Đời sống đức tin

Lệnh truyền giáo

Khi bắt đầu rao giảng Tin mừng công khai, Chúa Giê-su đã chọn những người cộng tác với Chúa vì Chúa tin tưởng  và mời gọi mọi người làm việc với Chúa. Trong Cựu ước cũng như Tân ước, các người được Chúa kêu gọi đều là những con người bình dân: Ngôn sứ Amos là một nông dân, ông Phêrô làm nghề đánh cá, ông Mát-thêu là người thu thuế và ông Phaolô làm nghề dệt vải.

Trước hết Chúa Giê-su kêu gọi họ ở lại với Chúa trong một thời gian để lãnh hội việc đào tạo nền tảng. Ngay ở đầu các sách Tin mừng, chúng ta thấy các tông đồ đã đồng hành với Chúa Giê-su trong các hành trình rao giảng. Họ xem Chúa hành động và nhận nơi Chúa một sự dạy dỗ quan trọng, một cách sống mới để chuẩn bị cho sứ vụ mà Chúa sẽ trao phó cho họ.

Đây chính là phương pháp sư phạm mà các tín hữu đã nhận được qua các giai đoạn lịch sử. Vào ngày chúa nhật, các tín hữu tụ họp nhau xung quanh bàn tiệc Thánh thể để lắng nghe Lời Chúa, để chia sẻ sự sống của Chúa. Sau đó họ được sai đi vào trong các môi trường sống, trong gia đình, nơi làm việc với lệnh truyền: Anh chị em ra đi để đem bình an của Chúa Giê-su đến với mọi người cách vô vị lợi.

Khi đọc Tin mừng, chúng ta nhận thấy Chúa Giê-su không ban những huấn thị lý thuyết về sứ vụ truyền giáo. Ngài không nói với các tông đồ “cái mà họ phải rao giảng”. Nhưng Ngài đi vào chi tiết để nói với họ “cái mà họ phải là”: như những người bộ hành với ít trang bị, đón nhận lòng quảng đại của mọi người; họ là những người kiến tạo bình an và hòa giải; họ đồng hành với những người đau yếu và bệnh tật…Đối với Chúa Giê-su, chứng tá đời sống thì quan trọng hơn là lời nói. Chúa tin vào các môn đệ, tin vào con người, tin vào chúng ta, dù chúng ta có nghi ngờ Ngài. Ngài tin chúng ta đến nỗi mà Ngài để cho chúng ta tự do hành động khi chúng ta thấy phù hợp với việc rao giảng Tin mừng.

Chúa Giê-su nói với các Tông đồ khi xưa cũng là nói với chúng ta hôm nay rằng, nhờ vào mỗi người chúng ta mà thế giới này có thể trở nên tốt đẹp hơn, chính Chúa khẳng định: “ các tông đồ sẽ trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh”. Vậy ma quỷ trong thời đại chúng ta là thế nào? Làm thế nào mà chúng ta cải tạo thế giới này?

Các từ ngữ mà Chúa Giê-su dùng trong Tin mừng là từ ngữ của thời đại cách đây hơn 2000 năm. Nhưng chúng ta dễ dàng hiểu được rằng các môn đệ được sai đi để thực thi điều mà chính Chúa Giê-su đã làm. Nội dung sứ vụ của các ông được tóm lại trong ba câu sau:

  1. Loan báo Nước trời, điều này yêu cầu một sự hoán cải, một sự thay đổi lối sống
  2. Chiến đấu chống lại sự dữ và xua trừ ma quỷ là những thế lực ngăn cản chúng ta sống tự do.
  3. Hành động vì lợi ích cho những người đau khổ và bị bỏ rơi, để cải thiện chất lượng sống của họ.

Trước hết, việc hoán cải là việc cần thiết để chúng ta thay đổi lối sống đôi khi quá ích kỷ. Điều này cần phải biết lãnh nhận trách nhiệm và cố gắng cải thiện môi trường sống bằng cách tránh gieo rắc thêm những điều xấu và giúp đỡ những ai đang cần đến sự trợ giúp.

Tiếp đến việc xua trừ ma quỷ hôm nay có nghĩa là giúp đỡ những người cô đơn, không tự bảo vệ mình, để họ thoát ra khỏi sự cô độc, sợ hãi, bất công, và bệnh tật…Xua trừ ma quỷ cũng có nghĩa là giải thoát mọi người khỏi các tệ nạn như nghiện rượu, nghiện ma túy, cờ bạc, và mọi thứ vật chất đang giết chết đời sống các gia đình…Xua trừ ma quỷ cũng có nghĩa là chống lại tất cả những gì làm cho chúng ta bị nô lệ vào chúng.

Cuối cùng là chữa lành các tật bệnh. Có nhiều phương thế để thực hiện việc này: như hãy biết yêu thương, đồng hành, khuyến khích, giúp đỡ và tha thứ cho người khác. Chúng ta có thể kể đến các tình nguyện viên trong các bệnh viện, các người hằng ngày đi thăm viếng các bệnh nhân, mang Mình Thánh Chúa đến cho người bệnh và phân phát đồ ăn thức uống cho những người nghèo khó…

Chúa Giê-su sai các môn đệ từng hai người một bởi vì sứ vụ truyền giáo là một hành trình có tính cộng đoàn. Đức tin của chúng ta được phong phú nhờ vào đức tin của những người khác, đó là đức tin của cha mẹ, của ông bà, của các người bạn, và đức tin của tôi hay của anh chị em cũng góp phần gia tăng đức tin cho những người khác. Quy tắc đầu tiên của sứ vụ tông đồ, đó là “ làm việc có tính tập thể”: đời sống huynh đệ là biểu tượng của tình yêu như trong sách Tông đồ công vụ thuật lại, các lương dân đã phải thốt lên: “ kìa xem họ thương yêu nhau biết dường nào” khi thấy các tín hữu sống tình huynh đệ yêu thương nhau.

Hôm nay Chúa Giê-su kêu gọi chúng ta như các tông đồ khi xưa. Ngài mời chúng ta đi rao giảng Tin mừng, loan báo hồng ân cứu độ, chống lại sự sữ và đi giúp đỡ những người đau khổ. Phúc âm hóa tức là chiến thắng bạo lực, bất công, là chiến thắng sự cô độc và nản chí. Chúa Giê-su cần đến chúng ta để sai chúng ta đi. Ngài tin tưởng mỗi người chúng ta. Vậy chúng ta hãy trở nên cánh tay và con tim của Chúa trong thế giới hôm nay, đang cần đến tình yêu và lòng thương xót cúa Chúa. Amen.

Ơn ta đủ cho con

Ludwig van Beethoven, một nhà soạn nhạc cổ điển người Đức, được nhiều người coi là một trong những nhà soạn nhạc xuất sắc nhất trong lịch sử âm nhạc. Trước khi bắt đầu sự nghiệp của mình, ông đã trải qua những thử thách, có thể nói là thất bại. Giáo viên âm nhạc của Beethoven từng nói về ông “nếu ông theo nghề soạn nhạc, thì ông ta chẳng mang lại hi vọng gì”. Và trong suốt sự nghiệp của mình, ông bị mất thính giác và với thể chất ốm yếu, nhưng ông đã sáng tạo ra được âm nhạc tuyệt vời – một người khiếm thính lại sáng tác nhạc! Thật là kỳ diệu!

