Đời sống đức tin

Đối với con, Ta là ai?

“ Chúa Giê-su chịu hấp hối cho đến tận thế”, câu nói của một triết gia công giáo cho thấy sự thương khó của Chúa vẫn tiếp diễn. Cho đến hôm nay, người ta vẫn chế nhạo Chúa và những ai tin vào Ngài. Người ta kết án tử Ngài và làm cho ngài biến mất để chứng minh rằng ngài là một tên bịp bợm không còn tồn tại.

Từ hơn 2000 năm qua, vụ kết án của Chúa Giê-su vẫn tiếp tục được nhắc lại năm này qua năm khác, thế kỷ này qua thế kỷ khác. Hôm nay cũng thế, Đức Ki-tô đang nhìn chúng ta với lòng nhân từ và đặt cho chúng ta câu hỏi: Đối với con, ta là ai?

Trong bài thương khó theo thánh Luca mà chúng ta vừa nghe, Chúa Giê-su bị vây quanh bởi nhiều gương mặt khác nhau: các biệt phái và luật sỹ, quan Phi-la-tô, thượng tế Caipha, ông Giu đa, Phê rô và các môn đệ, ông Simon thành Cy-rê-nê, người trộm lành, ông Giu-se thành Arimathia, các phụ nữ theo Chúa, viên bách quan và những người lính…

Qua đám đông những người tin hoặc không tin theo Đức Giê-su đó, Thánh Luca làm nổi bật lên khuôn mặt Thiên Chúa đầy lòng thương xót, nhân từ và bao dung. Đó chính là điểm nhấn của Tin mừng Luca, muốn diễn tả tình yêu của Thiên Chúa Cha biểu lộ qua Đức Giê-su, dành cho những người nghèo, những người đau khổ những người bên lề xã hội.

Điểm lưu ý trong bài thương khó theo Thánh Luca mà các phúc âm khác không nói đến, là ba lần Chúa lên tiếng để mạc khải căn tính của Thiên Chúa. Chúng ta cùng suy gẫm ba lời này của Chúa Giê-su.

Lời thứ nhất: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”. Lời này là tiếng kêu sâu thẳm của tình yêu chỉ có nơi Thiên Chúa. Tiếng kêu của sự tha thứ đáp lại những lời nguyền rủa, những lời chế nhạo của đám đông vây quanh, của các luật sỹ và biệt phái, của những người lính canh.

Trong suốt cuộc đời, Chúa Giê-su rao giảng sự tha thứ. Ngài đã yêu cầu các môn đệ tha thứ không chỉ cho nhưng người thân cận mà cả những kẻ thù những kẻ làm hại mình. Ngài đã yêu cầu Phê-rô phải tha thứ không chỉ bẩy lần nhưng là bẩy mươi lần bẩy; trong dụ ngôn người con hoang đàng, ngài cho thấy hình ảnh Thiên Chúa như một người Cha đã mở tiệc ăn mừng khi đứa con đi hoang trở về. Bị đối xử như một kẻ gian ác, bị kết án tử nhục nhã và bất công, bị đóng đinh giữa hai tên trộm cướp, nhưng Chúa Giê-su vẫn vượt thắng tất cả để thốt lên lời tha thứ: Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”.

Lời thứ hai: “Ngày hôm nay, người ở trên thiên đàng với ta”. Đó chính là lời Chúa dành cho tên trộm đã tin vào Ngài. Vâng, Chúa đã biểu lộ tình yêu và lòng nhân trong suốt những năm tháng trong cuộc đời: Maria Madalena, Gia-kêu, người phụ nữ Samaria, người đàn bà ngoại tình, Phê-rô,  những người què quặt đui mù, đau yếu, quỷ ám v.v. đều nhận được lòng thương xót của Chúa. Và ngay cả lúc hấp hối, Chúa vẫn đón nhận người tử tội cùng chịu đóng đinh với Chúa: Ngay hôm nay, người sẽ ở trên thiên đàng với ta. Ngay ở ngưỡng của sự chết, Chúa Giê-su mở ra cho người bất hạnh này niềm hy vọng và sự sống. Trải qua các thế kỷ, Chúa Ki-tô vẫn luôn luôn là niềm hy vọng cho biết bao nhiêu tâm hồn và Ngài tiếp tục làm điều đó hôm nay.

Lời thứ ba: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha”. Thánh sử Luca cho thấy cái chết của Chúa Giê-su không phải là một biến cố vô nghĩa nhưng là một sự biểu lộ tình yêu, là một cuộc vượt qua về với Chúa Cha: Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha. Dù Chúa Giê-su vẫn luôn sống mối tương quan mật thiết với Chúa Cha nhưng trong lúc thử thách này, trong nỗi sợ hãi của thân phận con người trước cái chết, Ngài vẫn cần đặt niềm tin tưởng trong vòng tay yêu thương của Chúa Cha.

Bản văn của Thánh Luca giúp chúng ta khám phá ra một Thiên Chúa đầy tràn tình yêu và nhân từ, một Thiên Chúa đã cho đi tất cả mà không tiếc chúng ta điều gì. Đó chính là nguồn hy vọng lớn lao cho đời sống đức tin của người tín hữu chúng ta. Vậy ước gì trong tuần thánh này, tuần lễ quan trọng nhất đối với mọi tín hữu, đỉnh cao của năm phụng vụ, không qua đi vô ích nhưng là thời khắc tuyệt hảo nuôi sống niềm tin và niềm hy vọng cho mỗi người chúng ta. Amen.

Tôi cũng không kết án chị

Tự nhiên chúng ta thường dễ xét đoán và kết án người khác. Tuy nhiên với ánh mắt của Chúa Giê-su dành cho người phụ nữ ngoại tình bị mọi người kết án, Tin mừng hôm nay  mời gọi chúng ta biến đổi cái nhìn đối với những anh chị em xung quanh.

Chúa Giê-su nhìn người phụ nữ ngoại tình như ngài đã nhìn Gia-kêu, Maria Madalena, người phụ nữ thành Samaria và Phê-rô khi ông chối Ngài. Chúa nhìn mọi người với ánh mắt nhân từ và bao dung. Cái nhìn của Chúa mang đến sự cứu vớt và trao ban sự sống. Một cái nhìn chan hòa tình yêu.

Đối với người phụ nữ ngoại tình, cho đến lúc gặp Chúa Giê-su, bà chỉ thấy hai ánh nhìn. Ánh nhìn thèm muốn nhục dục của những người đàn ông và ánh nhìn chết chóc do hận thù và oán ghét. Ngược lại khi gặp Đức Giê-su, ngài đã ngước nhìn bà với ánh mắt tôn trọng, cảm thông và chia sẻ. Ngài không chỉ tay kết án bà mặc dù Ngài không thỏa hiệp với tội lỗi của bà. Ngài nâng bà lên khỏi vũng bùn tội lỗi và trả lại cho bà phẩm giá làm người. Ngài kêu mời bà quên đi quá khứ và bắt đầu lại một cuộc sống mới.

Câu chuyện kinh thánh hôm nay là một minh họa cụ thể về thái độ của Thiên Chúa đối với tội nhân, cụ thể là một tội nhân đáng thương mà chính Chúa Giê-su gặp gỡ và bảo vệ để chống lại sự độc ác của con người. Đây không phải là một câu chuyện về việc ngoại tình, nhưng là một mạc khải về Chúa Giê-su và về cái nhìn của Ngài đối với người phụ nữ bị kết án ném đá này.

