Đời sống đức tin

Người bảo gì, cứ làm theo

Phép lạ Chúa Giê-su làm cho 6 chum nước với khoảng 100 lít mỗi chum biến thành rượu ngon đã làm cho đôi tân lang và mọi người dự tiệc tại Ca-na tràn đầy niềm vui và hạnh phúc.

Với phép lạ đầu tiên của Chúa Giê-su tại tiệc cưới Cana,  Chúa Giê-su đã cho thấy sứ mạng của Ngài, một sứ mạng mang tới niềm vui, có sức mạnh biến cảnh sắc u buồn trong cuộc sống con người thành niềm vui tràn đầy.  Niềm vui do Chúa Giê-su mang lại là niềm vui cứu độ, niềm vui giải thoát con người.

Thánh Gioan viết câu chuyện này vào khoảng năm 70, lúc đó các ki-tô hữu đầu tiên thường xuyên hội họp trong ngày Chúa nhật là ngày của Chúa để chia sẻ bàn tiệc Thánh Thể. Vậy tiệc cưới Cana được thánh Gioan viết ra thấm đượm ý nghĩa thiêng liêng và thần học. Quả vậy trong câu chuyện tiệc cưới, hai nhân vật chính là cô dâu và chàng rể không được nêu lên từ đầu nhưng chỉ xuất hiện bất ngờ vào cuối câu chuyện. Điều đó cho thấy mối quan tâm của thánh sử Gioan ở đây chính là làm nổi bật vai trò của Chúa Giê-su, ngài chính là người mang đến thứ rượu mới. Rượu mới là hình ảnh của giao ước mới được thực hiện bởi Đức Giêsu, như lời của ngôn sứ Isaia trong cựu ước, loan báo về Tin mừng cứu độ như là một yến tiệc: Ngày ấy, trên núi này, ĐỨC CHÚA các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế.(Isaia 25,6)

Suy niệm về câu chuyện tiệc cưới tại Ca-na làm cho chúng ta nghĩ tới các gia đình, vì mỗi gia đình đều khởi đầu bằng tiệc cưới.  Cuộc sống gia đình thường  bắt đầu với tuần trăng mặt tràn trề niềm vui và hạnh phúc. Tuy nhiên thời gian qua đi, mật ngọt của tình yêu sẽ dần phai nhạt và thay vào đó thường là vị đắng của những cãi vã, xung đột và đổ vỡ.  Thiếu rượu trong tiệc cưới là biểu tượng cho những thử thách sâu sa này. Thực tế trong cuộc sống, có biết bao nhiêu đôi hôn nhân ly tán mà xem chừng không có giải pháp để hàn gắn bởi vì họ thiếu thứ rượu mà Chúa Giê-su muốn trao ban họ.

Bài Tin mừng hôm nay đề ra cho chúng ta giải pháp cho những khó khăn cho các gia đình. Giải pháp hữu hiệu là mời Chúa Giê-su đến như trong tiệc cưới Ca-na để Ngài biến thứ nước nhạt nhẽo của đời sống thường ngày thành một tình yêu mới, đặt nền tảng bằng những cảm thông, bao dung tha thứ và hiệp nhất trong đời sống gia đình.

Trong câu chuyện tiệc cưới Ca-na, Đức Mẹ trở nên gương mẫu cho niềm tin của mỗi chúng ta. Mẹ thực sự là một tín hữu hoàn toàn tin tưởng nơi Đức Giê-su qua lời của Mẹ nói với các gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ làm theo”. Câu nói cỏ vẻ bình thường nhưng đây lại là một câu châm ngôn sống mà có lẽ Mẹ Maria đã lấy trong Cứu Ước khi toàn xứ Ai-cập bị đói và dân chúng kêu lên Pha-ra-ô xin bánh ăn. Pha-ra-ô nói với mọi người Ai-cập: “Cứ đến với ông Giu-se; ông bảo gì, các ngươi hãy làm theo”. Nhờ việc vâng nghe và làm theo Giuse mà toàn dân Ai-cập không bị chết đói.  Cũng thế tại tiệc cưới Ca-na, nhờ vâng nghe và làm theo Chúa Giê-su mà tiệc cưới tràn trề niềm vui vì rượu ngon.

Bí tích Thánh Thể mà chúng ta cử hành mỗi Chúa nhật nhắc chúng ta nhớ tới tiệc cưới Ca-na về sự hiện diện và tỏ mình ra của Chúa qua phép lạ hóa nước thành rượu ngon. Nước nhạt nhẽo của cuộc sống chúng ta sẽ được biến đổi thành rượu của niềm vui hoan lạc và bình an.

Nếu chúng ta sống khép kín trong cái tôi của mình thì cuộc sống chúng ta sẽ trở nên như gánh nặng bởi sự nhạt nhẽo và vô vị, nhưng nếu có Chúa Giê-su đồng hành, ngài sẽ biến đổi cuộc sống chúng ta như nước biến thành rượu ngon và hương vị ngọt ngào của cuộc sống sẽ luôn ở với chúng ta.

Thiên Chúa chúng ta không phải là Thiên Chúa xa vời và trừu tượng được vẽ lên bởi óc tưởng tượng con người nhưng Ngài chính là một con người, một Thiên  Chúa làm người và ở giữa chúng ta, một Thiên Chúa luôn muốn trao tặng cho chúng ta thứ rượu mới của  niềm vui và bình an.

Ngài đã là rượu mới cho các mục đồng tại Bê-lem, cho các đạo sỹ, cho bà Maria Madalena, cho ông Gia-kêu, cho các người thu thuế và gái điếm, cho người đàn bà ngoại tình,  cho cả tông đồ Phê-rô yếu hèn và  biết bao nhiêu người mà sau khi đã gặp Ngài đều được biến đổi con tim.

Dù không gặp Chúa hiện diện cách nhãn tiền như tại tiệc cưới Cana, hay như mọi người thời Chúa Giê-su khi xưa, nhưng chúng ta hôm nay vẫn gặp được Ngài cách thiêng liêng trong đức tin như gặp một người Bạn, một người Anh, một người Thầy và trên tất cả là một Đấng Cứu độ.

Lời mời gọi của Ngài vẫn vang lên lúc nhẹ nhàng lúc mãnh liệt tha thiết qua Lời Chúa mỗi ngày, qua các bí tích mà chúng ta lãnh nhận, qua những giây phút cầu nguyện bên Chúa, và qua biết bao những biến cố vui buồn trong cuộc sống của chúng ta.

Như thế, hành trình sống đạo của chúng ta hơn bao giờ hết cần có một niềm tin lớn lao, để nhờ đó hành trình đời người là một hành trình của niềm vui vì được biến đổi qua những cuộc gặp gỡ thân tình với Chúa Giê-su.

Nhà văn hào Pháp có tên là Paul Claudel sinh thời vào cuối thế kỷ XIX tới nửa đầu thế kỷ XX đã kinh nghiệm về cuộc gặp gỡ kỳ diệu trong cuộc đời ông khi vào một buổi chiều kia rảnh rỗi, ông rảo bước dạo chơi và tình cờ đi ngang một nhà thờ. Từ trong nhà thờ vang ra tiếng hát thánh ca thanh thoát, siêu phàm. Tiếng Thánh ca ấy đã thu hút ông buớc vào. Ông cảm xúc và ở lại cho đến hết buổi lễ. Và từ chiều hôm đó trở đi, Paul Claudel đã trở thành một tín hữu sốt sắng kiên trì trong Đức Tin. Ông viết nhiều quyển sách truyền bá Đức tin và ca tụng Thiên Chúa, ca tụng Đức Mẹ.

Mọi sự bắt đầu cuộc đời Paul Claudel vào một buổi chiều đáng nhớ để rồi Claudel bước vào một đời sống mới, một hành trình mới để sống chứng tá của niềm tin.