Ba bài đọc chúa nhật hôm nay nói về chiều kích thiêng liêng của sự thất bại: ngôn sứ Ezekiel đón nhận lệnh truyền của Thiên Chúa để đến với một dân dám chống lại sứ điệp của Chúa. Còn thánh Phaolô trong bài đọc II lại tâm sự về “một cái dằm trong thân xác”, là một thất bại vì biết bao khó khăn thử thách. Và chính Chúa Giê-su trong bài Tin mừng vừa thuật lại đã trải qua một thất bại tại chính quê hương mình, khi bà con đồng hương chối từ ngài. Quả vậy thất bại luôn thuộc về đời sống của chúng ta, tuy nhiên Thiên Chúa vẫn yêu thương chúng ta mặc dù chúng ta có những thất bại.

“Cái dằm”  mà thánh Phaolô nói tới là một ví dụ điển hình về tất cả những gì mà chúng ta không thành công trong đời sống và cũng là sự yếu đuối của phận người. Tuy vậy Chúa vẫn nói với Phaolô: “ ơn ta đủ cho con, vì sức mạnh của ta tỏ bày trong sự yếu đuối”. Thánh Phaolô đã được kêu gọi chấp nhận trong thân phận con người, để hoàn thành hình ảnh của Chúa nơi chính mình.  Thiên Chúa không cần những khả năng suất sắc của chúng ta nhưng Ngài yêu thương chúng ta như những gì chúng ta là.

Thiên Chúa thực hiện chương trình của Ngài bằng những bất toàn của con người, cho dù đối với lý lẽ con người thì lại trái ngược. Trong thế giới hôm nay, người ta lại chỉ ca ngợi những gì là tuyệt hảo, số một…trong mọi lãnh vực chính trị, kinh tế, giải trí và thể thao. Ta gọi là luật của sức mạnh. Tin mừng của Chúa thì ngược lại, đó là tin mừng cho mọi người, và đặc biệt là cho những người không phải là tuyệt vời nhất, họ là đại diện cho những hạng người với đủ khó khăn: như  bệnh tật, đau yếu, bị bỏ rơi, bị loại trừ.

Trong đời sống của chúng ta, có biết bao nhiêu là những thất bại trong nghề nghiệp, học tập, trong hôn nhân gia đình, trong việc giáo dục con cái. Sức khỏe chúng ta cũng rất mong manh; có những hạn chế và yếu đuối.

Thất bại đến từ nhiều hướng khác nhau. Trong bài Tin mừng hôm nay, thất bại của Chúa Giê-su đến từ việc rao giảng những giá trị đích thực của Nước trời. Một sứ điệp của chân lý, tình yêu, công lý và bình an lại thường khơi lên sự chống đối, hận thù và bạo lực. Trong giáo hội chúng ta có thể thấy biết bao nhiêu nhân chứng. Cụ thể như Đức TGM Romeo, tại đất nước Elsanvador vào thập niên 80 của thế kỷ trước, vì đấu tranh tố cáo sự bóc lột những người nghèo mà đã bị ám sát khi đang dâng thánh lễ. Mẹ Têrêsa thánh Calcutta cũng thế, mẹ  đã quảng đại chăm sóc nhưng người cùng khổ trong xã hội và cũng bị không ít những lời thắc mắc và ganh tỵ của nhiều người không có lòng ngay.

Có biết bao nhiêu nhân chứng tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy lòng quảng đại của con người trong mọi lãnh vực cho dù có bị chống đối hay thất bại. Các chứng nhân đó không chỉ là để chúng ta chiêm ngưỡng mà thôi nhưng còn thúc đẩy mỗi chúng ta cố gắng bắt chước.

Đôi khi chúng ta thấy có nhiều lý do để từ chối giúp đỡ tha nhân, như không có ơn sủng đặc biệt, không thuộc về hội đoàn này hội đoàn kia, hoặc là quá bận rộn với công việc và gia đình…Phục vụ không dành cho các tu sỹ hay linh mục, hoặc các tổ chức trong giáo hội và xã hội. Có biết bao tấm gương cho thấy họ đều là các tín hữu, nhưng đã có can đảm để dấn thân và giúp đỡ mọi người dù có những bất toàn. Để phục vụ tha nhân, chúng ta không cần phải trở nên những con người có khả năng đặc biệt.

Tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta suy tư về những thất bại của chúng ta, điều có thể cho chúng ta cơ hội chấp nhận chính bản thân mình, để gia tăng giá trị bản thân và tăng trưởng đức tin của chúng ta. Vậy chúng ta hãy hành động để phục vụ những ai đang cần đến sự trợ giúp của chúng ta. Amen.

Ơn gọi làm ngôn sứ

Các bài đọc Kinh Thánh chúa nhật hôm nay nói về những ai được Thiên Chúa kêu gọi. Trước hết là chứng tá của ngôn sứ Ézékiel; ngài được sai đến với một dân đang nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Ngài biết dân này sẽ không lắng nghe sứ điệp của của Thiên Chúa vì sự cứng lòng của họ. Nhưng không có gì ngăn cản được sứ điệp của Chúa dù họ có nghe hay không, thì Lời Chúa vẫn được loan báo. Chị Bernadette được Đức Mẹ hiện ra tại Lỗ Đức đã nói: tôi không có bổn phận làm cho mọi người tin nhưng có bổn phận nói cho mọi người biết”. Điều đó cho thấy Thiên Chúa kêu gọi nhưng người bé mọn để mang đến cho chúng ta những sứ điệp quan trọng nhất. Ngài ban ơn để chúng ta hoán cải và tìm lại tình bằng hữu với Chúa.

Trong thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô cho thấy chứng tá của thánh Phaolô. Ngài cho thấy ơn gọi tông đồ của Ngài: ngài đã nhận được những mạc khải đặc biệt, nhưng cũng đã phải chịu những thử thách và sỉ nhục. Ngài cũng phải đón nhận những vấn đề về sức khỏe và đã nài xin Chúa giải thoát cho Ngài. Nhưng Thiên Chúa đã trả lời Ngài: “ Ơn ta đủ cho con”. Thánh Phaolô khám phá được rằng Thiên Chúa hành động trong sự yếu đuối của Ngài. Vị tông đồ đã không cô đơn trọng sứ vụ. Chính Thiên Chúa làm công việc đó trong tâm hồn những người mà Ngài trao phó cho vị tông đồ.

Trong bài Tin mừng, chúng ta gặp Chúa Giê-su về thăm quê hương Nagiarét. Việc rao giảng của Chúa đã gặt hái được những thành công. Khắp nơi trong miền Galilêa, mọi người đều vui mừng về những lời rao giảng và các phép lạ Chúa làm. Nhưng những người Nagiarét lại chỉ thấy nơi Chúa hình ảnh của bác thợ mộc năm xưa. Họ coi thường Chúa vì nguồn gốc tầm thường của Chúa, xuất thân chỉ là một bác thợ mộc, bà con với những người dân làng bình thường. Và họ không tin Ngài.

Vậy là Chúa Giê-su không được đón nhận như là một Đấng Messia: “ Ngài đã đến nhà mình nhưng những người nhà lại không đón tiếp…”. Chúng ta cũng không có quyền xét đoán những người bà con quê hương Chúa vì chính chúng ta cũng thường nổi điên lên khi ai đó đến nói với chúng ta những gì thuộc về Thiên Chúa. Nhưng không có ai có thể ngăn cản việc loan báo Tin mừng. Trước sự từ chối này, Chúa Giê-su đã đến với các làng mạc xung quanh. Các thừa sai truyền giảng Tin mừng không nàn lòng dù người ta có từ chối đón tiếp họ; như Chúa Giê-su, họ phải ra đi loan báo Tin mừng bởi vì tất cả mọi người đều phải lắng nghe Chúa.

