Đời sống đức tin

Sức mạnh độc nhất của tôi là Bí tích Thánh Thể

Trong ngày lễ Mình Máu Chúa Giê-su hôm nay, để hiểu được ý nghĩa của ngày lễ, chúng ta cần hiểu từ ngữ Mình và Máu ở đây theo ý nghĩa kinh thánh hơn là hiểu theo ý nghĩa thông thường. Theo nghĩa Kinh thánh thì Mình Chúa không có nghĩa là thân xác nhưng là con người toàn thể. Khi ta nói rằng Chúa Giê-su nộp mình vì chúng ta và cho muôn người có nghĩa là Ngài hiến thân mình để ban ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại.

Hy tế của Chúa Giê-su cũng là hy tế của toàn thể Hội thánh. Điều này nhắc nhở chúng ta trong câu mời gọi cuối phần dâng lễ vật: anh chị em hãy cầu nguyện để hy tế của tôi và của anh chị em được Thiên Chúa là Cha toàn năng chấp nhận. Hy lễ của tôi và của anh chị em ở đây nói lên hy lễ của toàn thể Giáo Hội được tháp nhập vào Hy Tế của Đức Giê-su để dâng lên Chúa Cha.  Hy tế này không chỉ là hy tế  của cộng đoàn hiện diện nhưng qua cộng đoàn tất cả Giáo Hội dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa. Và khi linh mục cất lên lời kinh hiệp lễ “ đây Chiên Thiên Chúa đây đấng xóa tội trần gian” là ngài không chỉ nói lời này với cộng đoàn hiện diện nhưng là nói với toàn thể thế giới. Lời này có ý nghĩa là Chúa Ki-tô tự hiến thân mình làm của ăn  nuôi sống nhân loại và phục vụ con người. Ngài yêu thương từng người bằng một tình yêu vượt trên tất cả những gì mà chúng ta có thể tưởng tượng.

Vậy đâu là giây phút quan trọng nhất trong hy tế thánh thể? Thưa đó là giây phút truyền phép, giây phút bánh và rượu trở nên Mình và Máu Chúa Ki-tô. Đây là cao điểm của tình yêu mà Đức Giê-su Ki-tô dành cho chúng ta, vì chính chúng ta mà Chúa Giê-su đã tự hiến thân mình. Món quà này không chỉ dành cho những ai hiện diện trong ngôi nhà thờ này mà cho toàn thể nhân loại. Đức Giê-su đã được gửi đến cho nhân loại không phải để lên án nhưng là để cứu rỗi.

Vậy, Thánh lễ là hy tế của Đức Ki-tô mà mỗi chúng ta được mời gọi tham dự, là giây phút quan trọng nhất của tuần lễ. Chúa Ki-tô phục sinh nối kết chúng ta với ngài trong khi cử hành thánh lễ. Mỗi lần thánh lễ chúng ta cử hành là mỗi lần Đức Ki-tô yêu mến chúng ta hơn bao giờ hết. Trong những lúc mà chúng ta thiếu vắng linh mục dâng lễ, thánh lễ thật là vô giá đối với người tín hữu chúng ta, vì như trong cuốn 5 chiếc bánh và 2 con cá, Đức Cố Hồng Y đã cảm nghiệm rằng “sức mạnh độc nhất của tôi là bí tích Thánh Thế”. Chính vì thế ngài đã chia sẻ rất cảm động về thời gian ở trong tù rằng: câu hỏi mà bao nhiều người hỏi tôi là “Trong tù cha có dâng lễ được không?” Và thực sự họ có lý, vì Thánh Thể là kinh nguyện đẹp nhất, là đỉnh cao của cuộc đời Chúa Giêsu. Mỗi khi tôi trả lời “có”, thì tôi đã biết ngay câu hỏi tiếp sau: “Làm sao cha kiếm ra rượu lễ, bánh lễ?”

Lúc tôi bị bắt, tôi phải đi ngay và đi tay không. Hôm sau tôi được phép viết về nhà để xin đồ cần dùng nhất như áo quần, kem đánh răng, v.v… Hàng đầu tiên, tôi viết: “Xin gửi cho tôi ít rượu thuốc trị bịnh đường ruột”. Bên ngoài, giáo dân hiểu ngay. Hôm sau, ông trưởng ban chấp pháp cầm đến một ve nhỏ bên ngoài có dán giấy đề chữ “thuốc trị bịnh đường ruột” và bánh lễ xé nhỏ bỏ trong một cái lọ chống ẩm, ông ta hỏi:

– Ông có bị bịnh đường ruột không?

– Có.

– Ðây là thuốc bên ngoài gửi vào cho ông!

Không bao giờ tôi vui bằng hôm đó: từ đấy mỗi ngày với ba giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay, tôi dâng thánh lễ.

Cũng như Đức cố Hồng Y, bí tích thánh thể thật sự là nguồn sức mạnh độc nhất của chúng ta, vì thiếu Mình và Máu Thánh Chúa, đời sống thiêng liêng của mỗi chúng ta sẽ chế, đời sống đức tin của chúng ta sẽ chết.

Như Đức Hồng Y đã cảm nghiệm: “Thánh Thể, Thịt Máu Chúa làm cho chúng tôi sống, “ ta đến là để chúng có sự sống và có một cách dồi dào”. Như Manna nuôi dân Do Thái đi đường về đất hứa, Thánh Thể sẽ nuôi con đi cùng đường hy vọng.”

Quả vậy Đức Ki-tô đang hiện diện với chúng ta như tấm bánh sống động từ trời ban xuống. Nếu ai ăn bánh này người đó sẽ có sự sống đời đời. Thánh thể thật sự là một món quà tuyệt hảo vì đó là của ăn cho sự sống đời đời của mỗi chúng ta.

Trong ngày lễ kính Mình Máu Thánh Chúa, chúng ta hãy tiếp tục dâng lời lời tạ ơn về điều kỳ diệu mà Chúa ban xuống nhân loại. Và chúng ta hãy dâng lên Chúa lời cầu nguyện lời nguyện của vị linh mục chủ tế trước khi rước lễ: Xin Mình và Máu Chúa cứu  con khỏi mọi tội lỗi và mọi sự dữ; xin cho con hằng tuân giữ giới răn Chúa và đừng để con lìa xa Chúa bao giờ. Amen.

Mạc khải Tình yêu

Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Ba Ngôi: Một Thiên Chúa có Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Các nhà thần học đã tìm cách để đưa ra những định nghĩa rõ ràng nhất, nhưng nếu chúng ta không hiểu thì cũng không nên thất vọng. Điều quan trọng nhất,  không phải là hiểu được mầu nhiệm này nhưng là đi vào để cảm nhận được mầu nhiệm ấy. Điều mà chúng ta quan tâm hôm nay đó là khám phá ra Thiên Chúa tự mạc khải chính Ngài khi can thiệp vào đời sống con người. Mạc khải này được thực hiện cách tiệm tiến trong suốt chiều dài lịch sử.

Trong bài đọc thứ nhất, Chính Thiên Chúa tự tỏ mình ra cho dân được tuyển chọn. Dân tộc này đang chịu cảnh nô lệ bởi ngoại bang. Nhưng Thiên Chúa đã chọn Maisen để giải thoát họ và dẫn đưa họ qua sa mạc. Vào lúc mà sứ điệp này được gửi tới cho dân thì cũng là lúc mà dân Do thái chuẩn bị đi vào Đất Hứa. Họ được mời gọi khám phá ra lòng quảng đại của Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa tự tỏ mình khi ký kết giáo ước với dân.

Niềm vui này cũng được gửi đến cho mỗi chúng ta hôm nay cũng như khi xưa, Thiên Chúa thấy được cảnh khốn cùng của dân Ngài. Ngài thấy các nước đang gây chiến với nhau; thấy nỗi thống khổ của những người bị mất tất cả, bị bỏ rơi. Và chắc chắn, ngài không quên những người đau yếu, những người đang chịu cảnh dịch bệnh, những người bị bỏ rơi và bị loại trừ…Ngài tiếp tục nói với chúng ta niềm mong ước của Ngài là giải phóng dân Ngài và Ngài đặt niềm tin nơi những ai tham dự vào sứ mạng này. Mỗi chúng ta hôm nay được sai đi mang tình yêu của Chúa đến với thế giới. Qua mỗi chúng ta, chính Thiên Chúa loan báo cho muôn dân tin mừng cứu độ.

Như vậyThiên Chúa mạc khải cho chúng ta khi biểu lộ tình yêu của Ngài. Trong bài đọc II, thánh Phaolô nói với chúng ta rằng mỗi người là nghĩa tử của Chúa. Chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha. Vâng, Thiên Chúa là Cha chúng ta, một người Cha yêu thương con cái mình. Ngài muốn mỗi người con được hưởng ơn cứu độ. Như câu chuyện Người Cha Nhân Hậu, đứa con thứ đã sám hối trở về. Nó quý dưới chân Cha nó và đã được Cha nó đón nhận và phục hồi chức vị làm con. Nó tìm lại được vị trí của nó trong gia đình. Cũng vậy Thiên Chúa yêu thương chúng ta như những người con yêu dấu, và cho chúng ta trở nên người em của Chúa Giê-su. Tất cả những ân huệ đó được thực hiện trong tác động của Chúa Thánh Thần.