Trong tuần này, chúng ta cầu nguyện cho sự hiệp nhất các ki tô hữu. Trong khi cầu nguyện chung với nhau cho sự hiệp nhất cụ thể trong thánh lễ chúa nhật hôm nay, chúng ta học được bài học hữu ích đó là mời Chúa đến để gặp được Chúa, gặp gỡ nhau để  nhận ra được những người xung quanh là  anh chị em cùng một cha chung trên trời.

Cũng như gia chủ trong tiệc cưới tại Cana đã mời Chúa đến, nhờ đó tiệc cưới đầy tràn niềm vui,  xin cho mỗi chúng ta có một niềm tin vững mạnh để đời sống chúng con luôn có Chúa hiện diện và nhờ đó chúng ta sẽ là đôi tay, là tiếng nói, là trái tim của Chúa để trở nên chứng ta sống động của niềm vui cứu độ mà chính Chúa Giê-su ban tặng. Amen.

Người tôi trung

Chúa nhật tuần trước, chúng ta mừng lễ Hiển Linh, lễ Chúa Giê-su tỏ mình cho dân ngoại qua hình ảnh của ba nhà đạo sỹ tới Bêlem. Hôm nay, qua biến cố chịu phép rửa tại sông Giordan, ngài tiếp tục tỏ mình ra không phải cho lương dân nhưng là cho Gioan tẩy giả và những người đang đi theo lời mời gọi của vị ngôn sứ.

Sự tỏ mình này được biểu lộ qua việc Chúa Cha công nhận Đức Giê-su là con yêu dấu của ngài, tức là Thiên Chúa tuyển chọn Ngài làm Messia, Đấng cứu thế.  

Hôm nay, chúng ta cùng suy gẫm về sự tuyển chọn cao trọng  này của Đức Giê-su  để rồi áp dụng vào ơn gọi tuyển chọn của mỗi người chúng ta.

Trước hết, trong bài đọc thứ nhất, ngôn sứ Isaia đã được Thiên Chúa vén mở một cách rõ ràng sự tuyển chọn Người tôi trung của Ngài. Đây là Người được Thiên Chúa yêu mến vì luôn trung thành với Thiên Chúa để hòan thành sứ vụ Cứu Độ của Ngài. Cách thức chu toàn sứ vụ Thiên Chúa trao cũng rất đặc biệt và khác hẳn với cách thức của con người: không ‘đao to búa lớn” không lớn tiếng, không thiên vị ai; không dùng bạo lực để tiêu diệt nhưng dùng tình thương để chinh phục; không yếu hèn để chịu khuất phục, nhưng trung thành để thiết lập công lý bằng sự thật.

Còn trong bài đọc II cho thấy hình ảnh Người tôi trung của Thiên Chúa được tiên tri loan báo đã trở nên hiện thực nơi Đức Ki-tô, người được tuyển chọn. Thánh Phêrô mời gọi các tín hữu nhìn lại cuộc đời của Đức Kitô để học hỏi cách chu tòan sứ vụ của Ngài trong Kế-họach Cứu Độ của Thiên Chúa: Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người.

Những phẩm chất của Đức Ki-tô, đấng được Thiên Chúa tuyển chọn mà hai bài đọc kinh thánh cho biết giúp chúng ta hiểu rõ hơn biến cố Đức Giê-su chịu phép rửa tại sông Giordan mà bài Tin mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta. Thánh Luca đã tường thuật biến cố này như là một nghi lễ tấn phong: đó là đang khi thánh Gioan tẩy giả dìm Đức Giê-su trong dòng nước sông Giordan thì ở phía trên trời mở ra, có Chúa Thánh Thần lấy hình chim bồ câu đáp xuống, và có tiếng Chúa Cha từ trời cao long trọng tuyên bố: con là con yếu dấu của Cha, con đẹp lòng Cha. Nếu như theo quan niệm của người Do thái khi một vị vua trong ngày tấn phong được trở thành con Thiên Chúa, tức là Thiên Tử, thì lời của Chúa Cha công nhận Đức Giê-su làm con yêu dấu của Ngài là một sự tấn phong Ngài làm Messia, Đấng Cứu Thế và Ngài đã chu toàn trọn vẹn sứ mạng cao quý này.

Việc tuyển chọn của Đức Giê-su qua biến cố lãnh nhận phép rửa ở sông Giordan được coi như là một thời điểm quyết định cho cuộc đời của Chúa Giê-su, bởi vì trước đó Ngài đã sống một cuộc sống thầm lặng trong vai trò của một bác thợ mộc suốt 30 năm tại làng quê Nagiaret. Nhưng khi nhận lãnh phép rửa, Ngài nhận được sự tuyển chọn từ trời cao mời gọi Ngài bước vào sứ mạng mà Ngài sẽ thực hiện. Một sự biến đổi trong cuộc đời ngài bắt đầu từ đó. Ngài từ bỏ nếp sống cũ, bắt đầu cuộc sống mới qua việc chuyên lo rao giảng Tin mừng và thi hành quyền năng cứu giúp con người.

Ngày lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa mời là dịp để chúng ta suy gẫm về bí tích rửa tội mà chúng ta đã lãnh nhận.

Bí tích rửa tội là một sự giải phóng: giải phóng khỏi đời sống nô lệ cho tội lỗi, cho các thần tượng tiền của vật chất và lạc thú. Bí tích rửa tội mời gọi chúng ta chỉ tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất và giải phóng chúng ta khỏi những nỗi ám ảnh nặng nề của các thần tượng khác.

Hồng ân bí tích thánh tẩy mà chúng ta lãnh nhận, đang tiếp tục được đổi mới nhờ vào việc chúng ta lắng nghe và thực hành Lời Chúa, vào việc tham dự thánh lễ chúa nhật, những gặp gỡ trong tình hiệp thông đức tin, và đặc biệt là đời sống cầu nguyện hằng ngày…của mỗi chúng ta.

Xác tín được như thế thì cách cụ thể là mỗi tín hữu hãy biết làm mới lại sự tuyển chọn mà Thiên Chúa trao ban bằng cách trở nên những người con yếu dấu của Chúa bằng một đời sống chứng tá, đem tình yêu của Chúa đến cho mọi người, đặc biệt là những người cùng khổ, những người bị bỏ rơi, bị khinh miệt  như mục sư Martin Luther King,  một nhà hoạt động vì nhân quyền nổi tiếng nước Mỹ đã nói: “hãy yêu thương mọi người đừng vì thiện cảm; cũng không vì cách sống của họ dễ mến, dễ thương. Nhưng vì chính Thiên Chúa ở trong họ”.

Điều này thật khó vì thực tế ta thường yêu thương những người dễ mến dễ thương. Nhưng ta cũng có thể yêu thương được cả những người mà mình không có thiện cảm hay không dễ thương dễ mến nếu chúng ta luôn biết cảm nghiệm được chứng từ của Martin Luther qua chính cuộc đời của ông, đó là biết nhận ra “ chính Thiên Chúa ở trong họ” .

Hơn tất cả, mẫu gương của Chúa Giê-su hôm nay đang thôi thúc chúng ta diễn tả lòng thương xót Chúa, vì chính Chúa đã xếp hàng chung với những kẻ khốn khổ để chờ được Gioan làm phép rửa. Chính Chúa đã quên thân phận mình để hòa mình với những con người khốn khổ. Chính Chúa đã không tách riêng ra, không đứng bên lề, không chờ những thân phận yếu đuối và tội lỗi đến với mình mà đích thân tìm đến với họ và ở giữa họ. Chính vì lẽ đó mà Chúa Cha đã tuyên phong Ngài: Đây là con yêu dấu đẹp lòng Cha mọi đàng.