Lòng thương xót của Thiên Chúa thật phong nhiêu và nó mở ra cho chúng ta một tương lai tràn đầy hy vọng, như là ngôn sứ Isaia đã nói trong bài đọc thứ nhất rằng: “Các ngươi đừng nhớ lại những chuyện ngày xưa, chớ quan tâm về những việc thuở trước”. Chúa Giê-su đã cứu người phụ nữ này khi mạc khải cho chị khuôn mặt của lòng từ bi  và đầy lòng thương xót của Thiên Chúa. “ Tôi không kết án chị”, sự tha thứ đã giải thoát chị khỏi tội lỗi  và quên đi quá khứ đau thương. Chúa Giê-su không kể tội chị nhưng chỉ quan tâm đến tương lai của chị “ chị hãy đi và đừng phạm tội nữa”.

Khi trao cho chị phụ nữ ngoại tình ánh nhìn đầy nhân từ, thì đồng thời Thiên Chúa đã vén mở cái mặt nạ của những kẻ muốn kết án chị. Thực tế thì con người dễ bị kích động thể hiện những lời giận dữ và hành động tàn ác với địch thù khi là thành phần của một đám đông hung dữ, chắc hẳn ai đã từng chứng kiến cảnh những kẻ trộm chó bị đánh chết bởi đám đông thì sẽ cảm nhận rõ điều này. Quang cảnh đám đông xung quanh Chúa Giê-su cũng thế. Họ bừng bừng sát khí, muốn Chúa cùng với họ ném đá chết người phụ nữ đáng thương này. Nhưng Chúa Giê-su đã giúp họ thoát ra khỏi cái khí thế hừng hực đầy tàn nhẫn này khi ngài mời gọi họ nhìn vào bên trong con người họ thay vì chỉ nhìn vào chị phụ nữ ngoại tình mà họ coi như là một phương tiện để gài bẫy và kết án Đức Giê-su. Những con người này sẵn sàng ném đá chết người phụ nữ vì họ bị xúi bẩy bởi những người lãnh đạo có quyền kết án người khác nhưng lại quên lên án chính bản thân mình.

Chúa Giê-su không chỉ vạch mặt sự thánh thiện giả hình của họ mà còn buộc họ phải ngượng ngùng thả rơi những hòn đá khỏi bàn tay  mà im lặng rút lui. Chúa đã vén mở lương tâm của họ và chỉ cho họ thấy lòng họ chẳng tốt đẹp là bao, họ cần phải lấy cái xà ra khỏi mắt họ trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt những người anh em.

Khi im lặng, cúi xuống viết trên đất mà không nhìn ai, Chúa Giê-su dường như để họ tự kết án bản thân và quang cảnh diễn ra khá hài hước khi thánh sử Gioan mô tả rằng “họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi”. Vâng,  họ đã thật sự xấu hổ trước lời chất vấn của Chúa: Ai trong các ông sạch tội, hãy ném đã người phụ nữ này trước đi”, và kết quả là những người lớn tuổi là những người rút lui trước hết.

Câu chuyện trong bài Tin mừng hôm nay là một thông điệp gửi đến cho mỗi chúng ta. Thông điệp chính là:  nếu nơi đâu một người bị ném đá, nơi đâu người ta ném đá giết hại người khác, nơi đâu người ta bôi nhọ thanh danh người khác bởi sự gian dối, nói xấu và vu khống, thì Chúa Giê-su đang mời chúng ta hãy rút lui và đừng bao giờ gia nhập và chung tay cổ võ.

Chúng ta cần xác tín rằng thế giới này sẽ trở nên hoàn thiện hơn nếu con người đổi thay, nếu mỗi chúng ta bắt đầu biến đổi và canh tân chính đời sống của mình.

Những ngày chay thánh là thời gian thuận tiện để mỗi chúng ta biết mở rộng con tim mình để cho Chúa đặt nơi chúng ta một ánh nhìn đầy lòng nhân từ và thương xót của Ngài và nói với chúng ta rằng: Cha cũng không kết án con, con hãy đi và đừng phạm tội nữa. Amen.

Cha nhân hậu

Dụ ngôn người Cha nhân hậu mà cộng đoàn vừa nghe cho  thấy đâu là hình ảnh người Cha mà chúng ta có về Thiên Chúa và đâu là hình ảnh người Cha của Chúa Giê-su mà Ngài chỉ cho chúng ta.

Thật vây, mục đích đầu tiên của dụ ngôn là mạc khải  Thiên Chúa là ai. Một văn sỹ đã nói rằng nếu có phải hủy bỏ tất cả các bản văn Kinh Thánh thì nên giữ lại ít là trang dụ ngôn người Cha nhân hậu bởi vì nhờ đó mà mọi người hiểu được Thiên Chúa là ai: ngài chính là người Cha đầy lòng yêu thương, kiên nhẫn chờ đợi, sẵn sàng mở rộng vòng tay tha thứ và mở tiệc ăn mừng khi đứa con đi hoang trở về.

Dụ ngôn này vẫn mang ý nghĩa sâu sa và hiện thực hơn bao giờ hết trong cuộc sống hôm nay và điều đáng chú ý trong câu chuyện là người con bỏ nhà ra đi.

Khi yêu cầu Cha mình chia phần gia tài, dường như nó muốn nói với Cha nó rằng: “Tôi coi ông như đã chết”. Chính vì thế mà nó chỉ yêu cầu Cha nó chia cho nó phần gia tài mà nó có quyền hưởng sau khi Cha nó chết.

Rời bỏ nhà Cha để sống trong một môi trường tục hóa, tôn thờ hưởng thụ vật chất thì cũng đồng nghĩa với việc  thiếu chỗ cho sự hiện diện của Cha trong cuộc đời của đứa con đi hoang và như thế nó trở nên nô lệ cho các thần tượng của thời đại. Đánh mất niềm tin vì cắt đứt liên lạc với Cha, nó đánh mất chính bản thân mình, đánh mất  địa vị làm con và “ không còn đáng được gọi là con Cha nữa”.

Từ hình ảnh người con đi hoang, chúng ta cũng nhận ra có nhiều cuộc ra đi của nhiều người con Chúa trong gia đình Giáo Hội hôm nay.

Thực tế là tại nhiều nơi trên thế giới và ngay cả xung quanh chúng ta, nhiều người trẻ mang danh là có đạo nhưng lại không sống đạo, chỉ cần quan sát thấy họ không đến nhà thờ, không học giáo lý, không tham dự thánh lễ và lãnh nhận các bí tích cũng đủ thấy đời sống của họ có ở trong nhà của Thiên Chúa hay không.

Hiện tượng thờ ơ này cho thấy nhiều người trẻ càng ngày càng muốn sống xa niềm tin, xa tôn giáo truyền thống của cha ông để khẳng định sự độc lập, sự tự do không bị giới hạn, không bị cản trở. Họ cũng giống như đứa con thứ muốn giành lấy gia tài để trẩy đi phương xa, tách khỏi gia đình, khỏi cộng đoàn. Họ muốn rời bỏ cái bầu khí mà họ cho là buồn tẻ, đơn điệu với những nghi lễ nhàm chán và ràng buộc để phưu lưu trong một thế giới cổ võ sự thành công, tự do và hợp thời đại.