Vấn đề đối với những người nghe Chúa Giê-su, đó là họ đã bị đóng khung trong các định kiến và truyền thống. Thực sự là như thế đối với mỗi chúng ta; chúng ta thường cho là biết nhiều điều về Chúa. Nhưng điều mà chúng ta có thể nói về Chúa lại luôn luôn vô nghĩa so với những gì là hiện thực. Chúng ta chưa bao giờ ngừng khi đặt ra cho mình câu hỏi: đối với tôi Chúa Giê-su là ai? Câu hỏi này chúng ta chỉ tìm thấy trong trọn vẹn cuốn Tin mừng của thánh Mác-cô. Và câu trả lời đối với chúng ta sẽ là câu nói của viên bách quan dưới chân cây thập giá: “ Người này chính là Con Thiên Chúa”.

Như ngôn sứ Ezekiel và như thánh Phaolô, chúng ta ý thức  về sự mỏng dòn và yếu đuối của mình. Nhưng Thiên Chúa tin tưởng nơi chúng ta để trở thành những thừa tác viên của Ngài. Bí tích rửa tội làm cho chúng ta trở thành một dân ngôn sứ, đóng ấn bởi Chúa Thánh Thần, được kêu gọi và sai đi. Thiên Chúa biết rõ những hoàn cảnh của sứ mạng. Ngài biết rõ hơn chúng ta về những gánh nặng làm chúng ta nản chí. Đối với những người được kêu gọi, Ngài đã hứa ở với họ và nâng đỡ họ.

Chắc chắn như tất cả các ngôn sứ khi xưa, chúng ta có thể thấy những khó khăn. Chúng ta sẽ bị chống đối bởi những người vô tín, kém tin và dửng dưng. Trong thế giới hôm nay, có rất đông tín hữu đã bị bách hại và bị kết án tử. Và ở trong lòng Giáo hội, có nhiều gương xấu làm chúng ta đau lòng. Giáo Hội của Đức Giê-su vẫn còn là một đoàn dân của những tội nhân. Và sẽ là cơ hội cho chính chúng ta có những lời chỉ trích và phê phán. Nhưng một đứa trẻ không thể cắt đứt mối dây sống động mà mẹ nó đang liên kết với nó.

Vậy việc gắn bó với Chúa Giê-su phải mạnh mẽ hơn sự cám dỗ xa lìa Chúa. Thiên Chúa không chọn những người tuyệt vời để sai đi nhưng thường là những con người hèn yếu và tội lỗi. Chúng ta đừng quên các chứng nhân vĩ đại của đức tin, họ là những tội nhân được tha thứ. Như tông đồ Phêrô đã chối Chúa vì sợ hãi. Nhưng khi đón nhận sự tha thứ của Chúa Giê-su, Ngài đã nhận được từ nơi Ngài sứ vụ của người chủ chăn đoàn dân Chúa.

Cử hành thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì Ngài luôn tin yêu mỗi chúng ta và nối kết chúng ta với sứ mạng của Chúa. Là các môn đệ mang sứ mạng truyền giáo, chúng ta hãy tín thác nới Chúa và trao phó cho Ngài những bất toàn mòn dòn của mỗi chúng ta. Ước gì lời Chúa: “ơn ta đủ cho con” được thành toàn nơi mỗi chúng ta hôm nay. Amen.

Không ngừng biểu lộ sự hiện diện của Đấng Phục Sinh

Có nhiều bức tượng và tranh vẽ về hai thánh tông đồ cả của Giáo Hội, tuy nhiên có một bức icone rất độc đáo mô tả hai thánh Phê rô và Phao lô áp má vào nhau với ý nghĩa diễn tả hai vị tuy khác biệt về nhiều mặt nhưng lại gặp nhau ở một điểm chung là tình yêu mà ngài dành cho Đức Ki-tô. Tuy nhiên nếu chúng ta nhìn kỹ bức họa thì sẽ thấy khuôn mặt của hai ngài được họa sỹ vẽ những nếp nhăn để diễn tả  sự khác biệt và thẳng thắn trong sứ mạng rao giảng Tin mừng (Gal 2,11).

Điểm thứ nhất giúp chúng ta  nhìn vào đời sống của hai vị thánh,  để thấy được những khác biệt về thân phận của hai ngài. Thánh Phêrô xuất thân chỉ là một ngư phủ, không được học hành tới nơi tới chốn, một con người cởi mở, đơn sơ và chất phác của một người sống ở miền quê. Trong khi đó thánh Phao-lô lại là một nhà trí thức, năng động và uyên bác với kiến thức văn chương và kinh thánh vì ngài là học trò của vị thầy trứ danh Gamariel thời đó. Một người xuất thân từ nông thôn, còn một người sinh ra và lớn lên ỏ thành thị và là công dân Roma thế giá, một người nhút nhát,  còn một người kiêu hãnh nên trong sứ vụ, hai vị vẫn có nơi mình những tính cách cho thấy các ngài cần phải vượt qua: ví dụ thánh Phêrô khi đến thăm giáo đoàn ở An-ti-o-ki-a vì tính nhút nhát vốn có đã sợ những người ki-tô hữu cắt bì gốc Do thái mà tách ra không dám ngồi ăn chung với những anh chị em gốc dân ngoại không cắt bì nên thánh Phao lô, một người thẳng thắn đã mạnh dạn phê bình Phê rô về thái độ phân biệt đối xử này. Sự khác biệt còn ở hoàn cảnh sống khi Phêrô là người đã có gia đình, còn Phao-lô là người độc thân. Ngoài sự khác biệt về thân thế,  ta còn thấy sự khác biệt về sứ mạng rao giảng giữa hai vị thánh: Thánh Phêrô truyền giáo cho các cộng đoàn do thái tại Giê-ru-sa-lem và Roma còn thánh Phao lô lại đi truyền giáo cho các cộng đoàn dân ngoại.

Từ những khác biệt về thân thế sự nghiệp cũng như là sứ mạng của hai vị tông đồ cả, điểm thứ hai cho chúng ta thấy, nơi hai vị thánh cột trụ của Giáo Hội những điểm chung, mà ở đây điểm chung quan trọng nhất đó là một tình yêu lớn lao mà hai vị dành cho Đức Giê-su Ki-tô. Quả vậy, nếu hiểu theo câu nói “ ân sủng không phá hủy tự nhiên” thì tình khí của hai vị sẽ làm cho Đức Giê-su nhiều phen phải phiền lòng. Cụ thể đối với Phêrô, trong thời gian theo Chúa, đã không ít lần ngài đã bị Chúa khiển trách và cao điểm là đã chối Chúa ba lần vì tình nông nổi và nhút nhát của ngài; và điểm chín muồi của tình yêu chỉ đạt được lúc ngài thân thưa với Chúa bên bờ biển hồ Ti-bê-ri-a sau khi Chúa Phục Sinh rằng: Lạy thầy, thầy biết tất cả, thầy biết con yêu mến thầy”. Còn đối với Phao-lô, với tính kiêu ngạo của một người thông luật đã hăng hái nhận lệnh lên đường đi thành Đa-mát để bắt các ki-tô hữu và ngài chỉ nhận ra Đức Ki-tô sau biến cố ngã ngựa để dành trọn tình yêu cho Đức Ki-tô khi xác tín trong thư gửi tín hữu Ga-lát: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi”. Như vậy, chúng ta thấy chính tình yêu của Đức Ki-tô đã dẫn đưa hai ông một cách cụ thể trong đời sống để bước theo người Thầy Chí Thánh của họ trên đường thương khó và trong chính cái chết.