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa đã hạ mình để đồng hành với thân phận mỏng dòn, yếu đuối và tội lỗi của chúng con, xin cho chúng con cũng biết đem tình yêu cao cả của Chúa đến cho anh chị em xung quanh chúng con. Amen.

Ánh sao dẫn đường

Theo thống kê của Toà Thánh, dân số Công giáo toàn cầu gia tăng hàng năm với tỷ lệ 17,49%. Như vậy, mỗi năm trên thế giới có khoảng 2,5 triệu người lớn và hơn 14 triệu trẻ em được rửa tội … Như vậy số tín hữu công giáo trên toàn thế giới hiện nay là 1 tỷ 200 triệu.

Thật là ý nghĩa trong ngày lễ Hiển Linh khi chúng ta được biết con số gia tăng không nhiều nhưng thật lạc quan về những người tin theo Đức Ki-tô mỗi ngày một tăng lên trên toàn thế giới.

Từ ngữ « Hiển Linh » cho thấy Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho muôn dân qua một hài nhi bé nhỏ là Đức Giê-su Hài Đồng. Ba vị Vua với các màu da khác nhau đại diện cho các dân tộc đã được đón nhận ơn cứu độ.

Đức Giêsu tỏ hiện như là Ánh sáng đến trần gian. Và bài Tin mừng do thánh Mattheu thuật lại đã cho thấy điều đó. Các “đạo sĩ” là những nhà trí thức ở vùng Babylon phía Đông xứ Palestine. Do niềm tin rằng ngôi sao lạ là điềm báo một Đấng cứu tinh đã sinh ra, họ đã đi theo ánh sao và tìm đến với Hài nhi Giêsu. Như thế, qua ánh sao lạ, Chúa Hài nhi đã tỏ mình ra cho đại diện lương dân.

Sự tỏ hiện của Thiên Chúa không chỉ dừng lại nơi ba vị vua, hay nơi các tông đồ, hay dừng lại ở một thời điểm nào đó nhưng vẫn tiếp tục ngay tại hôm nay.  Các lớp giáo lý dự tòng tại các giáo xứ, cách riêng tại giáo xứ Chính Tòa mở ra hằng năm đã cho thấy ánh sao của Chúa vẫn đang tiếp tục tỏ hiện nơi các tâm hồn trẻ khao khát đi tìm chân lý bằng nhiều cách thức khác nhau. Có thể là xuất phát từ đôi bạn yêu nhau, hay có người bạn công giáo, người thân là gia đình công giáo, hay chỉ là sự tình cờ đi thăm nhà thờ trong một dịp lễ… tựu chung lại có nhiều ánh sao mà Chúa dùng để soi sáng những tâm hồn thiện tâm hôm nay, chính vì thế mà tất cả chúng ta được mời gọi trở nên ánh sao của Chúa, nhưng làm sao để là ánh sao luôn sáng tỏ trong hoàn cảnh sống của mỗi người chúng ta?

Tôi có đọc một bài phóng sự về những tâm sự của các tân tòng như sau: Trong những câu chuyện vào đạo của các tân tòng mà chúng tôi gặp gỡ, mỗi người mang một nét thú vị. Có trường hợp đến với đạo vì lòng yêu mến bạn đời của mình, muốn cùng nhau dựng xây đời sống hôn nhân trong đức tin Kitô giáo. Cũng có nhiều trường hợp đến với Chúa bằng chính những trải nghiệm thực tế, rồi đức tin được đánh động. Tuy nhiên, con đường đến với Công giáo của các tân tòng dường như chung một điểm là có sự hỗ trợ của người thân bên cạnh. “Rất may mắn cho tôi vì Chúa ban cho người bạn yêu thương mình thật sự. Tôi cảm nhận điều này rất rõ trên từng phương diện. Ví như chuyện học giáo lý, anh lo lắng cho tôi khi chưa thuộc kinh, quên tới quên lui những điều răn, anh ấy chỉ cách cho tôi nhớ kinh mau hơn, luôn ở bên để giúp tôi cách này cách khác”, chị Ngọc Hân tâm sự. Tương tự, chị Nguyễn Thị Minh Trang (28 tuổi, TPHCM) bày tỏ niềm vui vì có chỗ dựa vững chắc là bạn trai của mình: “Ban đầu, tôi đi học giáo lý nhưng thú thật chẳng hiểu gì nhiều. Nhờ có anh hướng dẫn, cắt nghĩa thêm mà về sau tôi càng thích hơn. Gần gũi với anh và các bạn bè, anh chị là tín hữu Công giáo, tôi nhận ra mọi người sống chan hòa, yêu thương. Rồi từ từ, tôi đã chủ động nhiều trong việc đi lễ, học kinh. Tôi thích nghe thánh ca lắm, những ca khúc làm mình cảm thấy nhẹ nhàng và bình an”.

Có được sự dìu dắt từ người thân trong việc học hỏi đạo là điều thuận lợi. Có thể nói, chính cách sống, cách nghĩ của những tín hữu đạo gốc ảnh hưởng ít nhiều đến người đạo mới. Ðối với các tân tòng, càng tác động đặc biệt. Bạn sinh viên Thanh Ngân ở Tiền Giang khi chuyện trò đã không ngần ngại chia sẻ chính lối sống đạo đức của người bà trong họ hàng mình đánh động mạnh mẽ và khiến bạn xin gia nhập đạo. Bạn cho biết, tuy lớn lên trong gia đình mà cha mẹ không theo Công giáo nhưng trong họ hàng, người bà và một số cô chú khác giữ đạo rất tốt. Họ sống yêu thương, đùm bọc. Vì thế, được sự cho phép của gia đình, bạn đã xác quyết tin vâng.

Những tâm sự trên cho thấy ảnh hưởng hiệu quả làm cho các anh chị em lương dân theo đạo là chứng tá đức tin của người theo đạo. Họ chính  là ánh sáng đức tin đã tỏa sáng ngay trong hoàn cảnh sống của mình. Họ đã là “ánh sáng thế gian” như lời Đức Giê-su mời gọi (x. Mt.5,14-16).

Những câu chuyện trên như một lời nhắc nhở mỗi người chúng ta hôm nay hãy ý thức về ơn ban cao quý là đức tin mà Thiên Chúa ban tặng cho mình để rồi quyết tâm biến đổi đời mình mỗi ngày một hơn để trở nên  ánh sao sáng của Chúa trong đời sống mỗi ngày. Amen. 

Lạy Chúa, xin giúp chúng con nhận ra những ánh sao Chúa gởi đến trong cuộc đời chúng con. Xin biến chúng con thành những ánh sao ngày càng rực sáng lan tỏa khắp thế giới. Amen.

Gia đình thánh

Thật là ý nghĩa khi chúng ta mừng lễ Thánh Gia ngay sau lễ Giáng Sinh, vì đây là dịp thuận tiện để chúng ta cùng nhau chia sẻ về tình yêu hôn nhân về giá trị của đời sống gia đình theo gương mẫu của gia đình thánh gia.

Nhìn vào gia đình Na-gia-rét khi xưa, ta thấy gia đình này cũng giống như phần lớn các gia đình trần thế khác:

Thứ nhất, gia đình Nadarét là một gia đình nghèo: Trong Tin Mừng ta tìm thấy hai dấu chỉ tình trạng nghèo của các ngài : Khi đến Bêlem, Thánh Gia không đủ tiền để thuê một chỗ trọ trong hàng quán nên phải ở tạm trong hang bò lừa. Khi đem con đầu lòng dâng trong đền thờ cùng với lễ vật theo luật định, họ chỉ dâng một đôi chim câu, là thứ lễ vật của người nghèo.

Thứ hai, gia đình Nadarét cũng phải sinh nhai bằng chính sức lao động của mình. Thánh Giu-se làm nghề thợ mộc, còn Đức Mẹ chắc cũng giống như các bà mẹ thời đó làm nghề đan lát, làm bánh, lo việc nội trợ gia đình, còn Chúa Giê-su thì giúp cha mình là Giu-se làm người thợ suốt ba mươi năm.