Hậu quả là nhiều cộng đoàn giáo xứ già nua vì chỉ có người già đi thờ đi lễ, thậm chí có nhiều nhà thờ phải đóng cửa. Nhiều cha mẹ trẻ không còn sức sống để truyền lại niềm tin ki-tô giáo cho thế hệ con cháu. Có những cha mẹ bất lực với những đứa con của mình và chỉ biết than phiền trong nước mắt rằng: Chúng tôi không thể khuyên bảo được chúng nó.  Chúng nó chẳng cầu nguyện, chẳng đi thờ đi lễ nữa,  suốt ngày chúng chỉ lo kiếm tiền và vui chơi mà thôi”.

Tuy nhiên Dụ ngôn mà thánh sử Luca vừa thuật lại cho chúng ta lại mang đến cho chúng ta niềm hy vọng lớn lao.

Niềm hy vọng  thứ nhất  cho chúng ta thấy rằng chính khi đứa con bỏ nhà đi hoang thì hình ảnh của người Cha lại càng nổi bật.  Thiên Chúa chính là người Cha đầy lòng thương xót, nên Ngài luôn luôn tôn trọng sự chọn lựa của chúng ta, ngay cả khi sự lựa chọn này gạt bỏ Chúa ra khỏi đời sống. Như trong dụ ngôn, khi đứa con quyết định  bỏ nhà đi hoang, mặc dù Cha nó ước mong nó suy nghĩ lại nhưng ngài không ép buộc. Và khi nó quyết định trở về, Người Cha đã vui mừng khôn xiết, mở tiệc ăn mừng và tất mọi người cũng được mời chia sẻ niềm vui của người Cha. Trong sách Khải Huyền,  có đoạn đã mô tả hình ảnh rất đẹp về sự tôn trọng của Thiên Chúa đối với chúng ta như sau: Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta (Ap 3,20). Chúa chỉ gõ và đứng đợi trước cửa, chứ không bao giờ tự đẩy cửa vào vì Ngài tôn trọng tự do của chúng ta. Cho dù chúng ta có ích kỷ và thiếu tôn trọng thì Chúa vẫn luôn là người Cha đầy tràn tình thương, Ngài vẫn làm cho “mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương”; ngài vẫn trả một đồng cho những người làm công từ giờ thứ nhất và những người làm công vào giờ cuối cùng trong ngày. Ngài kiên nhẫn đợi chờ cho lúa và cỏ lùng cùng mọc lên cho tới vụ gặt. Vâng, ngài vẫn đứng đó chờ đón những đứa con đi hoang trở về.

Niềm hy vọng thứ hai là niềm hy vọng ngày của niềm vui mừng vì đứa con đi hoang trở về. Dù chúng ta có lo lắng vì có nhiều người trẻ “rời bỏ nhà Cha” thì dụ ngôn lại mở ra cho chúng ta cánh cửa của niềm vui vì một ngày kia những anh chị em vì lầm lạc bỏ nhà Cha sẽ trở về, và cả chúng ta nữa, chúng ta cũng trở về trong niềm mong đợi của Cha trên trời. 

Trở về Nhà Cha như người con thứ, đồng thời Cha chúng ta trên trời mời gọi chúng ta đừng cứng lòng như đứa con cả đã phản ứng và chối bỏ người em đi hoang trở về, nhờ đó chúng ta có thể quảng đại đón mừng những anh chị em có lòng hoán cải để tất cả chúng ta cùng xây dựng đời sống gia đình và đời sống cộng đoàn hiệp nhất và yêu thương trong tình thương của Thiên Chúa là Cha mỗi ngày một hơn. Amen.

Kiên nhẫn

Thực tế đời sống cho thấy khi một bất hạnh xẩy đến cho mình  hay cho một ai đó, thường người ta muốn tìm ra thủ phạm để quy án. Bản tính tự nhiên thúc đẩy con người thích kết án kẻ khác hơn là chính mình và an tâm về điều đó. Khi đổ lỗi và kết án người khác người ta tự cho mình ở trong thế giới của  những người tốt hơn họ.

Khi gợi nêu lên hai biến cố nóng hổi có tính thời sự, một do sự tàn ác của Philatô, một do tai nạn lao động, dẫn đến cái chết của mấy chục người Galilêa, người ta cũng muốn Chúa Giê-su kết luận rằng những người bị nạn này là những người tội lỗi nên bị Chúa phạt nhãn tiền. Nghĩ như thế người ta dễ nghĩ mình vô tội, vì còn được bình yên.

Vậy mạc khải của Lời Chúa hôm nay làm sáng tỏ những quan niệm lệch lạc của con người.

Trước hết là quan niệm về một Thiên Chúa thích trừng phạt và là tác giả của những thảm họa xẩy ra trong thế giới loài người. Thực tế thì niềm tin sai lạc này vẫn còn tồn tại trong lòng chúng ta. Cụ thể là mỗi khi có điều bất hạnh xẩy đến, nhiều người vẫn quy cho Thiên Chúa là tác giả, dường như là ngài can thiệp vào mọi chuyện đến nỗi người ta luôn thắc mắc: tôi đã làm gì sai mà Thiên Chúa để điều đó xẩy đến với tôi? Hay Thiên Chúa ở đâu mà lại để cho thảm họa động đất xẩy đến kinh khủng như thế?…

Khi tạo dựng vũ trụ, Thiên Chúa đã trao ban cho con người thế giới này, để quản trị,  làm chủ thiên nhiên và để thiết lập mối tương quan hài hòa với tạo vật. Tuy nhiên tội lỗi đi vào thế giới loài người đã làm mất đi trật tự ban đầu, gây nên những đổ vỡ và phá hủy. Nếu như vẫn còn những thiên tai, vẫn còn những bất hạnh trong đời sống con người và xã hội thì đó không phải là lỗi của Thiên Chúa bởi vì từ thủa ban đầu Thiên Chúa tạo dựng nên mọi sự đều tốt đẹp nên Ngài không phải là nguyên nhân của sự ác được.  Khi quân lính Philato tàn sát những người chống đối, khi 18 người lao động bị tháp Siloe đổ đè chết, thật là bất công khi người ta cho rằng đó là án phạt của Thiên Chúa.  Thực ra đó là kết quả tàn ác do con người gây ra, hay việc thi công ngọn tháp vì không đảm bảo an toàn tối thiểu đã gây ra tai nạn đau thương như thế. Tất nhiên đau khổ và sự ác vẫn là một màu nhiệm mà chúng ta chỉ có thể hiểu được qua Đức Giê-su, ngài đã biến đau khổ và sự ác thành niềm vui phục sinh.

Tiếp theo là quan niệm về án phạt khi cho rằng những người bị nạn là vì họ tội lỗi. Chúa Giê-su đã loại bỏ quan niệm sai lầm này và ngược lại lấy cái chết của những con người bất hạnh này làm chất liệu cho mọi người phải suy nghĩ về thân phận của chính mình, đi ra khỏi sự tự hào và an toàn giả tạo để luôn biết hoán cải tận căn: “nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy”.

Như trong câu chuyện người phụ nữ ngoại tình, Chúa Giê-su luôn luôn gửi tới thông điệp riêng của Ngài: “ai trong các ông sạch tội hãy ném đá người phụ nữ này trước đi”. Hôm nay, Chúa cũng gửi đến cho chúng ta thông điệp như thế. Trước khi kết án người khác, trước khi đổ tội cho Thiên Chúa, chúng ta hãy bắt đầu bằng việc nhìn lại chính bản thân chúng ta như lời Chúa Giê-su đã nói: bạn hãy lấy cái cái xà ra khỏi mắt bạn trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em.