Bài Tin mừng hôm nay nói với chúng ta rằng Chúa Giê-su Ki-tô đã đến trong trần  gian để giúp các Tông đồ hiểu biết về Thiên Chúa đích thật. Và Ngài gửi các ông đi vào thế giới để loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo. Họ đã theo Chúa Giê-su lên núi cao. Theo ngôn ngữ kinh thánh, núi cao biểu tượng cho sự hiện diện của Thiên Chúa. Chính nơi đó Chúa Giê-su mạc khải cho các ông. Như các tông đồ mỗi chúng ta được mời gọi quỳ gối và thờ kính Thiên Chúa. Sự tôn thờ đích thật hệ tại ở việc nhận biết Thiên Chúa như chính Ngài là hiện thân.

Với lệnh truyền mà Chúa gửi đến cho các Tông đồ là loan báo Tin mừng cho muôn dân, Chúa muốn các ông khởi đầu giao ước mới. Với giáo ước cũ, Thiên Chúa chỉ mạc khải cho một dân tộc, nhưng với giao ước mới, Thiên Chúa tỏ mình cho muôn dân trên toàn thế giới.

Điều hệ tại không phải là trở nên các tín đồ, cho bằng trở nên các môn đệ của Chúa Ki-tô, trở nên những con người phục vụ, loán báo tin mừng và làm phép rửa. Bí tích rửa tội mà chúng ta lãnh nhận dìm chúng ta trong đại dương của tình yêu Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần. Tin mừng là một câu chuyện tình yêu không bao giờ kết thúc, một câu chuyện tình yêu luôn luôn tươi mới và mở rộng.

Chúng ta được trở nên các chứng tá hăng say của câu chuyện tình yêu đó. Với sự mạng rao giảng Tin mừng, mỗi chúng ta không ở một mình. Thiên Chúa hứa sẽ ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Ngài nuôi dưỡng chúng ta bằng Lời của Ngài, bằng Mình Máu Ngài. Ngài luôn có đó để ban thêm sức mạnh, sự can đảm để chu toàn sứ mạng. Chính Mẹ Maria nói với chúng ta hôm nay: Thầy bảo gì thì hãy làm theo.

Khi cử hành Thánh lễ này, chúng ta cùng hướng lòng lên Chúa trong niềm tri ân và cảm tạ, vì mỗi chúng ta đã nhận được bao nhiêu hồng ân từ nơi Thiên Chúa Ba Ngôi. Với Mẹ Maria, chúng ta có thể cất lên lời kinh Tạ ơn của chính Mẹ: Thiên Chúa đã làm cho tôi biết bao điều kỳ diệu, danh Ngài là Thánh. Amen.

Sống thiên chức làm con

Chuyện kể rằng Thánh Augustino đang đi đi lại lại trên bờ biển suy tư để cố gắng hiểu cho bằng được về Chúa Ba Ngôi như thế nào thì bắt gặp một em bé đang ngồi cầm vỏ một con chai múc nước biển đổ vào một cái lỗ trên cát. Ngạc nhiên, ngài dừng lại hỏi: cháu đổ nước vào đó làm gì thế? Cháu muốn đổ cạn nước biển vào trong cái lỗ này ạ, em bé đáp lại. Thánh Augustino cười lớn rồi nói: cháu ơi làm sao mà cháu có thể đổ hết nước biển đại dương mênh mông này vào cái lỗ đó được. Vậy mà cháu thấy bác còn làm điều kỳ cục hơn cháu đấy vì việc đổ hết nước biển vào cái lỗ này còn dễ hơn là việc cố gắng hiểu biết mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi như bác.

Thánh Augustino cũng dù có suy tư đến mấy thì cũng không thể hiểu thấu mạc khải một Thiên Chúa có ba ngôi: ngôi Cha, ngôi Con và Ngôi Thánh Thần. Nhưng ba ngôi lại chỉ là một Thiên Chúa chứ không phải là ba Thiên Chúa. Đây là môt mầu nhiệm vượt qua tầm hiểu biết của trí khôn con người.  Tuy nhiên qua các bài đọc Kinh Thánh hôm nay, mầu nhiệm cao vời này lại được tỏ hiện cụ thể qua các hoạt động của gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa, từ đó chúng ta thấy được tình thương của Thiên Chúa đối với loài người nói chung và với mỗi người chúng ta nói riêng. Quả vậy, Kinh Thánh từng bước vén mở cho chúng ta thấy Thiên Chúa là thế nào qua tình yêu sâu xa mà Ngài dành cho con người.

Bài đọc thứ nhất cho thấy Thiên Chúa Cha ngỏ lời với dân riêng của Ngài và mạc khải  cho họ tình yêu vô biên của ngài. Vì yêu mà Thiên Chúa thấy rõ nỗi thống khổ của dân trong kiếp nô lệ tại Ai cập nên đã dẫn họ vượt qua biển đỏ, qua sa mạc khô cháy để tiến về miền đất tự do. Những gì mà Thiên Chúa làm cho dân Do Thái cho thấy bản tính của Thiên Chúa là tình yêu, ngài đến giải phóng và ký kết giao ước với dân người, để cho con người dự phần vào hạnh phúc vô biên của Ngài.

Thực vậy, thánh Phaolô trong bài đọc II cho thấy cái phần phúc cao trọng của mỗi chúng ta khi được trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa, trở nên con của Thiên Chúa và được gọi Ngài là Cha qua bí tích thánh tẩy mà chúng ta lãnh nhận. Nếu nhìn lên Thiên Chúa như là đấng quyền năng thì thường chúng ta cảm thấy sợ hãi và có tâm trạng của người nô lệ. Nhưng trong thân phận là con, thánh Phaolô  hôm nay đã xác tín rằng: không được sợ hãi Thiên Chúa vì Thánh Thần mà anh em nhận lãnh làm cho anh em không còn là nô lệ và sợ hãi nữa. Vậy nhờ tác động của Chúa Thánh Thần chúng ta trở nên những người con yêu dấu của Chúa Cha, và là anh em với Đức Ki-tô.

Như thế, mỗi chúng ta được trở nên thành viên của gia đình Thiên Chúa, được gọi Thiên Chúa là Cha và được mời gọi thi hành lệnh truyền của Chúa Con là Đức Ki-tô gửi đến các Tông Đồ khi xưa qua quyền năng của Chúa Thánh Thần: Anh em hãy ra đi, làm cho tất cả muôn dân trở thành môn đệ của Thầy, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa  Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Lệnh truyền này cho thấy rằng biến cố Phục sinh không phải là kết thúc nhưng là một sự khởi đầu. Tất cả những điều mà Chúa Giê-su có thể làm và rao giảng nơi trần thế này là một sự chuẩn bị cho một cuộc truyền giáo mới nơi Giáo Hội của Đức Ki-tô, trong đó có mỗi người chúng ta. Với giao ước cũ, Thiên Chúa chỉ mạc khải cho một dân tộc là Israel, nhưng với giao ước mới mà chính Chúa Ki-tô thiết lập, Thiên Chúa tỏ mình ra cho tất cả các dân tộc trên thế giới.

Như vậy kính thưa… được sống trong ân sủng làm con cái trong gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi, cuối cùng thì chúng ta có bổn phận làm cho gia tài tình yêu của gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa mỗi ngày trở nên phong phú nhờ vào việc thực thi sự mạng rao truyền tình yêu này trong thế giới hôm nay, chắc chắn Thiên Chúa không để chúng ta lẻ loi nhưng nuôi dưỡng và chăm sóc chúng ta bằng chính Lời Ngài và bằng Mình và Máu Người mỗi ngày. Vâng, Ngài luôn hiện diện ban cho chúng ta sức mạnh và can đảm để vượt qua thử thách mà sống hạnh phúc trong thân phận của những người con. Để thấy được chân lý này, trong cuốn 5 chiếc bánh và hai con cá, có đoạn ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận viết rằng:

Nỗi gian khổ của 9 năm biệt giam một mình với hai người gác, không bạn bè, không có việc làm, tôi ở trong một sự trống rỗng tuyệt đối, đến mức có thể điên đi được. Tôi đi lại suốt ngày trong buồng giam, để vận động cơ thể kẻo nằm luôn thì tôi sẽ chết vì thấp khớp, viêm phổi.

Nhiều lúc một mình, tôi bị đau khổ giày vò, tại sao đang lúc mình 48 tuổi, trưởng thành và khỏe mạnh, sau tám năm Giám mục tôi đã có nhiều kinh nghiệm mục vụ, lại phải vào phòng biệt giam, xa giáo phận những 1,700 km?