Điểm thứ ba mà chúng ta chia sẻ cùng nhau đó là dù hai vị có khác biệt về tính cách bên ngoài thì cuộc sống của hai vị lại không ngừng biểu lộ sự hiện diện của Đấng Phục Sinh. Đọc sách tông đồ công vụ, chúng ta thấy rõ chính Đức Ki-tô, đấng đã hành động để thánh Phêrô được giải thoát khỏi ngục tù, hay chính Đức Ki-tô đã hành động lúc mà Phêrô nhân danh Ngài chữa lãnh người bị bại liệt ở cửa đền thờ Giê-ru-sa-lem. Cũng thế, chính Đức Ki-tô đã hoạt động trong hành trình truyền giáo tại vùng Tiểu Á và Hy Lạp mà thánh Phao-lô thực hiện, để rồi từ đó nảy sinh ra các cộng đoàn tín hữu dân ngoại.

Thánh Phêrô với nguồn gốc và văn hóa của mình đã mang đến cho anh chị em gốc Do thái niềm tin ki-tô giáo và đã gắn bó đời mình trong việc tổ chức và liên kết những cộng đoàn này. Ngài chính là đá tảng để Giáo Hội được dựng lên. Còn thánh Phao-lô thì ngược lại, ngài đã trở nên nhà truyền giáo quả cảm cho dân ngoại nhờ vào sự quan phòng của Thiên Chúa, giúp cho Giáo Hội đến với muôn dân trên toàn thế giới. Cả hai vị trong sứ mạng của mình có những đặc thù riêng nhưng lại hoàn toàn bổ túc cho nhau, điều này cho thấy việc tổ chức các cộng đoàn và đặc sủng truyền giáo là hai yếu tố thật cần thiết cho việc xây dựng Giáo Hội của Đức Ki-tô.

Qua suy niệm về hai thánh Tông đồ Phêrô và Phao lô nhân ngày lễ hôm nay, chúng ta rút ra được bài học gì cho đời sống đức tin hôm nay? Bài học cho chúng ta thật phong phú vì mẫu gương của hai vị thánh cho thấy trong đời sống giáo xứ, trong các hội đoàn, các gia đình,  sự đối lập có thể được giải quyết trong sự hiệp thông huynh đệ. Mặc dù trong cộng đoàn giáo xứ, có nhiều anh chị em đến từ các giáo phận, giáo xứ khác nhau, với đời sống và nền văn hóa khác nhau, với tình cách khác nhau, quan điểm khác nhau, nhưng những khác biệt này thay vì gây ảnh hưởng tiêu cực lại hun đúc sự hiệp nhất thực sự, tạo nên bức tranh sinh động của Giáo Hội của Chúa: điều quan trọng là sự hiệp nhất này chỉ có được khi chúng ta biết đón nhận nhau trong tình yêu của Đức Ki-tô. Chính từ sự đa dạng và ngay cả từ sự mỏng dòn của thân phận con người nhưng trong sự khiêm tốn và tin tưởng của chúng ta, mà Thiên Chúa tạo nên những vị thánh nam và nữ theo như ý Ngài muốn.

Vậy cuối cùng trong niềm tin tưởng và cậy trông, chúng ta hãy đón nhận không ngừng sức mạnh làm cho chúng ta yêu mến Đức Giê-su Ki-tô cho đến cùng nhờ vào sự kiên trì cầu nguyện và việc lãnh nhận bí tích Thánh Thể mỗi ngày của mỗi chúng ta. Amen.

Niềm tin của con đã cứu chữa con

Các loại bệnh mãn tính, các loại bệnh ung thư, hay là việc chết sớm luôn là nỗi ám ảnh và ngăn cản chúng ta kiểm soát đời sống. Càng về già, chúng ta càng nhận ra là mình khó mà làm chủ được sức khỏe thể lý cũng như tinh thần. Dù có cố gắng đến mấy thì tuổi già, bệnh tật và cái chết cũng sẽ đến với bất cứ ai.

Có thể nói bệnh tật và sự chết sẽ đánh thức mỗi chúng ta là đừng có mà gắn bó với của cải vật chất đời này, cũng như mời gọi chúng ta chuẩn bị đối mặt với thực tế của chặng đường cuối cùng mà chúng ta cố quên nó đi. Ai cũng cố gắng không nghĩ tới nó, và cho rằng nó chỉ xẩy ra với những người khác. Tuy nhiên bệnh tật và sự chết thực sự là những điều quan trọng liên quan cách cụ thể tới đời sống mỗi chúng ta.

Hôm nay, Tin mừng kể về người phụ nữ đã chịu một căn bệnh đặc biệt làm cho bà rất khổ sở. Đối với bà không chỉ là một sự đau đớn thể xác nhưng sẽ còn gây ra cho bà sự ghẻ lạnh vì khi mặc bệnh loạn huyết, theo luật do thái thì bị coi là ô uế, không được đụng đến ai và không ai được đụng đến người bệnh. Bà sẽ phải bị cách ly, bị mọi người xa lánh nếu mọi người biết bà mang bệnh. Những điều cấm kỵ như thế, là là do y khoa thời đó chưa phát triển. Cũng như đối với con gái ông Giairô đã chết. Chúa Giê-su biết rõ theo luật do thái thời đó thì việc đụng đến một xác chết là sẽ bị mặc nhơ. Nhưng Ngài không sợ chống lại nhưng điều cấm kỵ, khi Ngài ăn uống với những người cùi hủi và tội lỗi, cũng như không sợ tiếp xúc với họ.

Bài Tin mừng hôm nay nhấn mạnh cách đặc biết tới các động từ “sờ vào” hay “cầm lấy”: người phụ nữ trong câu chuyện sờ vào áo Chúa Giê-su và được khỏi bệnh, hay Chúa Giê-su cầm lấy tay cô bé đã chết để làm cho cô sống lại. Ở đây thánh Mác-cô nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc tiếp xúc với Thiên Chúa. Trong các chương của Tin mừng, thánh sử đã viết rằng tất cả những bệnh nhân đều tuốn  đến với Chúa Giê-su để được Ngài đặt tay. Có chỗ thánh sử còn viết: “ Người đi tới đâu, vào làng mạc, thành thị hay thôn xóm nào, người ta cũng đặt kẻ ốm đau ở ngoài đường ngoài chợ, và xin Người cho họ ít là được chạm đến tua áo choàng của Người; và bất cứ ai chạm đến, thì đều được khỏi”.(Mc 6, 56), hay trong Tin mừng Luca, có viết “ Tất cả đám đông tìm cách sờ vào Người, vì có một năng lực tự nơi Người phát ra, chữa lành hết mọi người” (Lc 6, 19). Đối với các thánh sử, năng lực này không có ma thuật gì. Đó chính là quyền năng của Thiên Chúa hoạt động qua Chúa Giê-su và nếu xảy ra phép lạ là do một sự đáp trả của niềm tin.

Ai trong chúng ta cũng đều mang lấy những đau đớn về thể xác và tinh thần. Đời sống chúng ta thật là mong manh. Nhưng những thiếu thốn, mong manh và yếu đuối của chúng ta lại là những lý do để chúng ta có ước muốn đụng chạm tới Chúa Giê-su, tiếp xúc với Ngài. Đến với Chúa, đụng chạm tới Chúa không cần thiết là để các bệnh tật biến mất khỏi chúng ta nhưng quan trọng là Thiên Chúa có quyền năng làm dịu đi những nỗi sợ hãi và hâm nóng niềm hy vọng cho chúng ta.

Tin mừng hôm nay nhấn mạnh hai điều quan trọng:

  • Trước hết đó là cần phải xem lại những điều kiêng kỵ và định kiến. Ai trong chúng ta cũng có những kiêng kỵ và những định kiến với người khác. Vậy mỗi người được mời gọi noi gương Chúa Giê-su đừng ngại đến gần những anh chị em đang chịu đau khổ vì bệnh tật hay vì một lý do nào đó mà bị xa lánh.
  • Thứ hai là tầm quan trọng của đức tin. Đối với người đàn bà mắc bệnh băng huyết, Chúa Giê-su đã nói với bà: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh”. Còn đối với ông trưởng hội đường thì Ngài nói: “ Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi”.