Thứ ba, gia đình Na-gia-rét cũng có cuộc sống bình thường như bao gia đình khác trong làng Na-gia-rét khi xưa, như trong bài Tin mừng thuật lại, thánh Giu-se, Đức Mẹ Maria và Chúa Giê-su cùng hòa mình vào đoàn hành hương, đi bộ đồng hành với họ để viếng Đền thờ Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ Vượt qua theo luật định. 

Tuy nhiên, Gia đình Na-gia-rét lại là một gia đình  thánh vì xét về bản chất thì mọi thành viên trong gia đình đều là thánh, còn xét về phương diện nhân loại thì mỗi thành viên đã sống một đời sống thánh thiện để trở nên những con người thánh, mặc dù Gia đình Thánh Gia cũng đã trải qua những thử thách bởi cuộc sống khó khăn, bởi những va chạm thường ngày trong đời sống gia đình, trong mối tương quan với xã hội. Ví dụ như trong bài Tin mừng tường thuật về việc Chúa Giê-su ở lại Đền thờ, và hai ông bà Giu-se và Maria phải mất ba ngày tất tả đi tìm con…điều này có thể làm cho hai ngài lo lằng buồn phiền hay bực bội…  tuy nhiên hai ông bà vẫn bình tĩnh và xử lý hoàn cảnh cách tế nhị và nhẹ nhàng…Và Chúa Giê-su sau khi đưa ra lý do giải thích sứ mạng mà Chúa Cha trao phó thì cũng đã vâng phục hai ông bà Giu-se và Maria trở về Nagiaret để  “ngày càng khôn lớn và thêm ơn nghĩa trước mặt Thiên Chúa và người ta”. 

Gia đình Thánh Gia trở nên gương mẫu cho mọi gia đình là nhờ một bí kíp đơn giản nhưng rất quan trọng , đó là mọi thành viên luôn tìm biết và làm theo ý Chúa. Thánh Giuse, Đức Maria và Đức Giê-su trọng cuộc đời ở trần thế đều luôn biết lắng nghe và đem Lời Chúa ra thực hành: cụ thể là đối với thánh Giuse thì việc vâng theo lời thiên sứ báo mộng là một khởi đầu cho ơn gọi thi hành trọn vẹn vai trò của người cha gương mẫu dù có lúc ngài đã có ý định ‘đào tẩu” âm thầm, hay với hai tiếng xin vâng của Đức Mẹ, thay vì quyết giữ ý định sống đời đồng trinh theo nguyện ước, mẹ đã sống trong vai trò và bổn phận của mẹ đấng cứu thế, còn Đức Giê-su nhờ vào việc luôn vâng theo ý Chúa Cha mà đã chấp nhận giới hạn mình trong vai trò của con ngoan trong một gia đình để thi hành trọn vẹn sứ mạng cứu độ.

Nếu hôm nay nhìn lên Gia đình Na-gia-rét để chiêm ngưỡng một gia đình thánh, thì giờ phút này cũng cần  nhìn qua các gia đình nhân loại và gia đình riêng của mình để mỗi chúng ta noi gương và bắt chước. 

Hơn bao giờ hết, các gia đình chúng ta phải nhìn lên Thánh gia thất để làm cho gia đình mình trở thành một gia đình đạo đức, yêu thương và chăm lo cho nhau.

Như vậy, mỗi gia đình hãy xây dựng gia đình mình trở thành một gia đình biết chuyên chăm cầu nguyện, chuyên cần đọc và suy niệm Lời Chúa mỗi ngày,  siêng năng lãnh nhận các bí tích  và lắng nghe thực hành ý chúa qua chính các biến cố xẩy ra mỗi ngày ngay tại gia đình, tại môi trường mà chúng ta sinh sống.

Thánh Luca đã ghi lại hình ảnh rất đẹp của Thánh Gia như sau : “Đức Giêsu đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nadaret và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Đức Giêsu ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến” (Lc.2,51-52).

Hình ảnh đẹp này giúp cho mỗi gia đình hãy tạ ơn Chúa vì hồng ân Chúa ban cho mỗi người, và tạ ơn Chúa vì những món quà là các thành viên trong gia đình mà Chúa đã ban tặng.

Vậy, mỗi thành viên trong gia đình hãy đón nhận nhau như là quà tặng của Thiên Chúa để biết trân trọng đối với nhau và nhất là trân trọng với Đấng đã trao tặng chính mình. Hãy nhìn vào gia đình Thánh gia để học ở nơi đó tấm gương của người cha người mẹ, người con thánh, mà biết vun đắp cho gia đình mình trở nên một gia đình thánh thiện. Amen.

Lạy thầy, chúng tôi phải làm gì?

Mùa vọng trước hết là thời gian để hoán cải, chính vì thế mà vị chủ tế thánh lễ mang áo lễ màu tím. Mùa vọng cũng là thời gian chuẩn bị lễ Giáng sinh, ngày lễ đón Chúa đến để ban tình thương và tha thứ.

Tình thương và tha thứ của Thiên Chúa diễn tả niềm vui mừng hân hoan. Và ý nghĩa này được biểu tượng bằng màu hồng, màu của Chúa Nhật III Mùa Vọng hôm nay. Như trong bài đọc thứ nhất trích sách Sophonie, vị ngôn sứ loan báo: Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca! Hỡi Israel, hãy hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoan và nhảy mừng hết tâm hồn.

Tâm tình tràn ngập niềm vui này biểu lộ trọng dụ ngôn người con hoang đàng, khi mà người cha đã cho giết con dê béo và mời tất cả mọi người tổ chức bữa tiệc vui bởi vì con ông đã mất nay tìm thấy, đã chết nay sống lại.

Như vậy, sự tha thứ và lòng thương xót mang đến cho chúng ta bình an nội tâm và tràn ngập niềm vui.

Trong bài Tin mừng hôm nay, nhiều người với lòng thống hối ăn năn đã đi tìm Gioan Tiền Hô và hỏi ông: chúng tôi phải làm gì? Và Gioan Tẩy giả trả lời rằng:

  • Người có thì hãy chia sớt cho kẻ không có.
  • Người đang sống bằng những thu nhập bất công thì hãy cố gắng sống công bình.
  • Kẻ đang áp bức người khác thì chấm dứt những việc làm hà hiếp của mình.

Không có gì đặc biệt trong những điều trên nhưng Gioan đề nghị một cách thế để sống chính trực và công chính. Tất cả mọi người được mời gọi hoán cải để trổ sinh hoa trái công phúc trong đời sống.

Đối với những người thu thuế và quân nhân, Gioan không đề nghị họ thay đổi đổi nghề nghiệp nhưng là sống theo đỏi hỏi mới như: tôn trọng công bình, không dùng quyền lực để hà hiếp người khác, không cáo gian ai, tôn trọng luật pháp và bổn phận công dân.

Tôi phải làm gì? Đó là câu hỏi mà chúng ta thân thưa với Chúa hôm nay. Câu hỏi tối hậu này đặt ra cho mỗi người, lúc này và trong ngày phán xét, sẽ là “ tôi đã sống thế nào” “ tôi đã đối xử với tha nhân thế nào”?

Chắc chắn có những lỗi phạm thường xuyên mà căn nguyên đến từ nghề nghiệp, từ hoàn cảnh, từ cuộc sống thường ngày? Mỗi chúng ta đều có bậc sống và hoàn cảnh riêng, cụ thể như trong ngôi nhà thờ này: chúng ta có thể là linh mục, giáo viên, giám đốc, kỹ sư, bác sỹ, công nhân, viên chức, thương gia… Hay với tuổi tác, ở đây có những người cao tuổi, nhưng cũng có những người trẻ tuổi, là người lớn hay trẻ con, là bậc làm cha làm mẹ hay là những đứa con trong gia đình… vậy thì mỗi nghề nghiệp mỗi lứa tuổi đều có những lỗi lầm liên quan đến đời sống mỗi người.