Một đêm thanh vắng, một tiếng từ đáy lòng nhắc nhở tôi: “Tại sao con quẫn trí, hoang mang như thế làm gì? Con phải biết phân biệt giữa Chúa và công việc của Chúa. Những gì con đã làm và tiếp tục làm như kinh lý giáo phận, huấn luyện nam nữ tu sĩ, giáo dân, thanh niên, kiến thiết thánh đường, cư xá sinh viên, mở mang các thí điểm truyền giáo… tất cả những công tác ấy đều là những việc tốt lành, là việc của Chúa, nhưng không phải là Chúa! Nếu Chúa muốn con trao tất cả các việc ấy trong tay Ngài, con hãy làm ngay, và hãy tin tưởng vào Ngài. Chúa có thể làm tốt hơn con muôn nghìn lần; Ngài có thể trao việc của Ngài cho những người tài đức hơn con. Hãy chọn một mình Chúa thôi, chọn thánh ý Ngài, chứ đừng chọn việc của Chúa!”

Tôi luôn luôn học tập làm theo ý Chúa. Những ánh sáng này mang lại cho tôi một sinh lực mới, thay đổi tận gốc lối suy nghĩ của tôi, giúp tôi vượt qua những bước gian truân mà hầu như cơ thể không chịu đựng nổi. Từ đây tôi cảm thấy trong lòng tôi “một sự bình an mà thế gian không cho được”.

Gương sống của ĐHY Phanxicô đã cho mỗi chúng ta thấy rằng sứ mạng làm chứng cho Chúa trong đời sống đức tin đôi khi vượt qua sức của chúng ta và làm cho chúng ta sợ hãi, nhưng Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta vì ngài luôn ở với chúng ta như lời ngài đã hứa với các Tồng đồ khi xưa là sẽ ở lại cùng Giáo Hội mọi ngày cho đến tận thế.

Trong niềm tin yêu của những người con luôn sống trong bầu khí yêu thương của gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa, chúng ta cùng phó thác cuộc đời mình cho Chúa, học chọn theo thánh ý Chúa hơn là chọn việc làm của Chúa và cùng nguyện xin Ngài gìn giữ và ban ơn nâng đỡ chúng ta.

Lạy Chúa, xin ban xuống trên mỗi người chúng con sức mạnh và lòng can đảm để làm chứng cho tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa  mọi ngày bên cạnh những anh chị em con cùng một Cha. Amen.

DSC04016

Dâng hoa suy tôn Đức Mẹ Fatima

Trong niềm vui tưng bừng của tháng Hoa, tháng suy tôn Đức Mẹ, đội con hoa Giáo xứ Đồng Chiêm đã tới thăm Giáo xứ Chính Tòa Hà Nội và cùng với cộng đoàn giáo xứ dâng hoa kính Đức Mẹ Fatima tại Quảng trường Đức Mẹ Hòa Bình, lúc 17h30, thứ Bẩy ngày 16 tháng 5 năm 2020.

Nhịp nhàng mà khoan thai, đơn sơ và trong trắng, hòa điệu với muôn con tim yêu mến Mẹ, 20 em thiếu niên trong nhóm tìm hiểu ơn gọi đã siêng năng luyện tập trong những ngày tháng qua để bày tỏ lòng tôn kính Mẹ Fatima bằng những đóa hoa tươi thắm và những điệu múa diễn tả 5 sắc màu hoa trong vãn hoa do Đức Cố Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn biên soạn vào thập niên 90 của thế kỷ trước.

Sau buổi dâng hoa, các em đã cùng với cộng đoàn hiệp dâng lễ tạ ơn trong Nhà thờ Chính Tòa trong niềm vui của tình hiệp nhất giữa hai giáo xứ Chính Tòa và Đồng Chiêm. Nguyện xin Đức Mẹ Fatima luôn phù hộ, che chở để chúng ta biết luôn trung thành theo Chúa giữa biển đời đầy giông tố bão táp. Ước gì mỗi chúng ta biết nhiệt thành cộng tác phần mình vào sứ mạng tông đồ để làm thành một đàn chiên theo một chủ chiên duy nhất là Đức Giêsu, Đấng cứu độ chúng ta.

 

DSC04016

DSC04018

DSC04022

DSC04006

DSC04033

DSC04029

DSC04051

DSC04053

DSC04025

DSC04075

Giáo xứ Chính Tòa Hà Nội

LOGO Duc tgm giuse thien png

Thông Báo số 5 về Đại dịch COVID-19 tại Tổng Giáo phận Hà Nội

LOGO Duc tgm giuse thien png

TOÀ TỔNG GIÁM MỤC HÀ NỘI

40 Nhà Chung, Hoàn Kiếm, Hà Nội

 

 THÔNG BÁO SỐ 5 VỀ ĐẠI DỊCH COVID-19

 

Kính gửi Cộng đoàn Dân Chúa Tổng Giáo phận Hà Nội

Thưa Anh Chị Em, 

Mặc dù tại một số quốc gia trên thế giới, bệnh viêm phổi Vũ Hán (COVID-19) vẫn đang lây lan và ảnh hưởng nghiêm trọng, tại Việt Nam chúng ta, dịch bệnh đã được kiểm soát và cuộc sống đang trở lại bình thường. Chúng ta vui mừng tạ ơn Chúa, với xác tín rằng, lời cầu nguyện của các tín hữu khắp thế giới đã góp phần đẩy lui dịch bệnh. Trong niềm hân hoan vui mừng, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội xin lưu ý một số điểm sau đây:

1 – Các hoạt động đức tin như Thánh lễ, sinh hoạt hội đoàn, dạy và học giáo lý và sinh hoạt thiếu nhi Thánh Thể… trở lại như bình thường.

2 – Không còn buộc chầu Thánh Thể vào thứ Ba và thứ Năm hằng tuần cũng như đọc kinh Xin ơn chữa lành. Tuy nhiên, những việc đạo đức này vẫn được khuyến khích để cầu nguyện cho những nơi đang bị hoành hành bởi COVID-19 và cầu nguyện cho thế giới được bình an.

3 – Việc tham dự thánh lễ trực tuyến ngày Chúa nhật và lễ buộc không còn được kể là chu toàn luật buộc.

4 – Chấm dứt đặc ân giải tội chung. Thay vào đó xin các Cha tích cực ngồi toà giải tội để anh chị em chưa kịp xưng tội mùa Chay có thể xưng tội và rước lễ trong mùa Phục sinh.

5 – Mặc dù dịch bệnh đã được kiểm soát, chúng ta vẫn phải thận trọng và sử dụng những phương pháp phòng bệnh, nhất là khi tập trung đông người.

Anh chị em thân mến, trong niềm hân hoan, chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa đã giữ gìn và nâng đỡ chúng ta trong suốt thời gian qua. Chúng ta tiếp tục cầu nguyện, nhất là cho những quốc gia còn đang gánh chịu những hậu quả nặng nề của dịch bệnh. Xin Chúa cho cuộc sống khắp nơi sớm ổn định.

Kính chúc Anh Chị Em luôn bình an và tràn đầy ơn Chúa Phục sinh.

Hà Nội, ngày 08 tháng 5 năm 2020

+ Giuse Vũ Văn Thiên
Tổng Giám mục Hà Nội
hdmvgx bia

Nên thánh cho các thành viên Hội đồng Mục vụ giáo xứ – Đề tài tháng 5 – 2020

 hdmvgx bia

Tất cả những ai đã được lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy đều được gọi là tín hữu, tức là “người tin”. Giữa những người tín hữu lại có những bậc sống khác nhau như giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân. Tuy  khác nhau về bậc sống, tất cả đều là tín hữu Kitô. Khái niệm “Kitô hữu giáo dân” diễn tả những người đã được Thanh tẩy, mà không phải là giáo sĩ hay tu sĩ. Nhờ Bí tích Thanh tẩy, họ được ban ba thừa tác vụ: Ngôn sứ, Tư tế và Vương đế. Nhờ ba chức năng này,  những người Kitô hữu giáo dân có vinh dự và trách nhiệm tham gia công cuộc xây dựng Giáo Hội và truyền giáo. Trong Tông huấn “Người Kitô hữu giáo dân” công bố năm 1988, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết: “Sứ vụ cứu độ của Giáo Hội trong thế giới được thực hiện không những nhờ các thừa tác viên đã lãnh bí tích Truyền Chức Thánh, nhưng còn nhờ tất cả mọi giáo dân: thực vậy, nhờ đã được chịu phép thánh tẩy và nhờ ơn gọi chuyên biệt của mình, các giáo dân, mỗi người theo mức độ của mình, tham dự vào chức vụ Tư tế, Ngôn sứ và Vương giả của Đức Kitô” (số 6)

Từ rất sớm, tại Giáo Hội Việt Nam, hình thức “Ban Hành giáo” hay “Mục vụ Hội đồng Giáo xứ” đã được thiết lập. Trong những năm tháng khó khăn của Giáo Hội miền Bắc, hình thức tổ chức này đã có công duy trì đời sống đức tin, bảo tồn truyền thống đạo đức bình dân, gìn giữ những di sản tinh thần và vật chất của các cộng đoàn giáo xứ. Đã có những thành viên Hội đồng Mục vụ Giáo xứ can trường chấp nhận nhiều hy sinh, thậm chí bị giam cầm hoặc chết trong tù, chỉ vì tham gia công việc Giáo Hội. Chúng ta tạ ơn Chúa đã ban cho Giáo Hội Việt Nam, trong quá khứ cũng như trong hiện tại, những tâm hồn quảng đại tham gia công việc chung, nhằm mở mang Nước Chúa và xây dựng các cộng đoàn Đức tin.