Lời Chúa trong bài Tin mừng hôm nay soi sáng tâm hồn chúng ta như thế, thì sự đáp trả của tất cả chúng ta bây giờ là phải hoán cải  đời sống. Mỗi chúng ta cũng giống như cây vả trong dụ ngôn. Giả như hiện tại chúng ta đang trổ sinh ít hoa trái thì cũng thật là phúc cho chúng ta vì Thiên Chúa luôn kiên nhẫn và rủ lòng xót thương chưa cắt bỏ chúng ta đi mà quăng vào lửa. Thiên Chúa  như ông chủ vườn trong dụ ngôn đã kiên nhẫn chờ đợi tới ba năm để trông mong cây vả sinh trái.

Tuy nhiên điều quan trọng là chúng ta đừng lạm dụng sự kiên nhẫn và lòng thương xót của Thiên Chúa,  nhưng hãy lo biết làm sao cho cuộc đời mình trổ sinh  nhiều công phúc. Tuy Thiên Chúa là đấng có lòng kiên nhẫn nhưng một ngày kia thời gian chờ đợi sẽ kết thúc và chúng ta sẽ phải trả lẻ cho lối sống sa đọa của mình. Có thể cũng vào ngày này năm sau, sẽ có người trong chúng ta không còn nữa. Và có thể đối với một số người năm nay sẽ là năm cuối cùng của cuộc đời.

Như trong dụ ngôn cây vả, câu chuyện dường như chưa có kết luận. Chúng ta không biết điều gì sẽ xẩy đến với cây vả không sinh trái này: bị cắt bỏ hay tiếp tục để nó tồn tại. Số phận chúng ta cũng thế. Tương lai đang mở ra và cái gì xẩy đến với chúng ta đều tùy thuộc vào mỗi chúng ta.

Thiên Chúa đang trao ban cho chúng ta sự kiên nhẫn và tình thương của ngài, không phải là để chúng ta lười biếng, ỉ lại và không lo lắng, nhưng là thổi bừng lên niềm hy vọng và thúc đẩy chúng ta canh tân đời sống ngày từ bây giờ để có thể trổ sinh nhiều hoa trái của ơn phúc.

Mùa Chay là thời gian lý tưởng để chăm sóc cho cây sự sống tăng trưởng trong đời chúng ta. Cầu nguyện, chay tịnh và làm việc bác ái, đó là những phương thế có thể làm cho mảnh đất của đời mình thêm màu mỡ làm cho cây sự sống lớn lên mỗi ngày.

“Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó.  May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi”. Lời dụ ngôn  hôm nay, như là một lời nhắn nhủ chúng ta rằng Chúa Giê-su Ki-tô đang mời gọi tôi, mời gọi anh chị em biết tận dụng thời gian thuận tiện này,  thời gian mà Thiên Chúa ban cho chúng ta như là một quà tặng vô giá để biến đổi cuộc đời mình trong tình thương bao la của Thiên Chúa. Amen.

Biến đổi

Câu chuyện biến hình của Chúa Giê-su được kể vào chúa nhật II mùa chay hàng năm.

Việc Chúa Giê-su đã biến hình trước mắt ba môn đệ là Phêrô, Giacôbê và Gioan là để nhằm tới lợi ích cho các ông trong hành trình theo Chúa. Ba người môn đệ thân tín này cũng đã có mặt trong lúc Chúa cầu nguyện trong vườn Cây Dầu trước khi bị bắt.

Thực tế là ông Phêrô lúc đó cũng muốn dựng lên 3 cái lều, như muốn kéo dài giây phút cảm nghiệm ngất ngây thay vì lại bắt đầu hành trình xuống núi bước theo Chúa Giê-su. Phản ứng nhất thời của Phêrô muốn tận dụng lâu hơn khoảng khắc yên bình trên núi thực ra là một cám dỗ trốn tránh ơn gọi của niềm tin để sống trong cái tầm thường của bản thân. Điều này trái ngược với quyết định của Abraham, khi đó đã 75 tuổi, theo tiếng gọi của Chúa, ông đã rời bỏ quê hương, cha mẹ và nhà cửa để hành trình đến nơi mà Chúa chỉ định cho ông như nội dung bài đọc 1 mà chúng ta vừa nghe.

Trên chặng đường của Mùa Chay thánh, hay trên hành trình của đời sống mỗi ngày, chúng ta cũng cần trải qua những kinh nghiệm của sự kiện biến hình trước những khó khăn và thử thách, để theo Chúa Giê-su trong những lúc vui hay những lúc lao nhọc, và góp phần mình làm biến đổi thế giới xung quanh chúng ta.

Mỗi Thánh lễ chúa nhật có thể là một trạm dừng dễ chịu  với Chúa Giê-su trên núi. Nhưng mỗi lần thánh lễ kết thúc, mỗi chúng ta cần quay lại với cuộc sống thường ngày. Chúa Giê-su ban cho chúng ta sự can đảm cần thiết khi nói với chúng ta cũng như khi xưa nói với các tông đồ rằng: “ hãy trỗi dậy, và đừng sợ”. Hãy tin vào thầy vì thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế. Nhờ đó mà chúng ta yên tâm xuống núi để thực thi ơn gọi và công việc bổn phận của mình.

Hôm nay chúng ta đang sống trong thời đại mà mọi người tìm kiếm những gì là hoàn hảo trong thế giới vật chất với những quảng cáo mang lại hạnh phúc: với những đồ ăn thức uống hảo hạng, các loại thuốc bổ, các loại sơn hào hải vị, các siêu xe, du thuyền, nhà đẹp… Còn Đức Ki-tô lại đề nghị với chúng ta điều hoàn thiện trong tiến trình của những con người sống đức tin. Để đạt được sự hoàn thiện trong đời sống, chúng ta cần làm việc chuyên cần, sống kỷ luật và ý thức. Các sinh viên học sinh, các nghệ nhân, các nhà vô địch thể thao biết rõ điều này. Đó cũng là điều đối với những ai muốn trở nên tốt hơn. Mỗi chúng ta phải xuống núi, trở về với những đòi buộc thường ngày và làm việc không ngơi nghỉ để đáp lại đòi hỏi của thời đại hôm nay.

Khi Chúa gọi, ông Abraham đã 75 tuổi (tuổi về hưu, tuổi nghỉ ngơi)! Ở tuổi này, nhiều người nghĩ là họ đã biết rõ, đã  từng trải qua tất cả những kinh nghiệm có thể và họ không cần chờ đợi gì mới. Abraham lại được ví như “ Gừng càng già thì lại càng cay”, vâng,  Ông đã ra đi, tiến về vùng đất mới mà ông không hề biết, đã đi theo một cách thức sống khác biệt, đi về một hướng xa lạ…Hành trình của ông đầy tràn hy vọng và tin tưởng vào Chúa, đấng đã chỉ đường cho ông.

Không nên phân biệt tuổi tác để hoàn thiện mình, nhằm khám phá ra vùng đất mà Chúa chỉ định cho mỗi chúng ta kính thưa… Tuy vậy lại có quá nhiều người hài lòng về một đời sống tầm thường, phản ứng tiêu cực mỗi khi có cơ hội: kiểu như tôi chỉ như vậy thôi và tôi quá già để thay đổi.

