ủi. Người ốm được cho thuốc, và nhờ việc cho thuốc đó mà họ được khỏi, hay người ở tù được viếng thăm, được giúp đỡ để được tự do.

Trong cuộc gặp gỡ cánh chung với Chúa Giê-su. Chúa không xét xử chúng ta. Nhưng chính chúng ta bị xét xử bởi chính mình về những gì mình làm trong suốt cuộc đời. Thiên Chúa chỉ vén mở điều còn ẩn dấu trong mỗi ngày sống của chúng ta. Trong ngày phán xét đó, Thiên Chúa sẽ giúp cho mỗi người xem xét xem mình có thực sự đối xử nhân nghĩa với người khác hay không.

Thực vậy, có thể sánh ví như một cuộc thi, nó sẽ diễn ra với những ngạc nhiên lớn lao. Mỗi chúng ta sẽ biết kết quả trước bởi vì mỗi người đều biết môn thi là thế nào. Thầy giáo đã cho chúng ta những câu hỏi và chỉ dẫn cho chúng ta những câu trả lời.

Trái ngược với điều xẩy ra trong các kỳ thi, những người thông minh và chịu khó sẽ không có thuận lợi ưu tiên. Tất cả mọi người đều có thể thi đỗ kỳ thi cuối cùng này, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, chỉ số thông minh. Chúa Giê-su sẽ không hỏi chúng ta xem có bằng cấp loại gì, học trường đại học nào, cũng như đã thành công trong sự nghiệp, hay đã kiếm được nhiều tiền không, hay thuộc đảng phái nào…

Bảng xét xử cuối cùng không nhằm mục đích làm chúng ta sợ hãi bởi nhấn mạnh tới sự kết tội sẽ đến, nhưng là một lời mời gọi chúng ta quan tâm đến giây phút hiện tại. Chính lúc này mà sự sống vĩnh cửu được khởi đầu, chính lúc này mà mỗi chúng ta có thể cho những người đói được ăn, thăm viếng những người đang sống trong nỗi cô đơn, giúp đỡ những người hàng xóm đang cần đến sự trợ giúp, an ủi những người đang trong cảnh tang chế….Chính lúc này mà chúng ta bảo đảm tình thân hữu với Chúa. Vâng “mỗi lần các con làm điều đó cho một trong những kẻ bé mọn nhất này là các con đã làm cho chính Ta vậy”. Amen.

Hiệp hành sống đức tin

Trong ngày kính trọng thể các Thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay, chúng ta có dịp chiêm ngưỡng lại bức tranh các Thánh Tử Đạo Việt Nam do họa sỹ Gordon Faggatter vẽ để trưng bày ở quảng trường Roma trong ngày đại lễ phong thánh 19/06/1988.

Bức tranh lấy cảm hứng từ câu 9 trong đoạn 7 của sách Khải Huyền: “Tôi đã thấy một đoàn người đông đảo không tài nào đếm nổi, thuộc mọi nước mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng rước ngài Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế”. Theo Thánh Gioan, đám người đông đảo tượng trưng cho muôn vàn vị Tử Ðạo trong lịch sử Giáo Hội hoàn vũ, đã bỏ mình vì trung kiên với Thiên Chúa, và hiện nay đang vinh hiển trong cõi hoan lạc trường sinh. Còn trong Giáo Hội VN, 117 Thánh Tử Ðạo tượng trưng cho trên dưới 130,000 bạn đồng hành đã anh dũng hy sinh mạng sống trong suốt 261 năm bách hại: từ sắc chỉ cấm đạo đầu tiên năm 1625, cho tới hết thời Văn Thân (1886).