Mỗi chúng ta hôm nay hãy tự hỏi xem đức tin của mình ở mức độ nào và đã làm gì để đức tin được triển nở và đạt tới một đức tin trưởng thành. Mỗi chúng ta cần gia tăng đức tin bằng việc lắng nghe và suy niệm Lời Chúa, bằng việc cầu nguyện và nhất là luôn biết cầu xin Chúa ban thêm đức tin cho chúng ta. Amen.

Chúa ở cùng

Từ lâu truyền thống Giáo hội cho rằng chiếc thuyền gặp bão tố được nói đến trong Tin mừng là hình ảnh của Giáo Hội. Hơn hai nghìn năm qua, con thuyền Giáo hội không ngừng bị chao đảo, cụ thể trong thời địa hôm nay bởi một xã hội tiêu thụ, bởi trào lưu tục hóa vô thần…ảnh hưởng không ít tới đời sống của Giáo Hội, làm nên những khủng hoảng trong Giáo hội như chúng ta thấy.

Nhiều người thấy thất vọng buông xuôi vì cho rằng Giáo Hội không thể vượt qua được khủng hoảng và sẽ đi tới hồi kết thúc. Nhưng chính Chúa Ki-tô, Ngài đã hứa với các Tông đồ khi xưa là sẽ ở cùng Giáo Hội mọi ngày cho đến tận thế. Thực vậy, Giáo Hội sẽ vượt qua khủng hoảng này như đã từng vượt qua biết bao thử thách trong suốt hơn hai ngàn năm qua. Giáo hội sẽ vượt qua những trận cuồng phong này bởi vì Chúa Ki-tô đang ở trong lòng Giáo Hội.

Nói ra có vẻ mẫu thuẫn nhưng bão tố hiện tại có thể lại là một ân sủng đặc biệt cho Giáo Hội. Thực tế cho thấy chỗ ao tù nước đọng thường nguy hiểm hơn là những nơi có dòng chảy thay đổi. Dòng nước đọng chứa đựng nhiều vi trùng, mầm mống của bênh tật nguy hiểm, trong khi những dòng thác, sóng cồn lại có sức mạnh tẩy sạch và thêm sức mạnh cho môi trường. Lịch sử cho thấy, đã có thời gian dài, sinh hoạt tôn giáo bất động trong những quy chuẩn, truyền thống, cố hữu và nhàm chán, càng ngày càng kém cập nhật để trở nên men nên muối cho đời. Và sự im lìm bất động này lại là tiền đề cho những cơn giông bão lớn.

Cụ thể là Công đồng Vaticanô II đã cho thấy sức gió của Chúa Thánh Thần, làm cho chúng ta hiểu được rằng Giáo Hội phải đón nhận những cơn sóng lớn trên biển đời. Được khuấy động trong mọi khía cạnh, đó là điều tốt khi có những giông bão như thế, vậy chúng ta không nên ngạc nhiên về biến chuyển đang diễn ra hôm nay.

Đôi khi Thiên Chúa có vẻ ngủ yên giữa  biển đời tràn đầy biến động. Có vẻ như không có rào cản nào ngăn cản sự vô luân, tham nhũng và hiểm ác. Xã hội vẫn nhan nhản các tiệu cực hàng ngày diễn ra: gia đình cãi vã và chia ly, chiến tranh khủng bố diễn ra hàng ngày, các tệ nạn mại dâm, buôn lậu, ma túy và bạo lực xuất hiện đầy trên báo chí! Dù có những sự dữ đó thì Chúa Giê-su vẫn nhắc nhớ chúng ta rằng: “các con đừng sợ.”

Trên bình diện cá nhân cũng như trên bình diện Giáo Hội, đời sống chúng ta là một cuộc vượt qua biển đời với biết bao sóng gió: như bác sỹ cho biết mình bị ung thư, hay vợ chồng lục đục cãi vã vì các mối quan hệ ngoài luồng, bị mất công ăn việc làm vì dịch bệnh Covid, hoặc con cái chơi bời lêu lổng bị bắt vì đua xe, nghiện hút ma túy…Nhưng chính Chúa Giê-su nói trong bài Tin mừng hôm nay: “ Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?”. Chúa mời gọi chúng ta đạt tới niềm hy vọng, mặc dù có nhiều khó khăn và thử thách bủa vây. Ngài mời gọi chúng ta tìm kiếm một chân trời mới như Ngài nói với các tông đồ: “chúng ta hãy sang bờ biên kia”. Cần phải từ bỏ nếp sống cũ, những gì tiêu cực để hướng về chân trời mới.

Tin mừng hôm nay nhắc nhớ rằng, dù có chao đảo vì giống tố cuộc đời, thì chúng ta vẫn có thể sống trong bình an trong tâm hồn vì Chúa Giê-su đang ở cùng chúng ta dù có vẻ như Ngài đang ngủ.

Ki-tô hữu là người biết mời Chúa vào trong con thuyền đời mình. Bao lâu Chúa ở trong  thuyền thì dù bão tố có mạnh đến đâu cũng không có thể làm cho chúng ta bị chìm vì chính Chúa đã nói: “ Tại sao các con lại sợ hãi thế, Thầy đang ở cùng các con mà. Hãy vững tin.”

Yêu thương kẻ thù để nên trọn lành

Hôm nay Chúa Giê-su chỉ cho thấy điều mà Ngài chờ đợi mỗi chúng ta, là: hãy nên thánh vì Thiên Chúa là Đấng Thánh.

Và luật về sự thánh dạy là phải yêu thương. Yêu thương như trong bài Tin mừng Chúa Giêsu dạy, thì phải mở rộng đến kẻ thù. Cụ thể là:

– Theo tinh thần Cựu Ước, người ta có quyền trả đũa “Mắt đền mắt, răng thế răng”. Còn theo giáo huấn của Đức Giêsu thì đừng trả đũa nhưng hãy nhường nhịn.

– Theo tinh thần Cựu Ước, người ta chỉ yêu thương người đồng bào. Còn theo giáo huấn của Đức Giêsu thì hãy yêu thương thù địch và lấy ơn để báo oán.

Lý do của lòng yêu thương bao la ấy là chúng ta phải noi gương Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên trời, “Đấng làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ, làm cho mưa xuống trên người công chính lẫn kẻ bất lương”.

Như thế, giáo huấn về yêu thương của Đức Giêsu thể hiện đúng nguyên tắc mà Luật về sự thánh trong sách Lêvi đã đề ra : “Các ngươi hãy nên thánh, vì Ta là Đấng Thánh”.

Nên thánh thiện bằng việc yêu thương kẻ thù, ở đây không phải là  sự thiện cảm, mà là một thiện chí. Martin Luther King là một mục sư da đen, người đã đấu tranh để người da đen không còn bị người da trắng ngược đãi. Ông có một cách hiểu rất dễ chấp nhận về lời Chúa Giêsu dạy “Hãy yêu thương kẻ thù”, như sau :

Trong Tân Ước, chúng ta thấy từ Agapè được dùng để chỉ tình yêu. Đó chính là tình yêu dồi dào không đòi một đáp trả nào hết. Các nhà thần học nói đó là tình yêu Thiên Chúa được thực hiện nới tâm hồn con người. Khi vươn lên một đỉnh tình yêu như vậy, chúng ta sẽ yêu hết mọi người, không phải vì chúng ta có thiện cảm với họ, cũng không phải vì chúng ta đánh giá cao lối sống của họ. Chúng ta yêu thương họ vì Thiên Chúa yêu thương họ. Đó chính là ý nghĩa lời Đức Giêsu dạy “Anh em hãy yêu thương kẻ thù”. Phần tôi, tôi sung sướng vì Ngài đã không nói “Anh em hãy có thiện cảm với kẻ thù của anh em” bởi vì có những người mà tôi khó có thiện cảm nổi. Thiện cảm là một xúc cảm. Tôi không thể có xúc cảm với người đã ném bom vào gia đình tôi. Tôi không thể có thiện cảm với người bóc lột tôi. Tôi không thể có thiện cảm với người đè bẹp tôi dưới sự bất công. Không, không thể có một thiện cảm nào đối với người đêm ngày đe dọa giết tôi. Nhưng Đức Giêsu nhắc tôi rằng tình yêu còn lớn hơn thiện cảm, rằng tình yêu là thiện chí biết cảm thông, có tính sáng tạo, cứu độ đối với hết mọi người”.