Để tách biệt và loại trừ cái xấu khỏi cái tốt, ngôn sứ Gioan Tiên Hô đã sử dụng hình ảnh rất sống động: “Người cầm nia trong tay mà sảy sân lúa của Người, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa”. Ngày xưa đối với nhà nông ở quê, sau vụ gặt người nông dân thường đem lúa mới thu hoạch ra bờ đê có gió lớn để rê lúa, gió thổi làm cho các cọng rơm và vỏ trấu cũng như lúa lép bay đi, chỉ còn lại những hạt lúa mẩy vì nặng hơn nên rơi xuống chiếc nia để ở dưới, và sẽ được thu lại vào bao tải đem cất vào kho. Còn rơm và vỏ trấu hay lúa lép sẽ bị đốt.

Hình ảnh này làm cho chúng ta nhớ tới việc sám hối và hòa giải mà chúng ta cử hành trong các ngày tĩnh tâm. Sám hối và hòa giải giúp chúng ta phân định những gì là tốt, là giá trị và những gì là xấu và không tốt với đời sống đức tin, để giữ lại những điều tốt và loại bỏ những điều xấu.

Khi mà những điều xấu không được loại trừ, thì vẫn còn đó điều ngăn cản chúng ta triển nở trọn vẹn trong đời sống đức tin, vì thế chúng ta mất đi niềm vui và bình an trong tâm hồn

Trong niềm hy vọng vào lòng thương xót của Chúa, kính thưa… chúng ta cần phải tin vào Nước Chúa đang hiển trị, tin vào một thế giới mỗi ngày sẽ giảm bớt những bạo lực, sẽ không còn những thai nhi bị giết hại, không còn trẻ em bị bỏ rơi, không còn những người lang thang vất vưởng đây đó, không còn cãi cọ tranh giành, không còn chiến tranh, đói rách và bất công…Nước Chúa đang đến trong mỗi người chúng ta, và chính Chúa đang mời gọi chúng ta hãy làm tất cả những gì có thể để thế giới này mỗi ngày một tốt đẹp hơn.

Mừng lễ Giáng sinh, là mừng Chúa đến với mỗi người chúng ta, một Thiên Chúa đang mời gọi chúng ta xây dựng với Ngài một thế giới mới. Vậy xin Chúa cho chúng ta chuẩn bị đón mừng đại lễ Giáng sinh bằng một trái tim rộng mở để hoán cải và canh tân đời sống tận căn, nhờ đó chúng ta trở nên những con người mới đem ánh sáng tình thương Chúa đến cho muôn người . Amen.

Xin vâng

Trong những ngày đầu của Mùa Vọng, thời gian chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh, Giáo Hội cho chúng ta mừng kính Đức Mẹ với danh hiệu “ Vô Nhiễm Nguyên Tội”. Nhờ vào một hồng ân đặc biệt, Đức Maria, Mẹ của Đấng Cứu Thế không bao giờ phạm tội. Mẹ không bao giờ phụ lòng Chúa dù chỉ là điều nhỏ nhất có liên hệ tới tình yêu. Thánh Công Đồng Vaticanô II dạy rằng: “ từ ngay giây phút thụ thai, Mẹ đã được đầy tràn vẻ đẹp của một sự thánh thiện đặc biệt”. Mẹ đã được gọi là “Đấng Thánh”. Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội đã được Đức Giáo Hoàng Pio IX công bố vào ngày 08/12/1854. Bốn năm sau, chị Bernadette ở Lộ Đức, một thiếu nữ chăn dê, không biết tý gì về thần học, đã nhận được mặc khải về tín điều này. Và chị đã đến nhà cha xứ để nói cho Cha biết về lời mạc khải của Mẹ: “ Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội”.

Trong ngày lễ hôm nay, phụng vụ cho chúng ta nghe bài Tin mừng về biến cố Truyền Tin. Ai trong chúng ta đều biết rõ đoạn Tin mừng tuyệt vời này mà Thánh Luca thuật lại. Đó chính là giây phút sứ thần Gabriel đến nhà trinh nữ Maria để loan báo trinh nữ đã được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Sứ thần chờ đợi trinh nữ trả lời. Và như ta thấy, khi Thiên Chúa gọi, Ngài tôn trọng sự tự do của mỗi con người. Trinh nữ Maria có sự tự do đón nhận hay từ chối. Nhưng cách đơn sơ trinh nữ muốn hiểu xem: “ việc đó sẽ xẩy đến thế nào?” và sứ thần đã trả lời: “Chúa Thánh Thần sẽ đến với trinh nữ và quyền năng Đấng tối cao sẽ phủ bóng trên trinh nữ”. Biết được như thế, Đức Maria đã đón nhận khi thốt lên lời thưa đơn sơ: Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền”. Như thế ngày lễ hôm nay cho chúng ta cơ hội để suy nghĩ về vai trò thật sự quan trọng mà Thiên Chúa đã trao phó cho Đức Maria.

Hôm nay, Thiên Chúa lại tiếp tục mời gọi con người, người già cũng như người trẻ. Không còn cảnh sứ thần đến truyền tin cho mỗi chúng ta. Nhưng Thiên Chúa nối kết chúng ta trong mọi hoàn cảnh của đời sống, bởi những người mà Ngài gửi đến cho mỗi chúng ta. Ngài có thể đánh động tâm hồn con người bởi một câu Tin mừng hoặc bởi một biến cố đặc biệt. Ngài cũng có thể tìm kiếm chúng ta từ mọi bối cảnh thăng trầm. Ngài mời gọi chúng ta đào sâu nguồn mạch tình yêu Chúa để làm cho tình yêu đó tỏa lan cho mọi người xung quanh. Chính Thiên Chúa chọn mỗi chúng ta để mang trong mình tình thương, sự dịu hiền của Ngài để làm chứng tá cho Chúa trong đời sống.

Thiên Chúa cần đến đôi tay của mỗi chúng ta để tiếp nối đôi tay của Ngài. Ngài cần đến đôi môi của chúng ta để loan báo lời Ngài. Ngài cần đến đôi mắt của chúng ta để thấy được nỗi thống khổ của nhân loại và làm cho nó vơi đi. Dù Ngài có đặt ra câu hỏi thì mỗi chúng ta vẫn được mời gọi xin vâng. Và trong giây phút chúng ta xin vâng, đó là như dòng thủy triều mang đi tất cả trên đường đi của nó. Đó là một cuộc phưu lưu lớn lao và không có vinh dự nào lớn hơn là những người được trở nên tôi tớ của tình yêu. Mẹ Maria đã không đi con đường nào khác con đường này. Mẹ đã là tôi tớ của Thiên Chúa; và hôm nay Mẹ nói với mỗi chúng ta: “ Chúa nói gì các con hãy làm theo.”

Ngày hôm nay, câu hỏi được đặt ra cho chúng ta thật đơn giản: đó là chúng ta có đón nhận Chúa đến trong chúng ta và trong đời sống chúng ta hay không. Mang Chúa trong tim và tặng trao Chúa cho thế giới, đó là cái gì đó thật đặc biệt. Chúng ta sẽ thấy ở đó niềm vui mà không ai có thể lấy mất. Với Chúa và với Mẹ Maria, các cuộc viếng thăm của chúng trở nên các cuộc truyền tin. Chính vì lẽ đó mà chúng ta được kêu gọi khi chúng ta tới thăm viếng những người đau yếu và đang cần đến. Có thể chúng ta sẽ được hướng dẫn trên những nẻo đường mà chúng ta chưa bao giờ tính đến. Nhưng chúng ta biết rằng tình thương của Chúa sẽ không làm chúng ta thất vọng.