Tác giả Antony de Melo kể câu chuyện rằng: Có một nhà giáo dục nổi tiếng người Pháp đã tâm sự về cuộc đời của ông như sau: Khi còn trẻ, tôi có tinh thần cách mạng và mỗi khi cầu nguyện, tôi luôn cầu xin Chúa một điều là: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi thế giới này”.

Khi đã lớn tuổi và nhận thấy gần quá nửa đời người trôi qua mà tôi không thay đổi được một người nào hết, nên tôi đã thay đổi lời cầu nguyện của tôi như sau: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi những người trong gia đình của con.”

Giờ đây tôi đã già và những ngày còn lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay, nên lời cầu nguyện của tôi lại được thay đổi một lần nữa như sau: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi chính mình con.”

Và ông kết luận: “Nếu tôi biết cầu nguyện như thế này từ ngày còn trẻ thì tôi đã không uổng phí cả cuộc đời.”

Với Thiên Chúa, không quá muộn để thay đổi lối sống, để trở nên tốt hơn. Trong Tin mừng, chúng ta gặp nhiều gương mặt cho thấy họ đã tạo nên câu chuyện biến đổi cho chính cuộc đời mình. Đó là câu chuyện của các người làm công giờ cuối cùng trong ngày, câu chuyện của ông Gia kêu, của tên trộm lành, của bà Maria Madalena, của ông Nicođêmô mà chúng ta đọc trong Tin mừng.

Sự chiêm ngưỡng vinh quang thoáng qua mà Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan có trên núi Thabor đã để lại một kỷ niệm luôn mãi trong đời sống các ông. Và các ông sẽ kể lại trong nhiều dịp sau biến cố phục sinh như tông đồ Phêrô sau này làm chứng rằng: “không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là vì chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Đức Ki-tô”.

Vậy yếu tố nền tảng của bài Tin mừng hôm nay là lời Chúa Cha nói: Đây là Con Ta yêu dấu, các người hãy vâng nghe lời Người”. Hành trình đời sống ki-tô hữu hệ tại ở việc lắng nghe Lời Chúa Giêsu, và để cho Lời Ngài vang vọng trong tâm hồn, nhờ đó mà được biến đổi. Mỗi tín hữu chúng ta là những người đang để mình lắng nghe, bằng việc chú ý nghe Lời Chúa Ki-tô, với sự nghiêm túc và để cho lời Chúa trở nên hiện thực trong đời sống mỗi chúng ta.

Mỗi Chúa nhật, qua bí tích Thánh Thể, chúng ta cùng hội họp  để lắng nghe Lời Chúa Cha vang vọng thêm một lần nữa: Đây là Con Ta yêu dấu, các người hãy vâng nghe Lời Người.  Xin cho Lời Đức Ki-tô thấm nhập vào tâm hồn chúng ta và biến đổi chúng ta nên những người con yếu dấu của Cha trên trời. Amen.

Cha ngươi thấu suốt mọi bí ẩn

Mùa Chay bắt nguồn từ thế kỷ thứ IV với ý nghĩa là thời gian chuẩn bị đón mừng đại lễ Phục Sinh. Trong ý nghĩa này mà Mùa Chay nhắm tới 2 mục tiêu:

  • chuẩn bị cho anh chị em dự tòng đón nhận bí tích thánh tẩy trong đêm vọng phục sinh
  • và là thời gian để các ki-tô hữu làm mới lại lời hứa khi chịu phép thanh tẩy.

Bắt đầu từ thế kỷ thứ 8, việc xức tro mới được đưa vào cử hành phụng vụ như là dấu chỉ thống hối cộng đồng. Đây là biểu tượng đến từ trong Cựu Ước. Khi đó vào đầu Mùa Chay, các ki-tô hữu nhìn nhận những tỗi lỗi mình khi xức tro lên đầu và cách tượng trưng họ bị trục xuất khỏi nhà thờ. Hành vi này trong một ý nghĩa nào đó, là hành vi mà Thiên Chúa đã đuổi ông bà nguyên tổ Adam và Eva ra khỏi vườn địa đàng, sau khi mà hai ông bà đã bất tuân phục Thiên Chúa ăn trái cây Chúa cấm. Nhưng tín hữu này sau một thời gian cầu nguyện, ăn chay và hối cải sẽ được gia nhập lại với cộng đoàn ki-tô hữu.

Vào thời Trung cổ, việc xức tro lại mang một ý nghĩa khác: nó nói lên thân phận mỏng dòn và ngắn ngủi của phận người, như lời ca: “người ơi hãy nhớ người là bụi tro, ngày mai người sẽ trở về bụi tro.” Vậy hình ảnh bụi tro nối kết với sự chết và nấm mồ. Đó cũng là hình ảnh quen thuộc đối với mỗi chúng ta hôm nay.

Ý nghĩa ban đầu của Mùa Chay là thời gian sám hối và đền tội, đã có vào thế kỷ thứ 8, bây giờ vẫn còn hiệu lực. Con người là tro bụi, là hình ảnh của thân phận con người xa cách Thiên Chúa, từ chối mối liên hệ với Ngài và bước vào con đường của sự chết. Thân phận tro bụi là thân phận của những ai đối lập với Chúa, quay lưng lại với Chúa như Adam và Eva, như đứa con bỏ nhà đi hoang.

Tuy nhiên, trong con đường thảm thương của sự xa cách như thế, người ta vẫn có cơ hội quay trở về cội nguồn của mình. Vậy mỗi chúng ta được mời gọi trở về với Chúa vì Ngài luôn giang rộng vòng tay đón tất cả những ai trở về. Trong ý nghĩa đó mà mỗi chúng ta được mời gọi trong Mùa Chay này xây dựng đời sống mình trên ba trụ cột của đời sống thiêng liêng do thái giáo: đó là cầu nguyện, chay tịnh và bố thí.

Cầu nguyện: đối với người do thái thời Chúa Giê-su là ba lần mỗi ngày: 9h00, 12h00 và 15h00. Như trong kinh phụng vụ, vẫn có các giờ kinh theo thời khắc như thế. Cầu nguyện với thời khắc các giờ trong ngày giúp cho cầu nguyện đi vào hoạt động thường ngày. Nó cho phép người ta tiếp xúc đều đặn với Chúa và khám phá ra thánh ý của Ngài. Vậy Mùa chay là thời gian mời gọi chúng ta tái khám phá thói quen cầu nguyện qua những thời khắc trong ngày như thế.

Ăn chay: như cầu nguyện, ăn chay giữ một vị trí trong đời sống thiêng liêng, không phải giúp chúng ta giảm ki-lô-gam, nhưng là để giải phóng chúng ta khỏi bản năng chiếm hữu và thu tích vô ích. Ăn chay cũng nhắc chúng ta rằng sinh ra trần trụi thì ra đi cũng trần trụi chẳng có gì. Chúng ta chẳng mang theo xuống nấm mồ tất cả những của cải mà chúng ta cố gắng thu tích.

Bố thí: là cột trụ thứ ba của đời sống thiêng liêng do thái giáo. Bố thí là một phương thế bắt chước lòng quảng đại của Thiên Chúa, đặc biệt là dành ưu tiên cho những người túng thiếu. Như Thánh Mát-thêu nói trong Tin mừng, chúng ta sẽ bị xét xử về việc chia sẻ cho tha nhân của cải, thời gian và tài năng: khi ta đói các người đã cho ta ăn, khi ta mình trần, các người đã cho mặc, khi ta đau yếu và ở tù các người đã đến viếng thăm ta…Mỗi chúng ta được mời gọi chia sẻ không chỉ tiền bạc, nhưng còn chia sẻ điều quý hơn mà chúng ta có: như tình yêu, lòng bao dung, sự cảm thông và tha thứ.