Tình yêu mà Chúa Giê-su dạy chúng ta là là một tình yêu thiện chí, có nghĩa là hướng tình yêu của chúng ta trở nên giống tình yêu của Chúa.

Chuyện kể rằng: có hai người thổ dân Nam Phi rất ghét nhau. Ngày kia một trong hai người gặp đứa con gái nhỏ của kẻ thù đang đi trong rừng. Hắn liền bắt cô bé, chặt đứt ngón tay rồi thả ra. Cô bé vừa chạy vừa khóc, còn hung thủ vừa đi vừa la: Ta đã trả thù được rồi. Mười năm sau, cô bé lúc đó đã có chồng và có con. Ngày kia, một kẻ ăn mày tới xin ăn, bà nhận ra đó là kẻ đã chặt tay mình, nên vội vàng vào nhà, bảo tôi tớ đem cơm thịt và cá ra đãi. Khi kẻ thù đã ăn xong, bà bèn giơ bàn tay cụt ra cho coi và nói: Tôi cũng đã trả thù được rồi.

Sự trả thù của cô bé, chính là một thiện chí mà mỗi chúng ta là con cái Chúa được gọi mời thực hiện. Thiện chí chỉ có được khi mỗi chúng ta có một tình yêu như chính Chúa Giê-su yêu thương.

Mỗi Thánh lễ được cử hành sẽ nhắc lại cho chúng ta tình yêu tự hiến của chính Chúa Giê-su Ki-tô cho toàn thể nhân loại. Ước gì Thánh lễ này giúp cho mỗi chúng ta cảm nhận được tình yêu của Chúa để sống tình yêu ấy mỗi ngày. Lạy Chúa, xin làm cho chúng con trở nên khí cụ bình an của Chúa để chúng con biết : đem yêu thương vào nơi oán thì, đem thứ tha vào nơi hy vọng, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đêm chân lý vào chốn lỗi lầm.

Thánh An-tôn, nhà giảng thuyết lừng danh

Thành phố Padua là thành phố nổi tiếng của miền Bắc nước Ý, nơi thánh Antôn làm chứng cho Tin mừng nước Chúa bằng tài hùng biện và đời sống thánh thiện của Ngài. Chính vì muốn ca ngợi tài lợi khẩu của Ngài mà tại trung tâm của Đền thờ thánh Antôn, người ta đã cho trưng bày chiếc lưỡi của Thánh nhân được đặt trong hào quang để mọi người tôn kính.

Chiếc lưỡi thật của thánh Antôn là chiếc lưỡi cũng giống như bao nhiêu chiếc lưỡi khác nhưng lại là chiếc lưỡi thánh vì nhờ có nó mà thánh Antôn đã trở thành vị đại thánh tiến sỹ mà chúng ta mừng kính hôm nay. Chúng ta cùng suy gẫm về cái lưỡi để qua đó chúng ta được tại sao chiếc lưỡi của thánh Antôn lại được tôn kính như vậy. 

  1. Ý nghĩa của lưỡi

Nói đến chiếc lưỡi, hẳn ai trong chúng ta cũng chẳng lạ gì, một bộ phận không xương để giúp cho con vật nuốt thức ăn, hay để kêu lên,  còn đối với con người thì ngoài việc nếm và nuốt thức ăn, chiếc lưỡi còn dùng để diễn tả tư tưởng qua lời ăn tiếng nói. Chính vì thế mà đã có câu truyện ngụ ngôn kể  về chiếc lưỡi rằng:

Ông chủ kia một hôm sai đầy tớ ra chợ và bảo : “Hãy mua cái gì ngon nhất về cho ta uống rượu”.

Người đấy tớ ra chợ  mua cái lưỡi lợn về xào nấu thật ngon đem lên. Ông chủ ăn khen ngon, lần sau ông lại sai đầy tớ đi chợ, nhưng mua món gì dở nhất, người đầy tớ cũng lại mua cái lưỡi lợn. Ông chủ ăn xong ngạc nhiên hỏi :

“Tại sao lần trước ta sai ngươi mua cái gì ngon nhất ngươi mua cái lưỡi, lần này ta bảo ngươi mua cái gì dở nhất ngươi cũng mua cái lưỡi ?”

Người đầy tớ trả lời: “Thưa ông, đúng thế, vì những lời nói tốt lành nhất cũng là từ cái lưỡi, mà những lời nói xấu xa nhất người ta nói ra cũng là từ cái lưỡi.”

Như vậy, lời nói được thốt ra từ miệng lưỡi có thể tốt đẹp nếu nó xây dựng, thông cảm, ủi an… và có thể xấu xa vì nó có sức tàn phá, gây khổ đau cho người khác.

  • Gương mẫu của thánh Antôn

Chúng ta cùng nhau bước vào ý tưởng thứ hai…để nói về việc thánh Antôn đã sử dụng như thế nào chiếc lưỡi của mình. Theo thánh tích thuật lại thì thánh nhân đã dùng miệng lưỡi của mình không làm gì khác ngoài việc để xây dựng Nước Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Thật vậy, nhờ tài lợi khẩu, nhờ gương sáng đạo đức và thánh thiện, thánh Antôn được các Bề Trên tin tưởng, tín nhiệm sai đi giảng khắp nơi và lo công việc đào tạo, giáo dục các tu sĩ trong Dòng. Được ơn riêng của Chúa ban sức mạnh, và Chúa Thánh Thần luôn tác động tâm hồn thánh nhân, nên lời giảng của Ngài luôn luôn có sức thu hút, lôi cuốn nhiều người. Không chỉ có lời giảng xuông, mà Chúa củng cố lời giảng của thánh Antôn bằng nhiều phép lạ kèm theo, như câu chuyện kể về phép lạ thánh nhân làm cho con La của một người Do thái cứng tin quỳ phủ phục để thờ lạy Thánh Thể thay vì ăn thúng lúa mạch mặc dù nó bị bỏ đói hai ngày. Chính phép lạ này mà thánh Antôn đã thắng cược và người đàn ông Do thái kia đã bật khóc vì xúc động và xin được gia nhập đạo thánh Chúa.

Nhờ khả năng Chúa ban, Thánh nhân không những có ảnh hưởng rất lớn tại nước Ý, và tại nước Pháp mà danh tiếng của Ngài còn lan rộng khắp thế giới  nhờ vào tinh thần làm việc không biết mệt mỏi, không bao giờ ngơi nghỉ. Chính vì lẽ đó mà Ngài được đặt tên là “ Hòm Bia Giao Ước” và là “ Cái búa của bọn lạc giáo” đúng như lời  sách thánh đã nói: “ Các hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ, những ai làm cho muôn người nên công chính, sẽ chiếu sáng như những vì sao, đến muôn thuở muôn đời”( Đn 12, 3 ). Thánh An tôn đã biết sử dụng chiếc lưỡi của mình để xưng tụng Thiên Chúa.