Như Đức Maria, Thiên Chúa kêu gọi mỗi người để trao phó một sứ mạng hay một trọng trách. Ngài đặt niềm tin vào chúng ta trong các hoạt động tại giáo xứ, nơi gia đình, công sở để trở nên chứng tá và sử giả của tình yêu. Nếu trả lời không, có nghĩa là chúng ta vẫn ở trong bóng đêm. Nếu trả lời xin vâng, có nghĩa là chúng ta trở nên những người mang ánh sáng. Câu trả lời thuộc về mỗi người và không ai có thể trả lời thay được. Thiên Chúa cần đến sự cộng tác của con người. Vậy đừng sợ hãi: vì sứ mạng này mang đến hạnh húc, cho chúng ta và tất cả mọi người. Trong thời gian của niềm hy vọng, chúng ta cùng cầu xin Chúa cho chúng ta biết đón nhận lời mời gọi của Chúa và đón nhận Chúa đến trong đời sống của chúng ta và tất cả mọi người.

Thiên Chúa tiếp tục tìm kiếm và cứu vớt những ai đang lạc mất. Chính vì thế mà Ngài đã đến trong thế giới. Tự bản tính chúng ta mang trong mình tâm tình của tội,  vậy hãy nhìn lên Đức Maria là Đấng mang trong mình tâm tình của Chúa. Mẹ đã để cho tình yêu Chúa đi vào trong đời sống của Mẹ để làm cho Mẹ trở nên Vô Nhiễm Nguyên Tội. Xin Mẹ hướng lòng chúng ta về với Chúa trong tâm tình tôn thờ, biết ơn và dư vị của một đời sống hoàn toàn biết cho đi. Amen.

Hãy dọn đường cho Chúa

“Hãy dọn đường Chúa cho ngay thẳng”,trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta nói nhiều tới việc làm đường và sửa đường. Mọi người quan tâm vấn đề này bởi vì cuộc sống phát triển nên các con đường là một phương tiện giao thông liên lạc cần thiết để người ta có thể đến được với nhau trong mọi mối tương quan của cuộc sống hằng ngày. Có những con đường tốt, đường thẳng nhưng cũng có những đường xấu và đường cong gây tai nạn và khó khăn trong việc đi lại. Đường thẳng hay cong có thể do hoàn cảnh địa lý, do điều kiện vật chất, nhưng cũng có nhiều con đường đang thẳng lại biến thành cong vì bởi lòng người lúc cong lúc thẳng, nên con đường có đoạn thẳng đoạn cong. Vậy nguyên nhân của sâu xa của đường thẳng, đường cong là do con đường tâm linh, con đường của lòng người có chính trực công minh hay là cong queo và dối trá.

Vậy chủ đề của các bài đọc kinh thánh của Chúa nhật II Mùa Vọng gửi đến cho chúng ta là việc sửa chữa con đường, đây không phải con đường vật chất nhưng là con đường tâm hồn để Chúa có thể qua đó mà đến với ta và ta qua đó mà đến với Chúa và từ đó ta có thể đến được với tha nhân.

Để giúp cho việc sửa chữa và trùng tu con đường Chúa cho ngay thẳng, chúng ta phải làm gì? Hôm nay bài Tin mừng giới thiệu cho chúng ta một chuyên gia sửa đường, đó là thánh Gioan Tiền Hô. Ngài là “tiếng kêu trong hoang địa: Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi”. Và chính Ngài đã làm gương cho chúng ta noi theo khi ngài đã vào sa mạc, mặc áo da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng, sống đời nhiệm nhặt để kêu gọi mọi người đón Chúa đến. 

Như thế, chỉ dẫn quan trọng để sửa đường tâm linh trong Mùa Vọng này là đi vào sa mạc để sửa đường Chúa.

Theo ngôn ngữ kinh thánh thì việc đi vào sa mạc để sửa đường Chúa có nhiều lợi ích. Trước hết, sa mạc là nơi thuận tiện để gặp gỡ Chúa.Vâng, chính trong nơi hoang sơ này mà Thiên Chúa nói trong sâu thẳm của lòng người để họ thực hiện lời mời gọi hoán cải: hãy sửa đường Chúa đi. Để có thể nghe được tiếng Chúa thì cần đi vào sa mạc qua việc cố gắng loại trừ bớt những tiện nghi đầy đủ thường ngày, ăn uống đạm bạc, cầu nguyện nhiều hơn và hoán cải đời sống bằng việc trút khỏi mình tội lỗi, loại trừ những tính mê nết xấu, những lối sống cằn cỗi. Thánh Gioan dùng hình ảnh cụ thể là ‘hãy san bằng những gồ ghề” trên con đường, có nghĩa là bỏ đi những chướng ngại để Thiên Chúa đến với ta và để ta có thể đến với ngài.

Tiếp đến, sa mạc cũng là biểu tượng của sự cằn cỗi trong tâm hồn.  Đi vào sa mạc để thấy được tâm hồn con người trong tình trạng như mảnh đất khô cằn và không có nước. Hình ảnh này làm ta nối kết với những hoang mạc trong thế giới hôm nay khi vẫn còn tình trạng người đối xử với người tàn ác như sói rừng, khi phẩm giá làm người không được tôn trọng và bảo vệ: nhiều người nam và nữ bị biến thành những phương tiện để mua bán và bóc lột; khi vẫn còn đó những hoang mạc của những mảnh hồn sống đơn độc thiếu vắng tình yêu và không biết yêu thương. Tất cả những sa mạc này đã làm cho người ta không thể hiểu, thông cảm và đón nhận được nhau. Tuy nhiên cũng chính từ nơi đó, Chúa Ki-tô đã đến và tìm kiếm con người đã cho thấy Tin mừng khởi đi từ sa mạc của đời người. Giống như trong sa mạc mênh mông khô cằn không có sự sống, nhưng khi mưa đổ xuống, đất lại trổ sinh hoa trái tốt tươi; thì nhờ sự hiện diện của Chúa, cuộc sống con người không còn khô cằn nữa vì ngài không bỏ rơi con người, sự hiện diện này như hạt giống sự sống được gieo vào lòng người không bao giờ chết, nhưng nếu có cơ hội nó sẽ nảy mầm tăng trưởng và sẽ đổi mới đời sống chúng ta.

Cuối cùng, sa mạc không phải là nơi lý tưởng để tìm kiếm sự yên thân nhưng ngược lại, đó lại là nơi để chiến đấu, vì sa mạc là nơi mà người ta sẽ chết khát  và chết cháy vì nắng nóng. Khi chọn lựa sa mạc, thánh Gioan Tiền Hô muốn loan báo một cuộc chiến, một cuộc đấu tranh. Chúa Giê-su khởi đầu sứ mạng của mình khi đối diện với Satan ở trong sa mạc. Trải dài trong suốt hành trình rao giảng, ngài đã bị tấn công bởi thù địch. Các địch thù đã bắt ngài, kết án ngài và đóng đanh ngài trên thập giá. Hành trình đức tin cũng là một chuỗi dài của những cuộc chiến chống lại sự dữ. Hôm nay cũng như hôm qua, biết bao nhiêu tín hữu đã bị bách hại và bị kết án tử.  Nhưng với Chúa Ki-tô phục sinh, thì niềm hy vọng lớn lao của chúng ta là tình yêu mạnh hơn sự chết.