Trong Kinh thánh, bố thí luôn luôn gắn kết chặt chẽ với ăn chay, như ngôn sứ Isaia nói rõ, chay tịnh “Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục?”

Thời gian mùa chay là thời gian lý tưởng để nuôi dưỡng đức tin bằng nguồn mạch là ba trụ cột thiêng liêng: cầu nguyện, chay tịnh và bố thí.

Trong lịch sử Giáo Hội, Mùa chay luôn được trình bày như là một mùa xuân mới, như một thời kỳ đổi mới. Đó không phải là thời gian của buồn sầu nhưng là của niềm vui sâu sa vì chúng ta được Thiên Chúa đón nhận, tha thứ và yêu thương. Mùa chay mang lại cho chúng ta niềm hy vọng mà nhiều khi niềm hy vọng này bị che lấp bởi bệnh tật, những điều không may mắn, hay những bất hạnh đủ loại. Vâng, mỗi chúng ta hôm nay được mời gọi tái khám phá tình thương của Thiên Chúa trong cuộc đời mình. Và như thế Mùa Chay chính là Mùa Xuân của Chúa gửi đến cho tất cả chúng ta. Amen.

Cây tốt sinh trái tốt

Chúng ta vừa nghe những lời khuyên răn mà Chúa Giêsu gửi đến cho đám đông, bằng các dụ ngôn, khuyến cáo, phản ảnh và tiên báo.

Và ngay lập tức chúng ta bị đánh động bởi cách thức đa dạng bên ngoài cũng như là những chủ đề mà Chúa Giêsu đề cập trong suốt tường thuật. Mỗi đoạn tường thuật lại cho thấy sự khai triển phong phú, nhưng phải chăng không có một lời dạy chung làm nền tảng để mà đón nhận hay sao? Thưa lời dạy chung đó là:

  • Người muốn là chứng nhân Tin mừng và chia sẻ nó cho người khác thì cần phải tự mình nhận biết Tin mừng. Người đó cần phải có ánh sáng soi dẫn, không đi trong tăm tối, để không đẩy người khác vào trong vực sâu tăm tối.
  • Người tuyên bố mình là thầy thì phải có một uy quyền và một kinh nghiệm tương ứng cho phép ông đáp ứng nhu cầu của các môn sinh và những ai khao khát sự thật sẽ đến với ông.

Tuy nhiên, điều tiên là nếu ông không thanh lọc những điều tuyệt vời nhất mà ông có thể nói, những hành động anh hùng nhất và ông có thể thực hiện, thì những điều đó sẽ là vô bổ, thậm chí là đáng bị nguyền rủa. Cũng như là hoa trái của một cây bị sâu, ông sẽ làm hư hỏng những người lắng nghe ông.

Nhưng làm sao để trở thành một cây tốt? Đó là câu hỏi cần được trả lời. Có phải là giống như một loại mô hình mà người ta đã đục đẽo sẵn hay như một tiến trình đã được thiết lập cẩn thận không? Thưa không giống như thế.

Các môn đệ chân chính như chính Chúa Giêsu nói đó là những người biết “ trước hết biết kiếm tìm Nước Trời và sự công chính của Ngài”, có nghĩa là phải từ bỏ mình như là trung tâm và điều khiển hết mọi sự. Các môn đệ này phải trở nên những người bắt chước Chúa, như Chúa nói với chúng ta trong Tin mừng Chúa nhật tuần trước: “ Anh em đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán…Anh em hãy tha thứ để được tha thứ…Anh em hay cho để được cho lại”.

Vậy chủ đề mà chúng ta quan tâm lúc này, là chúng ta hiểu được những lời khuyên bảo của Chúa có giá trị đến mức nào.

Lời chúng ta nói sẽ được dùng để liên lạc với những người khác. Thông qua những lời nói này mà người ta biết chúng ta có thực sự là những chứng nhân của Nước trời hay không, hay chúng ta chỉ là những con vẹt lặp đi lặp lại các nguyên tắc lôi cuốn.

Do đó chính chất lượng của lời nói với sự bình an nội tâm, với tình yêu thương thực sự của mọi người mà lời nói phản ảnh chính chúng ta, và chúng ta sẽ có thể biết chúng ta đã trở nên cây tốt sinh trái tốt, cũng như chúng ta đã để cho Thiên Chúa tự do thanh lọc và làm cho chúng ta trở nên những người con cái Nước Trời, giúp cho anh em vào được Nước Chúa.

Nguyện xin Thiên Chúa hằng sống trong Bí tích Thánh Thể củng cố đức tin của mỗi chúng ta qua Lời của Ngài và làm cho chúng ta biết sống Niềm Vui Nước Trời và sử dụng chúng ta trở nên khí cụ đưa các anh em chúng ta đến với Chúa. Amen.

Yên thương kẻ thù

Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy một hình ảnh tuyệt đẹp về Thiên Chúa, một Thiên Chúa đầy lòng thương xót, dịu hiền, bao dung. Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta khuôn mặt của Chúa Cha, Đấng đã không sai con mình xuống để phán xét nhưng là để tha thứ. Chúa Giêsu đã tha thứ cho Maria Mađalena, cho ông Gia kêu, cho người phụ nữ ngoại tình, cho đứa con hoang đàng, cho người phụ nữ Samaria, cho ông Phêrô, cho tên trộm lành trên thập giá, cho các người làm công lúc cuối ngày, cho những người kết án tử Chúa.

Sau khi mạc khải về tình thương cao vời như thế, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta cũng hãy biết biết hành động như Ngài: “ Anh em hãy có lòng thương xót như Cha trên trời là đấng đầy lòng thương xót”.

Điều làm nên luân lý kitô giáo không phải là yêu, bởi vì luân lý tự nhiên cũng yêu cầu điều đó, nhưng còn ở bậc cao hơn, đó là yêu thương kẻ thù của mình. Một tình yêu ‘tứ hải giai huynh đệ” không miễn trừ cho bất cứ ai. Thực tế là đối với các ki tô hữu chúng ta, không luôn hoàn hảo hơn những người khác. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đề nghị chúng ta khác với mọi người khi mà “yêu thương những người không thương yêu mình”.

Phản ứng đầu tiên đối với đoạn Tin mừng hôm nay có thể sẽ là: “ Nhưng tôi lại không có kẻ thù”. Thực tế trong đời sống có nhiều điều làm cho tôi khó chập nhận được họ. Đó là có nhiều người làm cho tôi lo lắng, làm cho tôi khó chịu… khi mà họ có những lối sống khác trong sinh hoạt hằng ngày như cách ăn mặc, các giải trí hoặc những điều khác. Thế rồi trong đời sống, có không ít người không cùng chủng tộc, không cùng tầng lớp xã hội, không cùng văn hóa, tôn giáo…Nhưng Chúa Giêsu lại yêu cầu chúng ta yêu mến những người chỉ trích mình, những người không cùng quan điểm với mình. Điều quan trọng là đừng bao giờ để xẩy ra tình trạng đối đầu với nhau cũng như là hận thù với nhau.