Năm 2019, Tổng Giáo phận Hà Nội ban hành “Quy chế  Hội đồng Mục vụ Giáo xứ”, với mục đích thống nhất tổ chức, danh xưng cũng như những hoạt động của các Hội đồng Mục vụ tại các địa phương, cộng tác hữu hiệu hơn trong việc điều hành cộng đoàn.

Tham gia Hội đồng Mục vụ Giáo xứ là một vinh dự và trách nhiệm. Tuy vậy, cũng như bất cứ tổ chức nào, những thành viên của HĐMV Giáo xứ cần được huấn luyện để có những kiến thức cơ bản. Hơn nữa, họ phải là những người có uy tín trong gia đình và ngoài xã hội. Vì tham dự và cộng tác thi hành những công việc liên quan đến Phụng vụ thánh, thành viên của HĐMV Giáo xứ cũng cần có tư cách xứng đáng, thể hiện sự nghiêm trang và thánh thiện trong khi thi hành bổn phận.

1. Ơn gọi của người tín hữu giáo dân

a. Đồng hình đồng dạng với Đức Kitô

Thánh Phaolô nói với chúng ta: khi lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy, chúng ta được dìm mình trong sự chết của Đức Giêsu và được phục sinh với Người, nhờ đó chúng ta trở thành con người mới. Con người cũ trong chúng ta đã chết đi và chúng ta được mặc lấy Đức Kitô Phục sinh. Trong thư gửi giáo dân Rôma, Thánh Phaolô khẳng định: nhờ Bí tích Thanh tẩy, chúng ta được nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu, tức là nên giống như Chúa Giêsu mọi đàng (x. Rm 8,29). Tông huấn “Người Kitô hữu giáo dân” nêu rõ: “Khi nhìn nhận và trao phó cho giáo dân các tác vụ, chức vụ và nhiệm vụ, trước hết, các vị chủ chăn cần đặc biệt lưu ý dạy cho họ hiểu rằng các công việc ấy bắt nguồn từ Bí tích Thánh tẩy” (số 6).

Cuộc sống hôm nay còn nhiều khó khăn, bon chen và tội lỗi, nên hình ảnh Đức Giêsu nơi cuộc đời chúng ta bị biến dạng hoặc che phủ. Mỗi khi con người cố gắng đoạn tuyệt với tội lỗi để sống thánh thiện, thì hình ảnh Đức Kitô lại tỏa rạng nơi cuộc đời.

b. Ba chức năng: Bí tích Thánh Tẩy trao cho mỗi người chúng ta ba chức năng: Ngôn sứ, Tư tế, Vương đế.

– Chức năng Ngôn sứ: trong Cựu ước, Chúa sai các ngôn sứ (còn gọi là các tiên tri) rao giảng để chuyển tải sứ điệp của Chúa. Nội dung sứ điệp có thể là lời khen ngợi, lời động viên, lời cảnh báo, nhưng cũng có thể là lời trách móc, lên án hay báo trước những hình phạt. Người Kitô hữu thực hành chức năng ngôn sứ khi chuyên cần đọc và suy niệm Lời Chúa, rồi rao giảng Lời Chúa cho những người khác, nhất là áp dụng Lời Chúa nơi chính cuộc sống hằng ngày của mình.

– Chức năng Tư tế: Nhiệm vụ của các tư tế là lo việc phụng tự và giúp thánh hóa Dân Chúa. Nhờ chức năng này, người Kitô hữu lo thánh hóa bản thân, đồng thời cộng tác phần mình làm cho những người xung quanh nên thánh. Thánh Phaolô đã viết cho giáo dân Ephêsô: “Anh em hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt” (Ep 5,2).

– Chức năng Vương đế, còn gọi là chức năng Quản trị: Chức năng này giúp người tín chủ động tham gia các sinh hoạt của Giáo Hội địa phương. Là thành viên của HĐMV Giáo xứ là thi hành chức năng quản trị mà Bí tích Thanh tẩy trao cho. Nhờ sự cộng tác nhiệt thành của các thành viên HĐMV Giáo xứ, cộng đoàn đức tin phát triển và có ảnh hưởng tốt nơi môi trường xã hội xung quanh, kể cả nơi những người không cùng niềm tin tôn giáo với chúng ta.

c. Người giáo dân cần được đào tạo:

Người Kitô hữu nói chung phải được đào tạo để thăng tiến trong hành trình đức tin, nhờ đó, họ sống đức tin của mình với niềm xác tín. Những ai tham gia HĐMV Giáo xứ càng cần phải được huấn luyện để có thể tham gia cách hữu hiệu vào sứ vụ của Giáo Hội. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết: “Các vị chủ chăn có bổn phận phải nhìn nhận và cổ võ các tác vụ, chức vụ và nhiệm vụ của giáo dân, những chức vụ và nhiệm vụ này đặt nền tảng trên bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, hơn nữa, đối với phần đông trong số họ, còn thêm bí tích Hôn Phối” (Tông huấn NKTHGD, số 6). Đào tạo người tín hữu là trách nhiệm trước hết của các Cha xứ. Công đồng Vaticanô II cũng nhắc nhở: “Để tham gia vào công cuộc loan báo Tin Mừng và thánh hóa mọi người, giáo dân phải được đào tạo đặc biệt để có thể đối thoại với người khác, cả những người có đức tin cũng như những người không tin, để trình bày sứ điệp Chúa Kitô cho mọi người” (Sắc lệnh Tông đồ giáo dân, số 31).

2. Giáo Hội tham gia

a. Cách hiểu sai lạc: Trước Công đồng Vaticanô II, tức là trước năm 1965, trong cái nhìn của mọi Kitô hữu, việc lãnh đạo Giáo Hội là quyền dành riêng cho các Linh mục, giáo dân chỉ có bổn phận đi lễ, lắng nghe và thực hành những gì mà các vị chủ chăn truyền dạy. Có nhiều người đã lạm dụng hình ảnh “con chiên” nhu mì, hiền lành, bảo sao nghe vậy để diễn tả thái độ của người giáo dân, tức là vâng lời, cam chịu. Do quan niệm sai lạc này, người giáo dân thường thụ động và dửng dưng với những sinh hoạt của Giáo Hội địa phương.

b. Giáo huấn của Giáo Hội: Công đồng Vatican II đã “đánh thức” người Kitô hữu khỏi lối suy nghĩ thụ động và lệch lạc nói trên. Sắc lệnh “Tông đồ giáo dân” đã khẳng định: “Ơn gọi Kitô hữu tự bản chất cũng là ơn gọi làm tông đồ. Trong một cơ thể sống động, không chi thể nào hoàn toàn thụ động, nhưng cùng tham dự vào đời sống và hoạt động của toàn thân, cũng thế, trong Nhiệm thể Chúa Kitô là Giáo Hội, “mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình mà làm cho toàn thân được lớn mạnh” (số 2). Theo điều được trích dẫn trên đây, không một người giáo dân nào được phép sống thụ động, thờ ơ dửng dưng với những sinh hoạt của cộng đồng địa phương, nơi mình sinh sống. Như thế, khi thi hành bổn phận được Cha xứ và giáo dân trao phó, các thành viên HĐMV Giáo xứ vừa thi hành chức năng của Bí tích Thánh tẩy, vừa được ủy nhiệm do vị đại diện của Giáo Hội, để tham gia vào sự nghiệp chung là làm cho Giáo Hội địa phương lớn mạnh. Sự tham gia của người tín hữu còn là điều rất cần thiết và hiệu quả, như Sắc lệnh “Tông đồ giáo dân” đã nêu sau đây: “Trong những cộng đồng giáo hội, hoạt động của họ (người giáo dân) cần thiết đến nỗi nếu không có nó, chính hoạt động tông đồ của các chủ chăn thường không thể đạt được kết quả đầy đủ” (Số 10). “Giáo Hội tham gia” là một khái niệm được sử dụng nhiều lần trong Tông huấn “Giáo Hội tại Á Châu”, công bố năm 1999 do Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

c. “Giáo sĩ hóa giáo dân?”: Hiện nay, tại Châu Âu, vì thiếu Linh mục nghiêm trọng, nên các vị Bản quyền địa phương đã trao cho các thành viên của HĐMV Giáo xứ quyền được chủ sự một số nghi thức phụng vụ được Giáo Luật cho phép, như nghi thức an táng, nghi thức rửa tội, chủ sự các buổi cầu nguyện… Nhiều người nghĩ rằng hiện tượng này sẽ dẫn tới tình trạng “giáo sĩ hóa giáo dân”. Thánh Gioan Phaolô II Giáo Hoàng đã thấy trước vấn đề, nên đã viết: “Tuy nhiên, việc thi hành một nhiệm vụ như thế không biến giáo dân thành một chủ chăn: thực ra, yếu tố cấu tạo tác vụ không phải do chính hoạt động nhưng là sự truyền chức thánh bí tích. Chỉ có bí tích Truyền Chức Thánh mới ban cho thừa tác viên được thụ phong được quyền tham dự đặc biệt vào chức vụ của Đức Kitô Thủ Lãnh và Mục Tử, cũng như vào chức tư tế vĩnh cửu của Ngài. Nhiệm vụ được thi hành với tư cách thay thế có được sự hợp pháp cách chính danh và trực tiếp khi được vị chủ chăn ủy nhiệm chính thức và, khi thi hành nhiệm vụ này cách cụ thể, người thay thế phải tuân theo sự điều khiển của quyền bính Giáo Hội” (Tông huấn NKTHGD, số 6). Những hướng dẫn này giúp chúng ta hiểu rõ hơn công việc được ủy quyền, đồng thời cũng nhắc nhở những ai được ủy quyền hãy khiêm tốn và làm việc dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cha xứ, và theo chương trình mục vụ chung của Giáo phận.