Tỉnh thức và cầu nguyện

Mùa Vọng là thời gian trông đợi ngày Chúa đến. Xét về ý nghĩa của sự trông đợi của Mùa Vọng thì chúng ta cử hành ba biến cố của việc Chúa đến: trước hết là biến cố Chúa đến trong thời gian và hằng năm biến cố này được cử hành long trọng vào ngày đại lễ Giáng Sinh 25.12; tiếp đến là biến cố Chúa đến trong đời sống của mỗi người qua việc họ sẵn sàng đón tiếp Chúa; và cuối cùng là biến cố Chúa đến trong vinh quang của ngày cánh chung. Nói chung ý nghĩa của ba biến cố này là tâm tình tràn đầy niềm hy vọng mừng Chúa đến viếng thăm, đó cũng là chủ đề mà các bài đọc kinh thánh mà chúng ta vừa nghe.

Bài đọc Cựu ước cho thấy: việc Thiên Chúa đến là để làm thỏa mãn khát vọng của loài người.

Ngôn sứ Giêrêmia đã chứng kiến những trang lịch sử đau buồn nhất của đất nước Israen và khát vọng lớn lao đối với họ là được giải thoát khỏi kiếp lưu đày. Trước tình cảnh tang thương đó, ngôn sứ đã loan báo cho dân biết rằng cảnh lưu đày sẽ không kéo dài lâu, vì sẽ tới những ngày Thiên Chúa sẽ gởi đến Một Đấng cứu thoát họ.

Còn trong bài đọc Tân ước, thì thánh Phaolô lại cho thấy:  việc Chúa đến mời gọi mọi người sống niềm hy vọng bằng tình yêu thương, qua thực tế đời sống của các tín hữu Thêxalonica.

Chuyện xẩy ra là vì nghĩ rằng Chúa sắp đến rồi, nên các tín hữu Thêxalônica sống buông thả, lười biếng. Từ đó sinh ra nhiều tệ nạn. Thánh Phaolô cho rằng đó không phải là thái độ đúng đắn. Thái độ đúng đắn là phải bồi dưỡng tình thương như trong thư ngài nhấn mạnh : “Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết… Có như thế thì… anh em mới được bền tâm vững chí không có gì đáng chê trách… trong ngày Chúa Giêsu quang lâm”.

Như vậy, lời Chúa hôm nay là mời gọi chúng ta cần sẵn sàng đón Chúa bằng việc tỉnh thức, cầu nguyện liên lỉ và kiên trì sống đức tin bằng một đời sống xứng đáng. 

Chúa Giê-su trong bài Tin mừng của Thánh Luca đã mô tả cách cụ thể những dấu chỉ cụ thể báo hiệu về Ngày Cánh Chung để mời gọi người môn đệ phải chú ý tới ngày Chúa đến bằng hai thái độ:

  • Thái độ thứ nhất là chú ý đón Chúa: vì thế không nên để mình xao lãng vì những ảnh hưởng bên ngoài như lo chè chén say sưa hoặc chỉ lo chuyện sống chết, chỉ lo chuyện thế gian… Nếu bất cứ lúc nào cũng nghĩ đến việc Chúa đến thì dù cho có thình lình, đột ngột, họ cũng không ngỡ ngàng.
  •  Thái độ thứ hai là kiên trì trong việc cầu nguyện liên lỉ : cầu nguyện để xin Ngài mau đến, cầu nguyện để xin ơn đứng vững trước những trào lưu thế gian lôi cuốn.

Chúng ta xác tín về sự hiện diện của Chúa trong đời sống mỗi ngày. Niềm xác tín này sẽ là trợ lực lớn lao để chúng ta hân hoan sống tâm tình mùa vọng hôm nay bằng một đời sống cầu nguyện liên lỉ và biết xa lánh những lôi cuốn của thế gian để có thể trở nên những ngọn đèn luôn cháy sáng của niềm tin yêu và hy vọng. 

Xin cùng với quý ông bà và anh chị em đọc lại lời Tin mừng như là một tâm tình tóm kết rất chí lý thúc đẩy chúng ta trong ngày khởi đầu của Mùa Vọng này: ” Các con hãy giữ mình, kẻo lòng các con ra nặng nề, vì chè chén say sưa và lo lắng việc đời, mà ngày đó thình lình đến với các con, như chiếc lưới chụp xuống mọi người sống trên mặt đất. Vậy các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người!“. Amen.

Nước tôi không thuộc về thế gian này

Chuyện kể rằng, có một ông lão lang thang dựng lều trú ngụ trước hoàng cung. Nhà vua triệu vào chất vấn ông lão: Nhà người nghe cho rõ đây đâu phải là trạm nghỉ chân của Ngươi? Ông lão liền hỏi: Tâu bệ hạ, trước hoàng thượng, ai sở hữu hoàng cung này ạ? Đức vua trả lời: phụ vương của trẫm, người đã băng hà. Thế vậy, ai đã sở hữu chỗ này trước phụ vương của hoàng thượng? Tiên đế của phụ vương trẫm, ông ấy cũng đã qua đời. Ông lão liền nói: Thế thì đây cũng chỉ là một trạm nghỉ chân; ai cũng chỉ ở chỗ này một thời gian ngắn rồi đi mà thôi.

Câu chuyện giả tưởng trên cho ta thấy Vua chúa trần gian là thế, dù có trị vì đến “muôn tuổi” thì rồi cũng có lúc ra đi. Còn Chúa Giê-su thì khác, Ngài mới là Vua muôn đời, là Vua vũ trụ vì Ngài không thuộc về thế giới của các vị vua trần thế và vượt quá những gì thuộc về giá trị thế gian.

Vua Giê-su đã được Ngôn sứ Đanien trong bài đọc I loan báo như là một nhân vật rất đặc biệt được gọi là Con Người. Con Người đã phải chịu rất nhiều đau khổ. Tuy nhiên, Đanien thấy Đấng Lão Thành (tức Thiên Chúa) trao cho Con Người quyền thống trị tất cả loài người. Nhân vật Con Người ấy chính là hình ảnh tiên báo Đấng Messia. Và Đức Giêsu chính là Đấng Messia hoàn thành lời tiên tri ấy.

Và như mô tả trong sách Khái huyền ở bài đọc II, thì vua Giê-su đã lấy máu mình rửa sạch mọi tội lỗi của con người vì yêu thương họ. Sau khi chịu nạn chịu chết, Ngài được tôn lên làm Vua mọi loài và làm cho chúng ta trở thành công dân trong vương quốc của Ngài.

Vương quốc của Vua Giê-su là vương quốc mà như Đức Giê-su nói với quan Phi-la-tô là “ không thuộc về thế gian này”, nhưng là vương quốc của sự thật và tình yêu.  Một vương quốc không có biên giới vì vũ trụ này là vương quốc của Chúa và bất cứ nơi đâu có người sống trong chân lý và tình yêu thì ở đó vương quốc của Chúa hiển trị.  Một vương quốc không có quân đội vì bất cứ ai thuộc về chân lý, sống theo lương tâm ngay chính, sống hòa thuận, thương yêu và làm những việc lành thì là người bảo vệ và thuộc về vương quốc này.

Qua ý nghĩa Lời Chúa hôm nay, mỗi người chúng ta sẽ phải làm gì để xứng đáng dự phần vương quốc của Đức Giê-su mỗi ngày một hơn? Mỗi chúng ta đã lãnh nhận bí tích thánh tẩy và nhờ đó trở thành công dân của vương quốc của Đức Giê-su.  Vương quốc mà Chúa Giê-su thiết lập đang khởi đầu ngay tại trần thế này, và được sánh ví như hạt cải và như men trong bột. Hạt cải có trở thành cây lớn, men có làm dậy nở thúng bột hay không cần phải nhờ vào sự tăng trưởng của mỗi người chúng ta trong đời sống đạo mỗi ngày.  

Để mỗi người chúng ta tự trả lời với Chúa trong ngày cuối cùng của năm phụng vụ, xin chia sẻ câu chuyện sau:

Vừa khi cuộc thế chiến thứ hai kết thúc, một toán lính đồng minh đã tình nguyện đến giúp đỡ người dân ở một làng nhỏ ở miền Bắc nước Ba-lan tái thiết lại những gì đã bị chiến tranh tàn phá.