Trong dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu, Chúa Giêsu dạy phải yêu thương người thân cận nhưng Ngài không cho thấy người bị thương thuộc tầng lớp xã hội nào, thuộc quốc gia nào, thuộc tôn giáo nào…Lòng thương xót và dịu hiền phải được dành cho mọi người không phân biệt bạn hay thù.

Để có thể hành động nhưng là những người con cái Chúa, Chúa hứa ban cho chúng ta một quả tim mới: Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt” (Ed 36, 26 – 28).

Vào ngày 30 tháng 1 năm 1956, mục sư Martin Luther King, Jr. trở về nhà sau một cuộc họp và nhìn thấy nhà của mình đã bị đánh bom trong khi vợ và con của ông đang ở trong đó. Đám đông đầy giận dữ đã tràn ra sân trước đi tìm thủ phạm. Sau một lúc, Tiến sĩ King bước ra và phát biểu trước đám đông. Đây là những gì ông ấy nói: “Chúng tôi không ủng hộ bạo lực. Chúng ta phải yêu kẻ thù của mình. Những gì chúng ta đang làm là đúng đắn, và Chúa sẽ ở với chúng ta.” Thực vậy, với cách hành xử đó, Ông mục sự Martin Luther Kinh đã để cho Chúa ban tặng cho ông một quả tim bằng thịt để biết yêu thương và tha thứ.

Chúng ta cùng đọc lại thánh vịnh trong thánh lễ để gợi lên cho mỗi chúng ta sự cảm nhận sâu sa tình thương của Chúa và mời gọi chúng ta noi gương Chúa: CHÚA là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương, chẳng trách cứ luôn luôn, không oán hờn mãi mãi. Người không cứ tội ta mà xét xử, không trả báo ta xứng với lỗi lầm (Tv 102, 8 – 10).

Nhận biết Chúa

Điều gì đã xẩy ra với Chúa Giê-su tại làng Nagiaret cách đây hơn hai nghìn năm?  Theo tường thuật của bài Tin mừng,  thì điều xảy ra với Chúa Giê-su được sánh ví như một cuộc lỡ hẹn giữa  Ngài với dân làng Nagiaret, bởi vì ngay sau khi loan báo sứ mạng của mình, Chúa Giê-su đã bị dân làng chống đối và xua đuổi.

Thực ra thì những gì xẩy ra tại làng Nagiarét cũng là những điều xẩy ra mỗi ngày trong thế giới hôm nay.

Thiên Chúa vẫn đang ngỏ lời với con người nhưng cũng bị con người từ chối và xua đuổi. Chúng ta có thể nói tội lớn nhất của nhân loại hôm nay là đã từ chối Thiên Chúa.

Vậy thì đâu là phương thế để giải thích hiện tượng đau thương này, khi mà người ta lại có thể đang tâm trục xuất Chúa ra khỏi quê hương bản quán, ra khỏi chính cuộc sống của họ? Tại sao Chúa lại xuất hiện giống như là một kẻ gây rối để rồi người ta phải đuổi Chúa đi như thế?

Câu trả lời là vì con người không nhận biết Thiên Chúa, không sống yêu thương để nhận ra sự hiện diện của Ngài. Vậy thì  chúng ta cần phải học nhận biết Chúa, để mọi nơi mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh của đời sống mỗi người không còn vắng bóng Chúa nữa. Xin đề nghị ba sự nhận biết sau:

  1. Nhận biết thứ nhất, đó là sự nhận biết Thiên Chúa đang hiện diện trong cuộc sống mỗi ngày.

Những người đồng hương với Chúa Giê-su không chấp nhận Chúa vì họ mong chờ những điều kỳ diệu Chúa sẽ làm cho họ như đã làm ở toàn cõi Galilea: “ ông hãy làm những phép lạ ngay tại đây như là những phép lạ mà ông đã làm ở Capharnum”, đó chính là điều họ muốn. Họ chờ đợi Chúa biểu lộ vinh quang và uy quyền của Chúa trước mặt họ…

Thế nhưng, Chúa Giê-su lại đang ở trước họ cách tầm thường như lời người dân Nagiaret bàn tán với nhau: ông ta không phải là con bác thợ mộc Giuse sao? Câu nói tỏ vẻ coi thường Ngài, như muốn nói rằng anh Giê-su này chẳng phải là anh thợ mộc, con ông bà Giuse và Maria mà chúng ta gặp hàng ngày đó sao, có gì lạ đâu mà phải bận tâm chứ!

Tuy nhiên, chính từ cái bình thường của bác thợ mộc Giê-su mà sức mạnh Thánh Thần được biểu lộ.  Và thật thế quyền năng của Thiên Chúa đang thể hiện qua những gì là tầm thường của đời sống mỗi ngày.  Nên chúng ta không ngạc nhiên khi vẫn có nhiều người chẳng coi trọng thánh lễ ngày Chúa nhật, chẳng màng chi tới các bí tích, chẳng để ý gì đến sự hiện diện của Chúa trong đời sống, mặc dù  Chúa vẫn có đó trong nhà ngoài phố, trong các sinh hoạt tại các công sở làm việc, trường học hay tại mỗi gia đình giống như gia đình thánh gia tại Nagiaret khi xưa…và họ chẳng nhận ra Ngài.

  • Nhận biết thứ hai là nhận ra Thiên Chúa là Tình yêu cứu độ

Qua các đoạn văn Tin mừng, chúng ta biết rõ  Thiên Chúa không muốn tỏ hiện ra như là một vị thần của chiến tranh đánh đông dẹp bắc, chiến thắng kẻ xấu bằng sức mạnh vũ lực. Ngài chỉ muốn là một Thiên Chúa của những người nghèo đến cứu vớt những tội nhân. Và như thế Ngài không phải là hình ảnh mà con người trần thế mong đợi tý nào nhưng chương trình của Ngài là như thế.

Thực tế là Chúa không muốn dùng sức mạnh của phép lạ để bắt những người vô thần tin theo Ngài. Nhưng một cách khiêm nhường, ngài đến để đem Tin mừng cho những kẻ nghèo khó, giải phóng những kẻ bị tù đày, chữa lành những người bệnh tật v.v…đó chính là sứ mạng của Chúa Giê-su, là sự tỏ hiện của Ngài.

Chính vì thế mà nếu chúng ta không  nhận ra Ngài trong các hoạt động như vậy thì chúng ta sẽ không thể đón nhận được Chúa và chính chúng ta cũng giống như dân làng Nagiaret khi xưa chối bỏ và xua đuổi Chúa mà thôi.

  • Nhận biết thứ ba là nhận ra Tình yêu Thiên Chúa chính là Tình yêu có tính phổ quát.

Khi yêu cầu Chúa Giê-su: “ Vậy ông hãy làm những phép lạ tại đây”, tức là bà con đồng hương của Chúa Giê-su muốn giới hạn sứ mạng của Ngài, muốn giữ riêng Ngài cho họ.  Nhưng Chúa Giê-su lại hướng tới toàn thể nhân loại. Ngài nói với họ rằng hồng ân của Chúa không chỉ dành riêng cho dân Israel mà thôi nhưng là cho toàn thể thế giới. Để chứng mình tình yêu phổ quát của Thiên Chúa, Ngài đã trưng dẫn cho họ những câu chuyện trong Kinh Thánh cho thấy ân sủng của Thiên Chúa được dành cho cả dân ngoại như bà góa thành Sarepta ở Siđôn đã được ngôn sứ Elia trợ giúp, hay viên sỹ quan ngoại giáo Naaman được Chúa lành bệnh cùi…

Nếu Chúa Giê-su bị chối bỏ ở Nagiaret, chẳng qua là vì những người ở đây chờ đợi những điều lạ lùng và không chấp nhận một Thiên Chúa khiêm nhường và ẩn mình, hay một Thiên Chúa dành cho tất cả mọi người. Họ muốn một Thiên Chúa thỏa mãn ý riêng của họ và chỉ dành riêng cho họ mà thôi.