3. Nên thánh đối với các thành viên HĐMV Giáo xứ

a. Đời sống đạo đức

Đời sống đạo đức ở đây được hiểu là tâm tình cầu nguyện, thực hành Đức tin và năng lãnh nhận các Bí tích. Đương nhiên, đây là điều cần thiết cho tất cả các tín hữu, vì những thực hành này nuôi dưỡng đời sống Đức tin và làm cho Đức tin được tỏa sáng. Tuy vậy, những thành viên của HĐMV Giáo xứ cần phải gương mẫu trong lãnh vực này. Câu ngạn ngữ dân gian thường nói: Gần chùa gọi Bụt bằng anh. Điều đó có nghĩa những người tiếp xúc thường xuyên với những sinh hoạt thiêng liêng, dễ mang tâm trạng coi thường và xảy ra những lạm dụng. Một người trước khi là thành viên của HĐMV Giáo xứ đã là một tín hữu. Tham gia công việc Giáo xứ chỉ nhất thời, nhưng ơn gọi Kitô hữu thì suốt đời. Vì thế, đời sống đạo đức rất cần thiết để việc tham gia HĐMV Giáo xứ có hiệu quả và đem lại những ảnh hưởng tốt nơi cộng đoàn tín hữu.

b. Tinh thần siêu nhiên

Chúa Giêsu đã làm mọi sự vì vinh quang Chúa Cha và để thực hiện thánh ý của Chúa Cha. Vì thế, Người sẵn sàng chấp nhận đau khổ và thập giá. Tham gia HĐMV Giáo xứ là sứ mạng thuộc lãnh vực Đức tin, vì thế, cần có tinh thần siêu nhiên. Tinh thần siêu nhiên giúp chúng ta có nhận định chính xác về bản chất công việc được trao, đồng thời ý thức rằng những gì chúng ta làm không phải nhằm gây thanh thế cho mình, cũng không nhằm tới lợi lộc vật chất, nhưng góp phần xây dựng Giáo Hội và làm cho cộng đoàn Đức tin được thăng tiến. Tinh thần siêu nhiên cũng giúp cho các thành viên HĐMV Giáo xứ cộng tác chân thành với Cha xứ và những người khác, dễ dàng bỏ qua những bất đồng và sống cao thượng hơn. Tại một số địa phương, vẫn còn tình trạng phe cánh tranh giành chia rẽ theo dòng họ. Tình trạng này để lại những hậu quả rất nghiêm trọng, làm mất đi tình hiệp thông trong Giáo Hội và cản trở công cuộc truyền giáo. Người có tinh thần siêu nhiên nhắm tới vinh quang Thiên Chúa và ích lợi của Giáo Hội là chính, với ý thức Thiên Chúa đang hiện diện giữa cộng đoàn. Thiếu tinh thần siêu nhiên, cộng đoàn địa phương sẽ bị biến thành một tổ chức ngoài đời, lộn xộn và mất phương hướng.

c. Tinh thần trách nhiệm

Thành viên của HĐMV Giáo xứ là những cộng tác viên của Cha xứ, cùng với Cha xứ làm việc tông đồ. Công việc được trao rất đa dạng: kiến thiết, bác ái, dạy giáo lý, phụng vụ, quản lý tài chính, giao thiệp với chính quyền và người lương dân. Công việc nào cũng quan trọng, vì đều là dịp để chúng ta xây dựng Giáo Hội cũng như để trình bày hình ảnh về Giáo Hội hiệp thông. Vì vậy, những người được trao nhiệm vụ phải có tinh thần trách nhiệm, đồng thời phải luôn ý thức rằng, những việc mình làm, tốt hay xấu, đều có ảnh hưởng rất lớn để cộng đoàn, vì chúng ta làm việc nhân danh tập thể, chứ không nhân danh cá nhân. Người làm việc thiếu trách nhiệm sẽ đưa đẩy công việc khó khăn cho người khác, đồng thời không dám nhận hậu quả do những sai sót mình đã phạm. Thiếu trách nhiệm sẽ gân nên tình trạng hỗn loạn trong giáo xứ, hoặc hiện tượng chây ỳ, làm cho đời sống giáo xứ bị đóng băng, không có sức sống và không phát triển.

4Linh Đạo cho Hội đồng Mục vụ Giáo xứ

Linh Đạo có nghĩa là “con đường thiêng liêng” dẫn chúng ta gặp gỡ Chúa và sống kết hiệp mật thiết với Ngài. Mối tương quan này chi phối đời sống và hành động của chúng ta, giúp chúng ta càng ngày càng tiến sâu trong hành trình nên thánh. Dưới đây là năm yếu tố thiết yếu cho Linh Đạo Hội đồng Mục vụ:

– Cầu nguyện (kinh nghiệm gặp gỡ Chúa)

– Chia sẻ (Lời Chúa hướng dẫn)

– Khiêm tốn đón nhận những thất bại (sám hối)

– Cần có lòng thương xót (sống kinh nghiệm lòng thương xót của Chúa)

– Tha thứ và hòa giải (sống Mầu Nhiệm Thánh Thể)

a. Cầu nguyện

Giáo Dân trong Giáo Xứ sống giữa những khó khăn và thử thách. Họ phải đối diện với những thử thách trong gia đình, nơi khu phố, cũng như nơi cơ quan xí nghiệp. Do đó, không phải là giúp Giáo Dân ra khỏi những thách đố hằng ngày nhưng làm sao để Kitô hữu dấn thân Phúc Âm Hóa môi trường họ đang sống tại tư gia hay nơi công cộng. Để thực hiện điều này cần thái độ suy tư cầu nguyện. Các thành viên trong Hội Đồng Mục Vụ quan tâm đến đời sống cầu nguyện họ làm chứng nhân cho giáo dân những người đang đói khát và tìm kiếm sự hiện diện của Thiên Chúa giữa những khó khăn thử thách. Nhờ những giây phút lắng đọng trong cầu nguyện, họ được nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn và giữa cộng đoàn.

b. Chia Sẻ

Một trong những yếu tố căn bản giúp cho nỗ lực tông đồ hiệp thông với nhau thành công là khả năng chia sẻ đức tin. Chia sẻ đức tin với nhau dẫn đến niềm xác tín nơi mỗi người: Thiên Chúa là ai đối với tôi? Sự hiện diện của Thiên Chúa đã tác động lên đời sống của tôi như thế nào? Chia sẻ đức tin giúp các thành viên trong hội đồng mục vụ nuôi dưỡng việc phát triển Giáo xứ như một cộng đoàn phục vụ. Hồng Y Avery Dulles nhận xét: một cộng đoàn phục vụ là một cộng đoàn người môn đệ. Nếu Hội đồng Mục vụ muốn trở thành một cộng đoàn phục vụ, việc chia sẻ đức tin là điều không thể thiếu. Kinh nghiệm chia sẻ đức tin giúp xây dựng và củng cố sự tin tưởng, thân tình, hiểu biết, chấp nhận, tôn trọng, và gắn bó với nhau. Đây là những điều kiện làm gia tăng chiều kích hiệp thông trong Hội đồng Mục vụ.

c. Khiêm tốn đón nhận những thất bại

Có những người luôn đòi hỏi sự hoàn hảo, họ không chấp nhận những giới hạn của phận người, và cũng không có chỗ cho hoạt động của Thánh Thần. Đối với họ thành công là tiêu chuẩn cao nhất để lượng định một kế hoạch mục vụ. Nhận thức này dễ dẫn đến một nền văn hóa cạnh tranh. Chân phúc Têrêsa Calcutta đã khẳng định: “chúng ta không được kêu gọi để thành công, chúng ta được kêu gọi để trung thành”. Thánh Phanxicô de Sales dạy: “hãy đứng lên sau những lần vấp ngã thì hài lòng Thiên Chúa hơn là những người không bao giờ vấp ngã”.

Thánh Phaolô đã viết về những thất bại của riêng ngài: “sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7, 19). Đời sống của thánh Phaolô chứng minh rằng, khi sẵn sàng chấp nhận những thất bại với mong muốn xây dựng bản thân dựa trên ơn sủng của Thiên Chúa sẽ dẫn đến thăng tiến trong đời sống thiêng liêng.

d. Cần có lòng thương xót

Trở thành thành viên trong Hội đồng Mục vụ là lãnh nhận một tác vụ (ministry) chính thức được Giám mục trao qua Linh mục chính xứ. Điều cốt lõi của Linh Đạo thi hành tác vụ là có lòng thương xót anh chị em. Linh Đạo và Tác Vụ hội tụ trong những hành động của lòng thương xót. Sống lòng thương xót là một trong những tiêu chuẩn nhận biết một người đang lớn lên trong đời sống thiêng liêng.