Bức tranh các thánh tử đạo làm nổi bật tính hiệp hành đức tin tại miền đất truyền giáo Việt Nam

Gương mặt các vị tử đạo bao gồm mọi thành phần dân Chúa, đến từ hải ngoại, từ mọi miền đất nước. Các ngài  là các vị giám mục thừa sai dòng Đaminh Tây Ban Nha và Hội Thừa Sai Paris (MEP), các vị linh mục thừa sai và linh mục bản xứ Việt Nam, 1 chủng sinh, chánh chương, trùm trưởng, chức sắc, giáo dân, 1 thánh nữ là bà thánh Ine Lê Thị Thành

5 ngôi thánh đường đại diện cho 3 miền nam bắc…hình ảnh văn hóa, hoa sen, cánh đồng lúa…Và từ trên cao, Đức Kitô với một tay mở rộng đón đợi và một tay đang chúc lành, như muốn lập lại lời Ngài xưa : “Trong thế gian anh em sẽ còn phải gian nan khốn khó, nhưng can đảm lên, Thày đã thắng thế gian

Mẫu gương của sự hiệp thông, gắn kết bởi một niềm tin của các vị thánh tử đạo đã làm cho các ngài trở nên những người làm chứng tá cho lòng trung tín với Đức Ki-tô, đấng mà các ngài chọn để làm lẽ sống cho cuộc đời mình.

Như thế, là những hoa quả trổ sinh từ hạt giống các thánh tử đạo anh hùng, hôm nay mừng kính và tri ân các ngài đã gây dựng gia tài đức tin cho quê hương, chúng ta cần phải sống theo gương các ngài.

Giữa một văn hóa thực dụng và lối sống hưởng thụ hôm nay, giữa một cuộc sống văn minh, tiện nghi hôm nay, người tín hữu dễ bị cám dỗ chối bỏ niềm tin hoặc có thể dễ dàng thỏa hiệp để chối bỏ Tin mừng của Chúa  bởi một cuộc sống ích kỷ chỉ biết thỏa mãn những tham sân si của phận người.

Sự yếu đuối của thân phận mỗi người chúng ta thật dễ hiểu khi mà đức tin còn chưa bắt rễ sâu trong tâm hồn, khi mà gặp hoàn cảnh khó khăn và thử thách, người tín hữu dễ bị cám dỗ chối bỏ niềm tin của mình. Trong những chuyện kể về các vị tử đạo, chúng ta cũng đã thấy bên cạnh các vị linh mục và những tín hữu can trường giữ vững đức tin thì vẫn có người sợ hãi mà chối Chúa.

Vậy hôm nay dù không còn cảnh đổ máu để làm chứng cho Đức Tin nữa, nhưng mỗi chúng ta vẫn rất cần sự hiệp hành trong đức tin ngay tại mỗi gia đình nơi đó người cha người mẹ cần phải biết đào luyện đời sống đức tin cho con cái,  để  có thể đương đầu với những trào lưu bách hại đức tin của thời hiện đại hôm nay.

Cách cụ thể trong năm qua, mỗi tín hữu chúng ta đã thực thi việc canh tân đời sống đức tin cá nhân, và năm nay là canh tân đời sống đức tin cộng đoàn, mỗi tín hữu chúng ta cần liên đới với nhau bằng sự quan tâm, hiệp nhất, tích cực củng cố và tham gia đời sống các hội đoàn trong giáo xứ. Mỗi thành viên trong các hội đoàn, trong giáo xứ cũng hãy thực hành mỗi ngày những hy sinh từ nhỏ cho đến lớn qua sự trung thành với đức tin, vâng phục lề luật của Chúa và những đòi hỏi của bậc sống mình.

Mừng kính trọng thể các Thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay, chúng ta cùng xin Chúa cho mỗi người tín hữu chúng ta luôn ý thức địa vị cao quý là con cháu các thánh tử đạo anh hùng, để bằng sự trung tín và vâng phục trong niềm tin, không bao giờ để mất di sản đức tin quý báu đã được mua bằng giá máu các thánh tử đạo và không ngừng trao ban di sản vô giá này cho anh chị em xung quanh. Amen.