Ngày xưa có người chối bỏ Chúa và hôm nay cũng vậy, vẫn có nhiều người không đón nhận Chúa chỉ vì Ngài hiện diện quá tầm thường và không thỏa mãn ước vọng ích kỷ của họ để chỉ thuộc về họ.

Chúa Giê – su đã bị xua đuổi và chống đối ở Nagiaret là hình ảnh của những ai lựa chọn Ngài, đi theo Ngài và trở nên môn đệ của Ngài bởi vì chính Ngài đã báo trước cho họ: Tôi tớ không trọng hơn chủ, nếu người ta bách hại thầy, người ta cũng sẽ bách hại chúng con.

Tin mừng hôm nay buộc chúng ta phải tự hỏi cho chính mình rằng:

Nếu tôi không bị ghét bỏ như Chúa Giê-su tại Nagiaret khi xưa, phải chăng là do tôi đã đồng hóa mình với lối sống thế gian để không còn đặt vấn đề cuộc đời mình với Chúa nữa? Nếu tôi theo trào lưu sống tục hóa dễ dãi, thì thật rõ rằng rằng tôi sẽ có rất ít những chồng đối?

Vậy, làm chứng cho sự hiện diện của Chúa là ơn gọi và là sứ mạng của mỗi người tín hữu chúng ta. Xin cho chúng ta luôn can đảm nói điều Chúa muôn nói, và nói nhân danh Chúa, cho dù có phải bị chống đối và xua đuổi. Xin cho chúng ta luôn xác tín rằng : Chúa đầy quyền năng cả nhưng cũng rất giàu lòng xót thương, luôn dẫn dắt chúng con từ những hố sâu của tăm tối đến những nẻo đường chan hoà ánh sáng, tràn đầy hy vọng, nhờ đó, cuộc đời chúng con được tràn đầy niềm vui mừng và bình an trong tình yêu thương của Chúa. Amen.

Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước

Bài Tin mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta biến cố Chúa Giê-su trở về làng Nagiaret, quê hương của Ngài, và với những gì xẩy ra tại hội đường Nagiaret như chúng ta vừa nghe trong bài Tin mừng, Chúa Giê-su dường như đề nghị với mỗi chúng ta về một cách tiếp cận mới vào sự ứng nghiệm của Lời Chúa.  Thay vì hỏi chúng ta đoạn sách vừa nghe có thật hay không thì Chúa lại gợi ý đặt câu hỏi theo cách khác: câu hỏi là “Lời Chúa có thể trở thành hiện thực trong đời sống mỗi ngày của chúng ta hay không?”

Chúng ta thấy, sau khi đọc đoạn sách thánh của ngôn sứ Isaia, Chúa Giê-su đã bỏ sách xuống và loan báo với mọi người cách long trọng: hôm nay ứng nghiệm lời các người vừa nghe.

Như thế là Chúa Giê-su đã làm cho lời sách thánh trở nên sống động và hiện tại hóa. Nếu chúng ta đọc đoạn tường thuật xẩy ra trước biến cố Chúa trở về Nagiaret, chúng ta đã thấy thánh sử Luca viết về danh tiếng của Chúa, ai nấy đều kính nể khi nghe Chúa giảng dạy. Điều này chứng tỏ là Chúa Giê-su đã thực thi sứ mạng cứu độ bằng lời giảng dạy đi kèm với hành động biểu lộ tình thương qua việc trừ quỷ, chữa lành bệnh tật…hơn thế nữa Chúa đã đi đến mọi ngõ ngách, ưu tiên gặp gỡ và tiếp xúc với mọi hạng người, đặc biệt ưu tiên những người cùng khổ để chữa lành và làm cho kẻ mù lòa được sáng mắt, cũng như loan báo hồng ân cứu độ. Tất cả những hành động nghĩa hiệp đó chứng minh cho lời của Chúa sau khi đọc đoạn sách thánh của ngôn sứ Isaia: hôm nay ứng nghiệm lời anh chị em vừa nghe.

Qua lời Chúa hôm nay, dường như Chúa Giê-su tiếp tục chất vấn chúng ta là: đoạn Tin mừng này có trở nên ứng nghiệm trong đời sống chúng ta mỗi ngày hay không?  Trong một thế giới đầy rẫy những hoài nghi và bất toàn hôm nay, có nhiều nẻo đường trong đời sống giúp cho Lời Chúa trở nên sống động và hiện thực trong đời sống chúng ta.

Cụ thể là, nếu chúng ta sống tinh thần của bài Tin mừng về người phụ nữ ngoại tình mà nghiêm túc thực hiện lời Chúa Giê-su : « nếu ai trong anh em sạch tội thì hãy ném đá người phụ nữ này trước đi », thì chúng ta sẽ biết tránh xa những người đang triệt hạ danh tiếng người khác bằng những lời nói xấu và vu khống. Nếu sau khi đọc dụ ngôn người con hoang đàng mà chúng ta  quyết định biến đổi con tim chai đá của chúng ta thành con tim bằng thịt  thì chúng ta đã đáp trả lời mời gọi của Chúa Cha đi vào dự tiệc cưới nước trời bằng việc hòa giải với những anh chị em đang có những bất hòa với mình.  Nếu chúng ta hiện tại hóa trong đời sống câu chuyện Chúa Giê-su chữa lành người phong cùi  và giúp anh gia nhập lại vào cộng đồng xã hội,  thì chúng ta sẽ không quản ngại đón tiếp và gần gũi với những người thuộc các thành phần bên lề xã hội.  Vâng, chúng ta hãy bắt chước Cha trên trời, người đã trao ban con một của mình không phải để luận phạt nhưng là để cứu rỗi.

Rất thường xuyên trong thánh lễ ngày Chúa nhật, chúng ta nghe những bài đọc sách thánh cách thờ ơ và uể oải, đôi khi nghe tại này lại lọt qua tai kia, là bởi vì có thể chúng ta nghĩ rằng trong sách thánh toàn là những chuyện cổ lỗ sỹ của người xưa cách đây hai hoặc ba nghìn năm, chẳng ăn nhập gì tới cuộc sống hôm nay thì quả là Lời Chúa đang rơi trên đá sỏi chỉ để cho chim trời đến ăn mất mà thôi.

Lời Chúa là « một nguồn nước hằng sống không bao giờ cạn », và những ai đã một lần uống thứ nước này thì  sẽ không bao giờ khát nữa.

Sự ứng nghiệm Lời Kinh Thánh của Chúa Giê-su trong hội đường Do thái khi xưa tại làng Nagiaret luôn  mời gọi chúng ta hôm nay hãy biết làm cho Lời Chúa trở nên sống động và hiện thực trong cuộc sống mỗi ngày. Lời Chúa có là sức sống, là ánh sáng, là niềm vui mừng và hy vọng là hạnh phúc cho đời sống chúng ta hay không là tùy thuộc vào sự quảng đại của mỗi người chúng ta. Amen.

Scroll to Top