  • Noi gương thánh Antôn

Tất cả điều đó đưa chúng ta tới ý tưởng cuối cùng. Đó là việc nhìn ngắm gương sáng của thánh Antôn, qua đó chúng ta có dịp phản tỉnh cuộc sống đức tin của mình  và noi gương bắt chước thánh Antôn trong việc rao truyền Lời Chúa bằng chính miệng lưỡi của mình. Tục ngữ cha ông ta vẫn thường nói:

Lời nói chẳng mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

Đó là lời nhắc nhở những ai làm người hãy biết dùng lời nói để xây dựng yêu thương. Trong thực tế, không phải ai cũng ý thức được điều này bởi vì cái tôi vị kỷ thường ngăn cản người ta nói lời Chúa và nói theo lời dạy của Chúa. Đã có biết bao người dùng cái lưỡi để nói những “lời hay, ý đẹp”, khuyến khích, khuyên bảo, cầu nguyện, hòa giải,… Nhưng cũng có biết bao người lại dùng cái lưỡi để chỉ trích, gây chia rẽ, phỉ báng, nguyền rủa, trách móc, chê bôi, chửi rủa,…Vâng, tốt hay xấu cũng từ cái lưỡi, và chính cái lưỡi tạo nên nhiều rắc rối.

Bên cạnh việc dùng lời hay ý đẹp để làm chứng tá cho Chúa trong cuốc sống thường ngày, thì cách riêng đối với mỗi chúng ta mừng lễ thánh An-tôn hôm nay cũng ý thức được nhiệm vụ ngôn sứ của mình để mà biết noi gương sáng của thánh Antôn. Gương sáng trong việc rao giảng Lời Chúa.

Kết luận:

Với lòng thành kính mến yêu mà mỗi người chúng ta dành cho thánh Antôn trong ngày mừng lễ ngài hôm nay, nguyện xin thánh Antôn tiếp tục chuyển cầu cho toàn thể Giáo Hội, nhất là cho mỗi chúng ta biết dùng miệng lưỡi Chúa trao ca tụng và làm chứng tá cho Tin mừng của Đức Kitô.

Trong ngày mừng lễ Antôn,  xin cho mỗ chúng ta luôn ý thức và quan tâm đến chức vụ ngôn sứ của mình mà rao giảng và hiện tại hóa Lời Chúa trong đời sống đạo mỗi ngày, như Thánh Antôn đã khuyên dạy: “Nếu các bạn rao giảng Chúa Giêsu, Người sẽ làm tan chảy những cõi lòng khô cứng; nếu các bạn kêu cầu Người, Người sẽ làm dịu đi những cám dỗ dữ dằn; nếu các bạn nghĩ về Người thì Người sẽ soi sáng trí khôn bạn; nếu các bạn đọc về Người thì Người sẽ làm cho trí khôn bạn thỏa mãn”(Sermones Dominicales et Festivi III, p. 59). Amen.

Tín thác trong sự quan phòng của Thiên Chúa

Trong những ngày này, nạn dịch covid 19 liên tục tái bùng phát làm cho nhiều người phải chịu đau khổ, lo lắng vì biết bao hệ lụy liên quan tới mọi lãnh vực của đời sống. Nạn dịch này cũng như các biến cố đau buồn xẩy ra xung quanh chúng ta làm cho chúng ta đặt câu hỏi: Vậy Chúa hiện diện sao lại để xẩy ra như thế, sao Chúa không can thiệp để những sự dữ đừng xẩy ra. Đã đành có những sự dữ là do con người gây ra nhưng những hiện tượng tự nhiên trên đây thì đâu phải do con người. Và nhiều người lành đã phải chịu những sự dữ và chỉ biết kêu than, có khi kêu trách của Chúa.

Tiếng kêu than này cũng là tình trạng của dân chúng thành Giê-ru-sa-lem khi xưa, khi họ bị lưu đày và hầu như là hoàn toàn tuyệt vọng vì nước mất nhà tan. Ngôn sứ Ezekiel đã chứng kiến sự sụp đổ này của đất nước nhưng ông lại loan báo cho dân về niềm hy vọng đến từ Thiên Chúa. Như hạt giống nhỏ bé được gieo trồng sẽ lớn mạnh và trở thành một cây to, thì dân Israel cũng thế, trong cảnh sầu thương, Thiên Chúa sẽ làm cho họ sống động một cách diệu kỳ. Ngôn sứ đã dùng những từ ngữ đầy hình ảnh để khích lệ dân hãy can đảm và sống trong hy vọng tràn trề. Sự thù hận, bạo lực và sự dữ không phải là tiếng nói cuối cùng, nhưng chính tình yêu sẽ toàn thắng.

Và trong bài Tin mừng của Thánh Máccô chúng ta vừa nghe,chínhChúa Giê-su đã dùng dụ ngôn về hạt giống để nói lên sức sống của niềm tin, tình yêu biết phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa. Chúa sẽ cho hạt giống nảy mầm và trổ sinh bông trái. Nhưng giữa khoảng cách của hạt giống và mùa màng bội thu cần phải có thời gian. Đây là hình ảnh cho mỗi chúng ta thấy Nước Thiên Chúa sẽ đến với chúng ta như mùa gặt sẽ đến sau thời gian lao công vất vả của nhà nông gieo trồng và chăm bón cho cây lúa. Quả vậy, với hình ảnh mà Chúa Giê-su dùng trong dụ ngôn hôm nay thì Thiên Chúa chúng ta có vẻ như vắng mặt nhưng lại hiện diện rất cụ thể và sống động trong chương trình cứu độ của Ngài.

Với con mắt và đôi tai, chúng ta có thể biết được những gì đang xẩy ra trong cuộc sống hôm nay. Nhưng để nhận ra hoạt động của Thiên Chúa thì cần phải nhìn bằng con mắt đức tin. Như các môn đệ trên đường Emmau khi xưa, chúng ta cũng chỉ nhận ra sự hiện diện của Đức Ki-tô khi lắng nghe giải thích Kinh thánh và khi tham dự bàn tiệc Thánh Thể. Chính nơi Đức Ki-tô mà cuộc đời chúng ta mới tìm được ý nghĩa. Vậy mỗi chúng ta cần tin tưởng tuyệt đối rằng dù trong cảnh tận cùng của đau khổ, Thiên Chúa vẫn không bao giờ lìa bỏ chúng ta.

Cách cụ thể hơn, chúng ta hãy tin rằng Thiên Chúa đang hành động khi ta thấy biết bao người làm điều ác và sự dữ thật lòng ăn năn sám hối, bỏ đường tà mà trở về nẻo chính đường ngay; Thiên Chúa hành động khi mà mọi người từ già đến trẻ biết đi ra khỏi sự ích kỷ nhỏ nhen để loại trừ điều ác, và tích cực xây dựng hòa bình và hòa giải lẫn nhau. Thiên chúa đang hành động khi mà những nhà khoa học biết phát minh hay tìm ra những phương thế và phương thuốc để chống lại sự hoành hành của bệnh tật. Ngài tiếp tục hành động khi có nhiều người biết liên đới với nhau để tổ chức các hoạt động cứu giúp và viếng thăm những người bệnh, tù đày và bị bỏ rơi.

Những nghĩa cử cao quý mà chúng ta làm cho nhau chính là dấu chỉ cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa ở mọi nơi trong thế giới này. Chúng ta cũng giống như người nông dân trong dụ ngôn được mời gọi cặm cụi hy sinh công sức qua những tháng ngày để chăm bón cho hạt giống được gieo trồng và hiệu quả lớn lao sẽ đến dù chúng ta không biết và không hiểu gì như hạt cải nhỏ bé được gieo vào lòng đất và một ngày nó sẽ trở thành cây to đến nỗi chim trời có thể tới ẩn trú dưới những cành của nó.