Có một mối quan hệ hỗ tương giữa lòng thương xót và sự thánh thiện. Chính lòng thương xót diễn tả sự thánh thiện, vì hoa trái của sự thánh thiện được thể hiện qua hành động thương xót. Lòng thương xót không chỉ là những thông tin, cảm nghĩ về nỗi đau khổ của người khác nhưng là ra khỏi chính mình để đi đến với người anh em để làm nhẹ bớt nỗi đau khổ của họ. Đức Phanxicô gọi đó là nền văn hóa gặp gỡ. Trong một xã hội đề cao kỹ thuật, những giá trị nhân văn bị xem nhẹ, thờ ơ lãnh đạm. Sự đồng cảm trong tương quan với nhau là một nhu cầu sâu xa nơi cuộc sống con người.

e. Tha thứ và hòa giải

Một trong những trở ngại chính cho việc tha thứ trong cộng đoàn Giáo xứ là thiếu vắng những mẫu gương sống tha thứ. Vì thế các thành viên trong Hội đồng Mục vụ phải là những người sống linh đạo tha thứ trước hết.

Căng thẳng, giận dữ, và xung đột là điều không thể tránh trong bất cứ cộng đoàn Kitô hữu nào. Đó cũng là những gì diễn ra trong những ngày đầu Kitô giáo cho đến ngày nay, nhưng cùng với đó là sự hiện diện của tha thứ và hòa giải.

Có một sự khác biệt giữa tha thứ và hòa giải. Tha thứ là hành động của ý muốn. Mỗi người đều làm chủ quyết định có hay không họ muốn tha thứ. Hòa giải đòi hỏi lời đáp trả từ phía người kia. Mọi người đều được mời gọi nỗ lực hòa giải. Nhưng không một ai có quyền áp đặt hòa giải khi người khác từ chối.

Tha thứ đem lại một sức mạnh to lớn để biến đổi cộng đoàn. Tuy nhiên tha thứ không phải là một điều dễ dàng thực hiện. Phản ứng tự nhiên của con người là khư khư giữ nắm giữ những bực bội, giận dữ và từ chối tha thứ. Để có thế thực hiện sự tha thứ cần sống tinh thần tự hủy của Chúa Kitô (x.Pl 2, 6-12).

Kết luận: Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI đã viết trong Tông huấn Loan báo Tin Mừng (Evangelii nuntiandi): “Càng có nhiều giáo dân được thấm nhuần tinh thần Tin Mừng, có trách nhiệm về những thực tại này và minh nhiên dấn thân vào đó, có khả năng phát huy chúng và ý thức mình có bổn phận phát huy tất cả khả năng Kitô giáo của mình cho tới lúc đó thường bị chôn vùi và bóp nghẹt, thì những thực tại này càng góp phần xây dựng Nước Thiên Chúa và Sự Cứu rỗi trong Đức Kitô” (số 70). Những gì được trình bày trên đây nhằm giúp các thành viên HĐMV Giáo xứ hiểu rõ hơn công việc mình đang thực hiện vì yêu mến Giáo Hội, do sự ủy nhiệm tin cậy của Cha xứ cũng như của cộng đoàn tín hữu. Hy vọng tháng nên thánh dành cho các thành viên HĐMV Giáo xứ sẽ giúp cho sức sống Đức tin và lòng nhiệt thành tông đồ được nuôi dưỡng, cổ võ và vươn cao.

+TGM Giuse Vũ Văn Thiên

LOGO Duc tgm giuse thien png

Thư kêu gọi cầu nguyện và giúp đỡ ơn thiên triệu nhân ngày Chúa Nhật IV Phục Sinh 2020

LOGO Duc tgm giuse thien pngTOÀ TỔNG GIÁM MỤC HÀ NỘI

40 Nhà Chung, Hoàn Kiếm, Hà Nội

 

THƯ KÊU GỌI CẦU NGUYỆN VÀ GIÚP ĐỠ ƠN THIÊN TRIỆU

NHÂN NGÀY CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH 2020

Kính gửi Quý Cha, Quý Tu sĩ và Anh Chị Em giáo dân,

Trong khi thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng, Chúa Giêsu đã gọi các môn đệ và các tông đồ cộng tác với Chúa. Các ông là những người được Chúa huấn luyện và sai đi loan báo Nước Trời. Trước khi về trời, Chúa đã sai các ông đi khắp thế giới để tiếp nối sứ vụ của Người, rao giảng Lời Chúa và quy tụ muôn dân (x. Mt 28,16-20).

Trong quá khứ cũng như hiện tại, Chúa vẫn kêu gọi mọi người, nam cũng như nữ, quảng đại dấn thân, làm Linh mục, Tu sĩ để cộng tác rao giảng Tin Mừng. Trong thực tế, mỗi người chúng ta đều cảm nhận sự cần thiết của Linh mục đối với cộng đoàn Đức tin và đối với đời sống Kitô hữu.

Chúa Nhật IV Phục sinh hằng năm, Giáo Hội tôn vinh Chúa Giêsu là Mục tử nhân lành, đồng thời cầu nguyện cho có nhiều người đáp lại lời mời gọi của Chúa để trở thành Linh mục, Tu sĩ.

Đại Chủng viện Thánh Giuse Hà Nội là nơi đào tạo Linh mục cho 6 Giáo phận miền Bắc. Nơi đây, đã có hàng ngàn Linh mục được đào tạo và hiện nay đang phục vụ trong các Giáo phận. Để chuẩn bị ơn gọi, Tổng Giáo phận Hà Nội còn có nhà Ứng sinh để giúp các em phân định ơn gọi trong những bước đầu chập chững bước vào đời tu. Hiện tại, Tổng Giáo phận Hà Nội có 103 Thầy đang học tại Đại Chủng viện, 17 Thầy du học nước ngoài, 105 Ứng sinh trong chương trình đào tạo dự bị và một số khác đang tìm hiểu ơn gọi tại các Giáo xứ.

Để nâng đỡ và cộng tác trong tiến trình huấn luyện tại Đại Chủng viện, tôi kêu mời Quý Cha và Anh Chị Em cầu nguyện cho Đại Chủng viện. Tôi cũng mời gọi mọi người nâng đỡ chương trình đào tạo cụ thể qua việc đóng góp tài chính. Như những năm trước, số tiền quyên tại các nhà thờ vào Chúa Nhật IV Phục sinh (03-5-2020) được dành cho mục đích này. Chúng tôi mong nhận được sự giúp đỡ quảng đại của mọi người. Xin Quý Cha gửi số tiền quyên được về Cha Quản lý Toà Tổng Giám mục.

Nhân đây, tôi xin cám ơn Cha Giám đốc, Quý Cha giáo Đại Chủng viện, Quý Ân Nhân và tất cả những ai đã luôn nhiệt thành, hy sinh và âm thầm cộng tác trong nhiệm vụ đào tạo nhân sự cho tương lai của Giáo Hội. Nguyện xin Chúa trả công bội hậu cho mọi người.

Kính chúc Quý Cha và Anh Chị Em dồi dào sức khoẻ và niềm vui trong Chúa Phục sinh.

Hà Nội, ngày 21 tháng 4 năm 2020

+Giuse Vũ Văn Thiên
Tổng Giám mục Hà Nội

Rước Mình Thánh Chúa trong hoàn cảnh đại dịch Covid-19

ỦY BAN PHỤNG TỰ GIẢI THÍCH VỀ 

RƯỚC MÌNH THÁNH CHÚA TRONG HOÀN CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19

TM. Ủy ban Phụng tự / HĐGMVN
Linh mục Giuse Phạm Đình Ái, SSS

Trong thời gian đại dịch hiện nay, Giáo hội tại Việt Nam và rất nhiều nơi trên thế giới phải tạm dừng các cử hành cộng đồng và hạn chế tập trung. Ở hoàn cảnh này, các tín hữu phải tham dự trực tuyến các cử hành phụng vụ và không thể rước Mình Thánh Chúa như khi tham dự Thánh lễ chung cùng cộng đoàn như trước đây. Với những câu hỏi và ưu tư về cử hành và nhận lãnh Bí tích Thánh Thể trong hoàn cảnh hiện nay, Ủy ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam giải thích như sau:

1. Thực hành “rước lễ thiêng liêng” là gì?

Rước lễ thiêng liêng là một thực hành đạo đức của người Kitô hữu đã có từ lâu đời (thế kỷ XII) và trải qua hàng thế kỷ cho đến nay, trong đó, theo mô tả của thánh Tôma Aquinô, họ “ước ao cháy bỏng lãnh nhận Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể và trìu mến ôm lấy Người” vào lúc và trong hoàn cảnh không thể hiệp thông Thánh Thể cách Bí tích được (rước lễ/ hiệp lễ Bí tích). Rước lễ thiêng liêng còn được gọi là rước lễ nội tâm, rước lễ trong lòng, rước lễ thần bí hay rước lễ vô hình vì không có dấu chỉ nào rõ rệt và hữu hình (có thể nhìn thấy) như trong hiệp lễ Bí tích.