Dân làng không yêu cầu họ làm công tác gì, cũng không xin giúp đỡ thuốc men, thực phẩm hay nông cụ. Họ chỉ xin các binh sĩ đồng minh giúp họ tái thiết một pho tượng đã bị bể nát tan tành. Từ nhiều thế kỷ qua, pho tượng này là niềm tự hào của người dân trong làng. Giờ đây pho tượng chỉ còn là những mảnh vụn nằm vung vãi dưới đất. Liệu những người lính đồng minh có thể làm được công tác khó khăn này không?

Quả thực, công tác khó khăn. Nhưng cuối cùng các binh sĩ cũng nhặt lại được từng mảnh vỡ và dựng lại được pho tượng. Chỉ có điều là có hai phần chi thể trong pho tượng là họ không thể tìm thấy.

Họ dựng pho tượng giữa quảng trường của ngôi làng và phủ lên đó một tấm vải lụa. Tấm vải này chỉ được mở ra bằng một nghi thức do ông xã trưởng chủ tọa.

Khi dân chúng trong làng tề tựu đông đủ trước quảng trường. Ông xã trưởng đọc diễn văn cám ơn các binh sĩ đồng minh và cho mở tấm vải lụa ra. Mọi người kêu lên với tất cả kinh ngạc. Pho tượng tuyệt đẹp nhưng lại không có đôi tay. Dưới chân pho tượng Chúa Kitô Vua không có đôi tay này, mọi người đọc được hàng chữ viết thật lớn sau đây: “Ta không có tay. Các con có thể cho Ta mượn đôi tay của các con được không?”

“Ta không có tay, các con có thể cho Ta mượn đôi tay của các con được không?” Vâng, câu nói  cảm động này cho thấy Chúa Ki-tô đang rất cần những  đôi tay của chúng ta để xây dựng vương quốc của Ngài. Trong cuộc sống hôm nay, vẫn còn đó những bất công xã hội, những thù hằn ghen ghét, những mảnh đời đau khổ vì nghèo đói, bệnh tật và bị bỏ rơi… Hơn lúc nào hết, Vua Ki-tô cần đến đôi tay tương trợ của những thần dân là chúng ta để xây dựng một xã hội biết tôn trọng sự thật, sự sống và môi trường sống, trong sự hiệp nhất và yêu thương. Cách đây hai ngàn năm, Chúa Giê-su đã đi lại, đã nói và đã làm biết bao nhiêu điều tốt đẹp, ngày nay hơn bao giờ hết, Ngài cũng muốn cho các hoạt động yêu thương của Ngài được tiếp tục thực hiện nơi cuộc sống chứng tá của mỗi người chúng ta.

Lạy Chúa,  xin cho chúng con nhận ra sự hiện diện sống động của Chúa trong phụng vụ thánh thể mà chúng con đang cử hành. Xin soi sáng cho chúng con để chúng con nhận ra Chúa nơi anh chị em xung quanh mà hết tình yêu thương họ bằng chính tình yêu chúng con thể hiện nơi Chúa bởi vì chính vì họ mà chúng con được mời gọi để sống tình yêu liên kết mật thiết với Chúa mỗi ngày. Amen.

Tình yêu Đức Ki-tô thúc bách

Ngày 1.11, chúng ta cùng với Giáo Hội hoàn vũ suy tôn cách chung tất cả các thánh nam nữ trên nước trời, hôm nay cùng với Giáo hội tại Việt Nam chúng ta tôn vinh các riêng các vị thánh tử đạo Việt Nam là cha ông chúng ta.

1,. Tử đạo là gì?

Các vị thánh tử đạo Việt Nam là ai? Thưa các Ngài là những người làm chứng tá cho lòng trung tín với Đức Ki-tô, đấng mà các ngài chọn để làm lẽ sống cho cuộc đời mình.

Như Thánh linh mục Phêrô Lê Tùy, khi bị bắt, biết ngài là Đạo Trưởng Gia-tô nên viên quan dụ dỗ: “Ông nghe ta đi, ai thấy ông bị bắt cũng động lòng trắc ẩn. Không ai muốn ông phải án tử hình, ta đây cũng vậy. Bây giờ ông nghe ta, làm một tờ khai nói mình là lang y chữa bệnh, có thế ta mới cứu ông được“. Cha Tùy trả lời: “Tôi không sợ chết, vì chết cách nào tôi cũng không ngại. Ai cũng phải chết. Dù chết trên chăn êm nệm ấm, dầu bị cọp tha cá rỉa, dầu bị lột da hay xé xác làm trăm mảnh cũng đều là chết thôi; cho nên tôi không sợ chết“.  Còn Thánh Anê Thành, một người mẹ của 6 đứa con. Trong cơn đau đớn vì bị tra tấn đã nhắn nhủ cô con gái đến thăm người trong tù rằng: “Con chuyển lời mẹ nói với các anh chị em con : Hãy coi sóc việc nhà, giữ đạo sốt sắng, đọc kinh sáng tối, dâng lễ mỗi ngày, cầu nguyện cho mẹ vác thánh giá Chúa đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta sẽ đoàn tụ trên Nước Thiên Đàng“. Lời sau cùng của bà là: “Giêsu Maria Giuse, con phó thác hồn con và thân xác con trong tay Chúa, xin ban cho con trọn niềm tin ở Chúa.”

Gương hai vị thánh trên đây đã cho thấy các vị tử đạo đã can trường giữ vững đức tin trước mọi thử thách gian lao. Các ngài đã sẵn sàng liều đánh đổi cả cái quý giá nhất của mình là mạng sống là để được chết vì Chúa Ki-tô, đấng đã chết cho toàn thể nhân loại. Và như thế tử đạo vì Chúa Ki-tô đối với các ngài là niềm hạnh phúc như lời Chúa Giê-su nói : “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. (Mt 5,10-12).

Sự trung tín, vâng phục và tình yêu với Đức Ki-tô đã phác họa lên bức chân dung Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, và đã biểu lộ được sức sống mãnh liệt kín múc từ Chúa Giê-su tử nạn và phục sinh. Nếu sức sống này sánh ví như hạt lúa miến phải mục nát đi mới trổ sinh hoa trái, thì chính cái chết của các ngài lại trở nên những hạt giống đức tin trổ sinh nhiều bông trái là các tín hữu.  Đó cũng chính là chân lý mà ông Tertuliano rút ra từ sự tử đạo của các Ngài khi ông nói : Máu các thánh tử đạo là hạt giống trổ sinh các ki-tô hữu.

2. Sống tử đạo bằng sự trung tín và vâng phục

Như thế, là những hoa quả trổ sinh từ hạt giống các thánh tử đạo anh hùng, chúng ta bày tỏ biết ơn các ngài đã gây dựng gia tài đức tin trên quê hương việt nam từ mấy trăm năm nay. Đồng thời, trong vinh dự là những người con cháu đang kế thừa truyền thống cao đẹp này, chúng ta cần phải sống theo gương cha ông.

Đó là chúng ta hãy thực thi một đời sống đạo cách cụ thể bằng những hy sinh từ nhỏ cho đến lớn qua sự trung thành với đức tin, vâng phục lề luật của Chúa và những đòi hỏi của bậc sống mình. Tất cả đòi buộc mỗi chúng ta phải chết đi mỗi ngày để có thể chiến thắng những cám dỗ và chiến thắng cái tôi ích kỷ của bản thân mình.

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta luôn ý thức địa vị cao quý là con cháu của các vị tử đạo anh hùng, để bằng sự trung tín và vâng phục trong niềm tin, không bao giờ để mất di sản đức tin quý báu đã được mua bằng giá máu các thánh tử đạo và không ngừng trao ban di sản vô giá này cho anh chị em xung quanh chúng ta. Amen.

Scroll to Top