Cuộc sống mỗi chúng ta lãnh nhận từ nơi Chúa và chính Chúa sẽ chăm sóc và cho nó lớn lên mỗi ngày. Vậy trong niềm tin tưởng đó, chúng ta hãy đặt bản thân mình trong sự kiên trì và làm những gì mà ta phải làm, phần còn lại để Chúa tiếp tục làm cho lớn lên.

Lạy Chúa, Chúa dạy chúng con biết gieo trồng những hạt giống tình yêu, công lý, bình an và hòa giải… nhưng chính Chúa lại cho những hạt giống này mọc lên và trổ sinh bông trái. Vâng, không có Chúa chúng con chẳng làm được gì, xin cho chúng con biết kiên trì xây dựng cuộc sống của chúng con trong tình thương, sự liên đới và tình huynh đệ anh em. Ước gì cuộc đời chúng con luôn kết hiệp với Chúa để Nước Chúa được hiển trị ngay tại trần gian này. Amen.

Thánh Thể, hy lễ hiệp thông

Kết thúc mùa Phục sinh và khi bước vào mùa Thường niên, phụng vụ Giáo Hội cho chúng ta mừng ba lễ trọng kính Chúa: đó là lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Lễ Chúa Ba Ngôi và kính Mình Máu Thánh Chúa, để nhấn mạnh tới mầu nhiệm Nhập Thể, mầu nhiệm Thiên Chúa ở cùng như chính Lời Chúa Giê-su khẳng định: và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế. (Mt 28, 20)

Lễ kính Mình Máu Thánh Chúa Giê-su cử hành giao ước giữa Thiên Chúa và nhân loại. Hàng năm trong Giáo Hội, có các cử hành rước Mình Máu Thánh Chúa long trọng qua các đường phố và thôn xóm, như là một sự tuyên xưng đức tin cách công khai. Năm nay vì đại dịch Covid đang tái bùng phát, chúng ta buộc phải cử hành ngày lễ trọng đại này trong sự âm thầm.

Lịch sử Kinh Thánh là lịch sử của Thiên Chúa đi tìm kiếm con người để ký kết giao ước với họ: với Noê, sau nạn hồng thủy; với Abraham như một người bạn; với Môisê như một người giải phóng. Sau đó, các ngôn sứ loan báo một giao ước mới được ký kết riêng biệt với từng người trong chúng ta, giao ước sẽ được thực hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô.

Khi Chúa Giê-su cử hành lễ Vượt qua, vây quanh Chúa không phải là những con người hoàn hảo. Ở đó có ông Phê-rô, Giu-đa, Gio-an, và các Tông đồ khác. Chúa biết rõ sự yếu đuối của họ. Chúa cũng thường ăn uống với các người thu thuế và tội lỗi. Chúa cũng đón tiếp các gái điếm, các người thu thuế, các người thấp hèn nhưng biết đặt niềm tin nơi Chúa. Vì thế mà đã có lần người ta đã hỏi Chúa: tại sao ông lại ăn uống với phường tội lỗi? Bữa tiệc ly là một kỷ niệm trong những bữa ăn của Chúa Ki-tô với các bạn hữu Chúa, với những ai đặt niềm tin nơi Chúa và khao khát tìm kiếm ơn cứu độ nơi Ngài.

Tân ước tường thuật cho chúng ta bốn câu chuyện về bữa tiệc ly: đó các câu chuyện của thánh Mác-cô, Lu-ca, Mát-thêu và Phao-lô. Thánh Gio-an thay thế tường thuật Thánh thể bằng việc rửa chân cho các môn đệ. Bốn câu chuyện đều có một điểm chính yếu, nhưng lại trình bày bằng những cách thức có chút ít khác biệt.

Rõ ràng là không có một câu chuyện nào kể lại tất cả điều mà Chúa Giê-su đã làm trong bữa tiệc cuối cùng. Thực vậy, ta không biết những lời chính xác được Chúa Giê-su nói trong bữa tiệc ly. Hiện tại chúng ta có văn bản phụng vụ, từ đó giúp cho chúng ta hiểu được các cộng đoàn ki-tô hữu sơ khai cử hành theo ký ức, và tưởng niệm về bữa tiệc ly. Giáo Hội tiên khởi đã bận tâm cho việc sống Bí tích Thánh Thể hơn là thực hiện chi tiết về bữa tiệc ly.

Thiên Chúa là Đấng đầy lòng từ bi, nhân từ và hay thương xót. Vào bữa ăn cuối cùng, Chúa đã nêu gương về sự phục vụ khi quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ, hơn là chia sẻ với các ông bánh và rượu. Chúa đã yêu cầu các môn đệ ghi nhớ cử chỉ phục vụ thân ái này: Anh em hãy làm điều này để nhớ đến Thầy…Anh em hãy làm như thầy đã làm cho anh em…”. Vấn đề không phải là sự ghi nhớ bất động, tê liệt nhưng là một sự ghi nhớ năng động và cởi mở để mời gọi chúng ta thực thi những điều mới mẻ, tham gia vào việc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.

Nhờ bí tích Thánh Thể, Chúa Ki-tô muốn lưu ý một số yếu tố quan trọng cho đời sống của mỗi chúng ta trong Giáo Hội: trước hết Ngài nhắc nhở chúng ta rằng hận thù và chia rẽ có thể phá hủy tình huynh đệ và hiệp thông khi tham dự cử hành thánh lễ. Vì thế mà Chúa đã nói trong Tin mừng rằng: “ Khi anh em dâng của lễ trên bàn thế mà chợt nhớ có người anh em nào bất hòa với anh em thì hãy để của lễ ở đó, đi làm hòa với người anh em đó đã rồi mới đến dâng của lễ”.

Biểu tượng của lễ kính Mình Máu Chúa là biểu tượng của sự hiệp nhất trong những khác biệt, nhờ tấm bánh bẻ ra trao ban cho tất cả mọi người. Thánh lễ nói lên sự hiệp nhất từ các người già cho đến người trẻ, không phân biệt  đảng phải chính trị, đẳng cấp xã hội. Thánh lễ quy tụ đủ mọi hạng người từ người giàu đến người nghèo, người thánh thiện hay người tội lỗi, người có gia đình hay người độc thân. Tất cả đều trở nên anh chị em trong Chúa Ki-tô, chính Ngài quy tụ chúng ta xung quanh Ngài để cùng chia sẻ tấm bánh hằng sống.

Thánh Thể luôn luôn có mối liên hệ trực tiếp với đời sống hằng ngày của chúng ta. Vào cuối mỗi thánh lễ, vị chủ tế cất lên lời kết lễ: Lễ xong chúc anh chị em đi bình an như là một lời mời gọi ra đi trở về gia đình, về môi trường sống trong sự chúc lành bình an của Chúa Ki-tô.

Trải qua bao nhiêu thế kỷ, hàng triệu tín hữu khi tiếp xúc với Lời Chúa và cùng chia sẻ Mình Máu Thánh Chúa, đều nhận được một động lực mới trong bí tích mà chúng ta đang cùng nhau cử hành trong các nhà thờ.

Ước gì lễ kính Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô, ngày lễ của bí tích Thánh Thể giúp chúng ta cảm nghiệm rõ hơn về Thiên Chúa hằng yêu thương và chăm sóc mỗi chúng ta như những người con yêu dấu. Ước gì ngày lễ hôm nay giúp cho mỗi chúng ta cảm nghiệm rõ hơn về ý nghĩa của đời sống chúng ta và gia tăng nơi chúng ta niềm tin yêu và hy vọng. Amen.

Scroll to Top