Thực hành rước lễ thiêng liêng được sử dụng chủ yếu trong hai trường hợp: [i] Chuẩn bị cho việc tiến đến bàn thánh mà lãnh nhận Thánh Thể trong tương lai (Trent, Sess. 13, c. 8); [ii] Không thể rước lễ Bí tích được do những ngăn trở về thể lý (già yếu, đau bệnh), luân lý (tội trọng, mắc vạ tuyệt thông, mắc một hình phạt giáo luật, không giữ chay Thánh Thể) hay hoàn cảnh (chiến tranh, dịch bệnh, bị bách hại).

Không những cho phép các tín hữu rước lễ thiêng liêng khi tham dự Thánh lễ trực tuyến, mà Hội Thánh còn mong muốn cho các tín hữu có lòng ao ước rước lễ thiêng liêng, bất cứ lúc nào trong ngày khi không thể rước lễ thực thụ, với những lời cầu nguyện riêng của mình hay với các lời kinh truyền thống trong Hội Thánh, dẫu rằng hình thức này không thể sánh ví được với hành động đón nhận chính Chúa Giêsu Thánh Thể vào tâm hồn mình cũng như ít toàn hảo theo cách Bí tích hơn là rước lễ Bí tích.

Đối với các Bí tích nói chung và Bí tích Thánh Thể nói riêng, tín hữu nào đã chuẩn bị tâm tình xứng đáng, thì tuy không lãnh Bí tích thực sự họ vẫn nhận được những công hiệu của Bí tích đó do lòng ước ao muốn lãnh nhận và sẽ nhận lãnh khi có cơ hội (Summa Theologica III, q.80, a.11,c.). Đó là lý do ngay từ thời cổ đại, Giáo hội đã công nhận những người tử đạo dù chưa được Rửa tội nhưng cũng đã trở thành Kitô hữu rồi. Mặc dù thân xác họ chưa lãnh nhận nước Rửa tội, nhưng họ đã lãnh Bí tích Rửa tội bằng niềm khao khát. Ngoài ra, mỗi khi thực hiện hành vi rước lễ thiêng liêng, tín hữu sẽ nhận được ơn xá từng phần (x. Enchiridion Indulgentiarum (1999), “Concessiones” 8, §2, 1°). Đối với nhiều vị thánh, các ngài không thỏa mãn ngay cả khi đã lãnh nhận Thánh Thể mỗi ngày trong Thánh lễ. Vì thế, việc rước lễ thiêng liêng trở thành một phần thiết yếu trong cuộc sống của họ vì giúp lôi kéo họ thường xuyên đến gần sát với Chúa hơn.

Liên quan đến thực hành này, xin nhắc lại ở đây lời của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17/04/2003):

Bí tích Thánh Thể được xem như chóp đỉnh của tất cả các Bí tích, vì Bí tích Thánh Thể luôn thể hiện một cách hoàn hảo nhất sự hiệp thông với Thiên Chúa Cha, nhờ sự đồng hình dạng với Chúa Con duy nhất bởi tác động của Chúa Thánh Thần. Với một niềm tin sâu sắc, một trong những tác giả thời danh của truyền thống Byzantin, đã diễn tả chân lý này khi bàn đến Bí tích Thánh Thể: “Như thế mầu nhiệm này thật hoàn hảo, khác với mọi nghi thức khác, và nó dẫn thẳng đến chóp đỉnh của mọi ơn ích, vì đó cũng là cứu cánh tuyệt đỉnh của mọi cố gắng con người. Bởi vì chúng ta gặp chính Thiên Chúa trong mầu nhiệm ấy, và chính Thiên Chúa kết hợp với chúng ta bằng một mối liên kết hoàn hảo nhất.”. Chính vì thế mà vun trồng trong các tâm hồn niềm ao ước Bí tích Thánh Thể triền miên là điều rất thích hợp. Cũng chính vì thế đã khai sinh một cách thức “rước lễ thiêng liêng”, được phổ biến tốt đẹp từ nhiều thế kỷ trong Giáo Hội và rất được các bậc thầy thánh thiện về đời sống thiêng liêng khuyến khích. Thánh Têrêsa Giêsu đã viết: “Khi bạn không thể rước lễ trong Thánh lễ được thì bạn hãy rước lễ thiêng liêng vậy, vì đó là một cách thức mang lại nhiều lợi ích […]; bằng cách đó bạn ghi khắc trong lòng tình yêu sâu xa với Chúa chúng ta” (số 34).

2. Khi hiện diện trong nhà nguyện có lưu giữ Mình Thánh Chúa, có được rước Mình Thánh đang lưu giữ nơi Nhà tạm lúc tham dự Thánh lễ trực tuyến không?

Không được. Lý do là vì có sự khác biệt rõ rệt về cả giá trị lẫn thực tại giữa hành vi tham dự Thánh lễ thực sự và tham dự Thánh lễ trực tuyến:

[1] Tham dự Thánh lễ trực tuyến chỉ là phương thế để kết hợp với Chúa Kitô, là sự thông hiệp Thánh lễ cách thiêng liêng qua phương tiện truyền thông [truyền thanh và truyền hình] vốn được khuyến khích cho những trường hợp vì một lý do nào đó (già yếu, đau bệnh) hay trong một hoàn cảnh nào đó (chiến tranh, dịch bệnh, bị bách hại) mà không thể hiện diện cách thể lý tại nơi cử hành Thánh lễ (nhà thờ/ nhà nguyện), tức là tín hữu không thể đến nhà thờ/ nhà nguyện để tham dự vào cử hành Thánh Thể cùng với cộng đoàn Giáo hội sống động ở đó (GLCG, số 1322). Đây là lý do mà ĐGH Bênêđictô XVI viết rằng: “Về giá trị của việc tham dự Thánh lễ bằng phương tiện truyền thông, những người nghe truyền thanh hay xem truyền hình nên biết rằng, theo những hoàn cảnh bình thường, họ không chu toàn luật buộc tham dự Thánh lễ. Những hình ảnh sống động có thể cho thấy đúng sự kiện, nhưng không thật sự tái diễn sự kiện ấy. Trong khi việc những người cao tuổi và bệnh nhân tham dự Thánh lễ qua truyền thanh và truyền hình là một điều rất đáng khen, không thể nói như vậy đối với những người nghĩ rằng các phương tiện truyền thông miễn cho họ khỏi đến nhà thờ và thông phần với cộng đoàn Thánh Thể giữa lòng Hội Thánh sống động” (Tông huấn Sacramentum Caritatis, số 57). Trả lời cho một câu hỏi tương tự như vấn nạn trên, cha Edward MacNamara cho rằng: “Trong tình trạng cách ly như hiện nay, tham dự Thánh lễ trực tuyến là rất tốt […]. Đó là một thời khắc cùng với vị chủ tế cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa, và thực hiện một hành động dâng hiến thiêng liêng và rước lễ thiêng liêng với hy tế Thánh Thể. Tuy nhiên, như thế không phải là tham gia Thánh lễ thật sự, vốn đòi buộc phải có sự hiện diện hữu thể, và như vậy, không phải là thực hành phụng vụ đúng đắn khi cho rước lễ trong một Thánh lễ trực tuyến” (Edward MacNamara, “Distribution of Communion During a TV Mass”, từ Zenit.org [07/04/2020]).

[2] Tham dự Thánh lễ trực tuyến là một thực hành đạo đức chứ không phải là cử hành phụng vụ. Một việc đạo đức thì không bao giờ gắn với hiệp thông Thánh Thể cách Bí tích. Trong khi đó, Giáo hội cho phép và khuyến khích các tín hữu rước Chúa Kitô “hiện diện cách đích thực, chân thực, và theo bản thể trong Bí tích Thánh Thể” khi tham dự thực sự vào cử hành phụng vụ Thánh lễ như một sự tham dự Thánh lễ cách toàn hảo hơn vào Hy tế Thánh Thể để họ có thể tiếp nhận một cách dồi dào hơn hoa trái của Hy lễ Cực Thánh” (x. Mediator Dei, 118; Indulgentiarum Doctrina, 18-19; Hiến chế Phụng Vụ Thánh, 55; GL 918; Qui chế tổng quát Sách Lễ Rôma, Lời mở đầu, số 13). Còn bên ngoài phụng vụ Thánh lễ, trong những hoàn cảnh đặc biệt, tín hữu có thể rước lễ Bí tích trong 2 trường hợp cử hành phụng vụ sau: [i] Cử hành phụng vụ Lời Chúa và cho rước lễ; và [ii] Nghi thức thăm viếng và đưa Mình Thánh bệnh nhân (x. GL 918; Nghi thức Hiệp lễ và Tôn thờ Thánh Thể ngoài Thánh lễ, 16-50; Nghi thức Xức dầu Bệnh nhân và việc Săn sóc họ theo Mục vụ, 46-47).

Như vậy, thánh Tôma Aquinô giải thích (St. Thomas Aquinas, Summa theologica III, Q. 80, a.), nếu như trong Hội Thánh có hai cách rước lễ là rước lễ thực thụ (in re) và rước lễ thiêng liêng [bằng lòng ước ao] (in voto), thì ứng với việc tham dự vào Hy tế Thánh Thể, tín hữu sẽ lãnh nhận Mình [và Máu Thánh] trong chính Thánh lễ họ tham dự nhằm làm nổi bật sự liên kết giữa việc rước lễ với Hy lễ; còn ứng với việc tham dự Thánh lễ trực tuyến, tức thông hiệp Thánh lễ cách thiêng liêng, thì tín hữu chỉ rước lễ thiêng liêng mà thôi, cho dù trong nhà nguyện có lưu giữ Mình Thánh. Do đó, như cha Edward McNamara đã giải thích, rước lễ trong một Thánh lễ trực tuyến không phải là thực hành phụng vụ đúng đắn.

Nếu muốn rước lễ Bí tích thì có thể thực hiện ngay sau khi Thánh lễ [trực tuyến] kết thúc, hoặc vào một thời điểm thích hợp khác, và luôn tuân theo các nghi lễ đã được Giáo hội phê chuẩn liên quan đến thực hành cho rước lễ ngoài Thánh lễ. Giáo hội có hai hình thức tương tự nhưng khác nhau của nghi lễ này: “Nghi lễ cho bệnh nhân rước lễ”, và “Nghi lễ cho rước lễ ngoài Thánh lễ với việc cử hành Lời Chúa”. Trong bối cảnh của một cộng đoàn tu sĩ có Mình Thánh được lưu giữ trong nhà nguyện, nghi lễ thứ hai phải được sử dụng (x. Edward MacNamara).

3. Thừa tác viên có thể đến từng nhà để cho các tín hữu rước Mình Thánh không?

Việc thừa tác viên của Hội Thánh đến từng nhà để cho rước lễ thuộc về thực hành trao Mình Thánh ngoài Thánh lễ. Thực hành này được quy định như sau:

[1] Bộ Giáo Luật (1983):

“Hết sức khuyến khích các tín hữu rước lễ trong chính Thánh Lễ. Tuy nhiên, nếu có người xin với lý do chính đáng, thì có thể cho rước lễ ngoài Thánh Lễ, miễn là giữ các nghi thức phụng vụ”. ( Số 918); “(1) Các Kitô hữu lâm cơn nguy tử, dù vì bất cứ lý do nào, cần được bổ dưỡng bằng việc rước lễ như của ăn đàng; (2) Cho dù ngày ấy họ đã rước lễ rồi, cũng rất nên cho họ rước lễ lần nữa nếu mạng sống của họ bị lâm nguy; (3) Bao lâu cơn nguy tử kéo dài, nên cho họ rước lễ nhiều lần, vào những ngày khác nhau” (Số 921); “Không được khoan giãn việc đem của ăn đàng cho bệnh nhân. Các chủ chăn phải cẩn thận canh chừng để các bệnh nhân được bổ dưỡng khi còn tỉnh trí” (Số 922).

[2] Huấn Thị Rước Lễ và Tôn Thờ Thánh Thể ngoài Thánh Lễ (1973):

Các tín hữu được rước lễ trong Thánh Lễ đang được cử hành, “tuy nhiên, các linh mục không được từ chối cho một tín hữu rước lễ, khi người này vì một lý do hợp pháp xin được rước lễ ngoài Thánh lễ” (số 14); “Có thể cho rước lễ vào bất cứ giờ hay ngày nào. […] Tuy nhiên: a) vào thứ Năm thánh, chỉ có thể cho rước lễ trong Thánh lễ; có thể cho người bệnh rước lễ vào bất cứ giờ nào trong ngày này; b) vào thứ Sáu thánh, chỉ có thể cho rước lễ trong cử hành tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa, có thể cho người bệnh mà không thể tham dự vào cử hành phụng vụ được rước lễ vào bất cứ giờ nào trong ngày này; c) vào ngày thứ Bảy Tuần Thánh chỉ đưa Của Ăn đàng cho người hấp hối” (số 16).

[3] Nghi Thức Xức Dầu Bệnh Nhân và việc Săn Sóc Họ theo Mục Vụ (1972):

“Các vị coi sóc linh hồn phải lo sao cho những người đau yếu và những người già lão, mặc dầu không đau yếu nặng và không đến nỗi nguy tử, được năng rước lễ, hơn nữa được rước lễ hàng ngày khi có thể được, nhất là trong mùa Phục sinh; việc trao Mình Thánh Chúa có thể thực hiện vào bất cứ lúc nào. […] Những người giúp đỡ bệnh nhân và người già cả cũng có thể rước lễ cùng với người mà họ chăm sóc trong cùng một nghi lễ phụng vụ.” (số 46)

Từ những tài liệu đã được trích dẫn, chúng ta nhận ra rằng, theo ý muốn của Hội Thánh, việc trao Mình Thánh Chúa bên ngoài Thánh lễ đòi hỏi phải có lý do chính đáng/ lý do hợp pháp và đòi hỏi này phải được tuân giữ một cách nghiêm ngặt. Lý do chính đáng để cho/ được rước lễ bên ngoài Thánh lễ, các chuyên viên Giáo Luật giải thích: đó là những người không thể tham dự cử hành Thánh Thể do đau bệnh, già yếu hoặc do không có linh mục cử hành Hy lễ Tạ ơn (x. John B. Beal, et al.(eds.), New Commentary on the Code of Canon Law (2000), 1112-13).

Như thế, đối với những người đau bệnh, già yếu, hay đang trong cơn nguy tử, thừa tác viên của Hội Thánh đến từng nhà/ bệnh viện để cho họ rước lễ ngoài Thánh lễ là thực hành bình thường. Nhưng đối với những người mạnh khỏe, Hội Thánh khuyên bảo một cách mạnh mẽ (maxime commendatur) rằng các tín hữu hãy rước lễ trong chính Thánh lễ. Họ chỉ có thể rước lễ ngoài Thánh lễ trong hai trường hợp: [i] khi làm công việc chăm sóc bệnh nhân/ người già yếu và tham dự vào nghi thức trao Mình Thánh Chúa cho những người này; [ii] khi không có linh mục đến dâng lễ, chẳng hạn tại những vùng xa xôi hẻo lánh và đặc biệt vào ngày Chúa nhật, họ quy tụ thành cộng đoàn phụng vụ tại một nơi xứng hợp (nhà thờ/ nhà nguyện) để cùng nhau “Cử hành phụng vụ Lời Chúa và cho rước lễ” dưới sự chủ tọa của một thừa tác viên hợp pháp do thánh chức hay do được Bản quyền cho phép.

Vì thế, hoàn cảnh đại dịch (Covid-19) hiện nay không phù hợp cho việc đi đến từng nhà để cho các tín hữu rước Mình Thánh Chúa. Cụ thể, trong hoàn cảnh này:

1. Về kỷ luật Hội Thánh: Việc các linh mục hoặc thừa tác viên rước Mình Thánh Chúa đi từ nhà này sang nhà khác để trao cho tất cả các tín hữu (cả người đau bệnh và già yếu lẫn những người khỏe mạnh nhưng ngăn trở vì cấm cách do nguy cơ lây nhiễm) không phù hợp “ngôn ngữ phụng vụ” đối với nhu cầu mục vụ bệnh nhân, không xứng hợp với hoàn cảnh đòi buộc để “Cử hành phụng vụ Lời Chúa và cho rước lễ”, cũng không đáp ứng lý do chính đáng vì thiếu linh mục cử hành Hy lễ Tạ ơn. Thực hành này có vẻ mang lại tiện ích cho nhu cầu tạm thời nhưng có nguy cơ đánh mất tính thánh thiêng nền tảng của cử hành bí tích.

2. Về yếu tố xã hội: Việc các linh mục hoặc thừa tác viên đi đến từng nhà và đi nhiều nhà có thể cản trở qui định cách ly xã hội để phòng tránh lây nhiễm cộng đồng. Thực hành này có vẻ đáp ứng giãn cách xã hội khi không tập trung đông người nhưng có nguy cơ lây nhiễm cộng đồng, gây hoang mang đối với những cộng đồng dân cư chung quanh.

3. Về nguyên tắc luân lý: Việc các linh mục hoặc thừa tác viên đi đến từng nhà và đi nhiều nhà trong giai đoạn tạm dừng các cử hành cộng đồng/ tập trung tại giáo xứ vì nguy cơ lây nhiễm không đáp ứng nguyên tắc “ad impossibilia nemo tenetur” (nghĩa là không ai bị bó buộc làm điều bất khả). Sáng kiến tổ chức cho các tín hữu rước Mình Thánh Chúa tại nhà có thể dẫn đến tình trạng lây nhiễm cho chính thừa tác viên. Hơn nữa, xét về đức ái, thực hành này có thể không phải là chọn lựa tốt hơn so với việc khích lệ các tín hữu tham dự Thánh lễ trực tuyến và rước lễ thiêng liêng vì chúng ta biết rằng tín hữu nào đã chuẩn bị tâm tình xứng đáng, thì tuy không lãnh Bí tích thực sự (in re) họ vẫn nhận được những công hiệu của Bí tích đó do lòng ước ao muốn lãnh nhận (in voto). Khao khát Chúa Kitô cũng chính là hiệp thông với Ngài. 

Nguồn: https://hdgmvietnam

Scroll to Top